Luận án: Hoạt động của Đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào (1959-1975) - Lê Văn Phong

Nghiên cứu chuyên sâu luận án tiến sĩ về hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào giai đoạn 1959-1975. Phân tích vai trò, đóng góp và ý nghĩa

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

254
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào

Đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Lào là lực lượng đặc biệt được Đảng và Nhà nước Việt Nam cử sang giúp cách mạng Lào trong giai đoạn 1959-1975. Hoạt động này nằm trong khuôn khổ liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào, xuất phát từ truyền thống đoàn kết lâu đời giữa hai dân tộc. Bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ phức tạp. Đế quốc Mỹ tiến hành can thiệp quân sự sâu rộng vào Lào, âm mưu biến Lào thành bàn đạp chống phá cách mạng Việt Nam và toàn bộ Đông Dương. Trước tình hình đó, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào đã thống nhất chủ trương tăng cường hợp tác quân sự. Các đoàn chuyên gia quân sự được thành lập với nhiệm vụ giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang, đào tạo cán bộ, chỉ huy tác chiến và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Từ Đoàn chuyên gia quân sự đầu tiên đến các đoàn quy mô lớn hơn như Đoàn 463, lực lượng này đã đóng vai trò then chốt trong việc giúp cách mạng Lào giành thắng lợi. Hoạt động của các đoàn chuyên gia phản ánh sâu sắc mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào.

1.1. Bối cảnh lịch sử ra đời các đoàn chuyên gia

Cuối thập niên 1950, Mỹ đẩy mạnh can thiệp vào Lào thông qua chiến lược chiến tranh đặc biệt. Tình hình khu vực Đông Nam Á đầy biến động. Mỹ viện trợ cho lực lượng phản động Lào, xây dựng quân đội tay sai, đe dọa trực tiếp đến hòa bình và độc lập của nhân dân Lào. Trước yêu cầu cấp thiết của cách mạng Lào, Đảng Lao động Việt Nam quyết định cử các đoàn chuyên gia quân sự sang giúp bạn. Quyết định này phù hợp với chủ trương quốc tế vô sản và truyền thống đoàn kết Việt-Lào. Các đoàn chuyên gia ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hợp tác quân sự giữa hai nước, tạo tiền đề cho những thắng lợi to lớn sau này.

1.2. Vai trò của truyền thống đoàn kết Việt Lào

Mối quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam-Lào có lịch sử hàng trăm năm, được hun đúc qua nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Trước năm 1959, nhân dân hai nước đã cùng nhau chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc. Truyền thống này là nền tảng vững chắc cho hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự. Sự gắn bó máu thịt giữa hai dân tộc vượt qua mọi khoảng cách địa lý, ngôn ngữ và văn hóa. Quân tình nguyện Việt Nam và cách mạng Lào luôn sát cánh bên nhau trên mọi chiến trường. Tinh thần đoàn kết đặc biệt này trở thành sức mạnh to lớn, giúp các đoàn chuyên gia hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả tại Lào.

II. Phân tích hoạt động đoàn chuyên gia quân sự giai đoạn 1959 1968

Giai đoạn 1959-1968 là thời kỳ cách mạng Lào đối mặt với chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn. Địa hình Lào chủ yếu là núi cao, rừng rậm, giao thông cách trở. Địch sử dụng ưu thế về không quân và vũ khí hiện đại để đàn áp lực lượng cách mạng. Trước tình hình đó, các đoàn chuyên gia đã giúp Lào xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang từ cấp trung đoàn đến cấp tiểu đoàn. Công tác huấn luyện quân sự, đào tạo cán bộ chỉ huy được tiến hành thường xuyên. Chuyên gia Việt Nam giúp bộ đội Lào nắm vững nghệ thuật quân sự, kỹ thuật chiến đấu và tổ chức hậu cần. Đặc biệt, các đoàn chuyên gia góp phần xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân đánh giặc. Kết quả quan trọng nhất là giúp cách mạng Lào đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Giơ-ne-vơ năm 1962.

2.1. Thành lập và tổ chức các đoàn chuyên gia quân sự

Quá trình thành lập các đoàn chuyên gia quân sự diễn ra theo từng bước, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Đoàn chuyên gia đầu tiên được cử sang Lào với quy mô nhỏ, chủ yếu giúp đỡ về mặt quân sự cơ bản. Đến tháng 4/1963, Đoàn chuyên gia quân sự 463 được thành lập để giúp Quân khu Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng. Đoàn trưởng là Trung tá Nguyễn Bình Sơn, Chính ủy là Thiếu tá Lê Văn. Tổ chức Đoàn bao gồm các chuyên gia giúp Tư lệnh, Chính ủy, Chủ nhiệm Hậu cần Quân khu và các đơn vị trực thuộc. Mô hình tổ chức này được nhân rộng sang nhiều quân khu khác, tạo thành hệ thống chuyên gia quân sự hoàn chỉnh trên toàn lãnh thổ Lào.

2.2. Đóng góp trong xây dựng lực lượng vũ trang Lào

Các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp cách mạng Lào xây dựng lực lượng vũ trang từ con số nhỏ bé ban đầu trở thành đội quân có tổ chức, kỷ luật và khả năng chiến đấu cao. Chuyên gia Việt Nam trực tiếp huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật cho các tiểu đoàn bộ binh, pháo binh và lực lượng đặc công. Công tác đào tạo cán bộ được đặc biệt coi trọng. Nhiều sĩ quan Lào được bồi dưỡng về nghệ thuật quân sự, khả năng tham mưu và chỉ huy tác chiến. Nhờ đó, lực lượng vũ trang Lào từng bước trưởng thành, đủ sức tổ chức những trận đánh lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất quan trọng.

III. Hoạt động đoàn chuyên gia trong giai đoạn 1969 1975

Giai đoạn 1969-1975 đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Mỹ chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường, sử dụng quân đội Sài Gòn và lực lượng tay sai Lào kết hợp với không quân Mỹ tiến hành các cuộc hành quân quy mô lớn. Điển hình là cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Trước tình hình mới, các đoàn chuyên gia đã điều chỉnh phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng tham mưu và chỉ huy tác chiến. Chuyên gia Việt Nam giúp Lào tổ chức các chiến dịch lớn, phối hợp chặt chẽ với bộ đội Việt Nam trong những trận đánh quyết định. Chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971 là minh chứng hùng hồn cho thắng lợi của liên minh chiến đấu Việt-Lào. Các đoàn chuyên gia còn giúp Lào nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang về mọi mặt, từ chính trị, quân sự đến hậu cần kỹ thuật, chuẩn bị cho giai đoạn tổng phản công cuối cùng.

3.1. Đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường

Từ năm 1969, Mỹ thay đổi chiến lược tại Lào, tăng cường sử dụng quân đội tay sai kết hợp với lực lượng không quân và pháo binh hiện đại. Chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường đặt ra thách thức lớn cho cách mạng Lào. Các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh phương pháp tác chiến, giúp Lào tổ chức phòng ngự vững chắc và tiến công chủ động. Đặc biệt, trong chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm 1971, chuyên gia Việt Nam đã tham mưu và chỉ huy phối hợp tác chiến hiệu quả, đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Thắng lợi này có ý nghĩa chiến lược, bảo vệ vững chắc đường mòn Hồ Chí Minh.

3.2. Nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang cách mạng Lào

Trong giai đoạn 1969-1975, các đoàn chuyên gia tập trung nâng cao chất lượng toàn diện lực lượng vũ trang Lào. Về chính trị, chuyên gia giúp xây dựng bản lĩnh cách mạng, tinh thần quyết chiến quyết thắng cho cán bộ chiến sĩ. Về quân sự, công tác huấn luyện được đổi mới theo hướng hiện đại, phù hợp với đặc điểm địa hình và đối tượng tác chiến. Về hậu cần kỹ thuật, chuyên gia giúp Lào tổ chức hệ thống bảo đảm hậu cần hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh kéo dài. Nhờ đó, lực lượng vũ trang Lào trưởng thành vượt bậc, đủ sức phối hợp với bộ đội Việt Nam tiến hành các chiến dịch quy mô lớn.

IV. Bài học kinh nghiệm từ hoạt động đoàn chuyên gia quân sự

Hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào giai đoạn 1959-1975 để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Bài học đầu tiên là sự cần thiết của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt-Lào. Mối quan hệ này được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa và lý tưởng cách mạng chung, là yếu tố quyết định thành công của mọi hoạt động hợp tác. Bài học thứ hai liên quan đến phương pháp giúp đỡ quốc tế. Chuyên gia Việt Nam luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền của bạn, giúp bạn tự lực cánh sinh chứ không làm thay. Phương pháp này giúp cách mạng Lào trưởng thành nhanh chóng. Bài học thứ ba là sự kết hợp chặt chẽ giữa giúp đỡ quân sự với xây dựng chính trị, phát triển kinh tế-xã hội. Các đoàn chuyên gia không chỉ lo nhiệm vụ quân sự mà còn quan tâm đến đời sống nhân dân Lào. Những bài học này có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, vận dụng được vào công tác đối ngoại và hợp tác quốc phòng ngày nay.

4.1. Kinh nghiệm về phương pháp giúp đỡ quốc tế

Một trong những bài học quan trọng nhất từ hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự tại Lào là phương pháp giúp đỡ quốc tế đúng đắn. Chuyên gia Việt Nam luôn xác định giúp Lào tự lực cánh sinh, xây dựng nội lực là chính. Không làm thay, mà hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm để bạn tự tổ chức và chỉ huy. Phương pháp vừa đánh vừa rút kinh nghiệm được áp dụng hiệu quả. Chuyên gia luôn tôn trọng phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa và trình độ nhận thức của cán bộ chiến sĩ Lào. Cách tiếp cận nhân văn này tạo niềm tin vững chắc giữa hai bên, giúp công việc đạt hiệu quả cao.

4.2. Giá trị vận dụng trong hợp tác quốc phòng hiện nay

Những bài học từ hoạt động đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào có giá trị vận dụng to lớn trong hợp tác quốc phòng Việt-Lào hiện nay. Mô hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự cần được kế thừa và phát triển. Phương pháp giúp đỡ quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau tiếp tục được áp dụng. Kinh nghiệm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp quân sự với kinh tế-xã hội rất có ý nghĩa. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết đặc biệt Việt-Lào mãi mãi là tài sản quý báu, nền tảng vững chắc cho quan hệ hợp tác quốc phòng hai nước trong thời kỳ mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận án tiến sĩ lịch sử hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự việt nam tại lào từ năm 1959 đến năm 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, 2 và 3, tác giả đã nêu bật tình đoàn kết chiến đấu giữa quân dân hai nước chống Mỹ xâm lược và kết quả của tình đoàn kết chiến đấu giành được là giải phóng hoàn đất nước, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của hai dân tộc Việt - Lào. Trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là một biểu tượng sinh động. Với ý nghĩa đó, năm 2007, bài viết Đường Hồ Chí Minh - Biểu tượng của tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của tác giả Nguyễn Văn Nhật, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7 (tr.3-9), đã làm rõ quá trình ra đời, xây dựng và phát triển của đường Hồ Chí Minh, đặc biệt là quá trình đường Hồ Chí Minh lật cánh sang phía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào, được quân dân Lào hết lòng ủng hộ, giúp đỡ phát triển tuyến đường, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân dân Lào anh em. 8 Năm 2012, Nxb Thanh Hóa ấn hành cuốn Thanh Hóa với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn (1930-2010), đã đề cập mối quan hệ toàn diện giữa hai tỉnh qua các thời kỳ lịch sử: Thanh Hóa - Hủa Phăn trong lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước; Thanh Hóa góp phần xây dựng Đảng bộ Lào và phong trào đấu tranh tiến tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945 (1930-1945); Thanh Hóa thực hiện vai trò căn cứ hậu phương với cách mạng Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954); Thanh Hóa thực hiện vai trò căn cứ hậu phương với cách mạng Lào trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975); Thanh Hóa - Hủa Phăn hợp tác, phát triển toàn diện (1975-1995); Thanh Hóa - Hủa Phăn hợp tác phát triển toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2010).

Đặc biệt, trong công trình này, khi mô tả về vai trò căn cứ hậu phương với cách mạng Lào trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) cho chúng ta thấy một góc nhìn mới về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiếp tục khai thác các sự kiện lịch sử ở một địa phương, một khu vực riêng lẻ trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Các sự kiện lịch sử Trung Lào trong quan hệ đặc biệt Việt - Lào, Quảng Trị (9/2009) đã cung cấp nhiều bài viết có giá trị như: Sự đồng tâm, hiệp lực giữa Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Lao động Việt Nam trong bước khởi đầu xác định phương pháp đấu tranh chống đế quốc Mỹ của tác giả Trịnh Nhu; Vị trí của Trung Lào trong chiến lược toàn Lào và mối quan hệ Lào - Việt trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của tác giả Đức Vượng; Quan hệ Việt - Lào trên địa bàn Trung Lào nhìn từ khía cạnh văn hóa và truyền thống đoàn kết đấu tranh trong lịch sử của tác giả Phạm Văn Linh; Vị trí, vai trò của các sự kiện Trung Lào và những đóng góp của quân dân Quân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945- 1975) của tác giả Mai Quang Phấn., một lần nữa cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa Trung Lào với các tỉnh miền Trung của Việt Nam trong tổng thể mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Nổi bật trong nhóm công trình nghiên cứu về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào phải kể đến: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930-2007), Nxb CTQG, Hà Nội, 2011. Đây là sản phẩm chính trong dự án nghiên cứu quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.

Công trình dày 914 trang, là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu của những nhà khoa học Việt Nam và Lào với: Phần thứ nhất, Dưới sự 9 lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân hai nước Việt Nam và Lào phát huy truyền thống đặc biệt, đấu tranh giành độc lập, tự do (1930-1945); Phần thứ hai, liên minh Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975); Phần thứ ba, quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến 2007; Phần thứ tư, thành quả, bài học và triển vọng. Trong phần thứ hai, công trình nêu bật quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội, đặc biệt là trong liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung. Theo đó, bên cạnh lực lượng quân tình nguyện, một số đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào đã được công trình đề cập là một nhân tố quan trọng góp phần xây dựng liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Năm 2012, tác giả Đàm Đức Vượng với cuốn Cay-xỏn Phôm-vi-hản - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb CTQG, Hà Nội, đã khái quát cuộc đời và quá trình hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản từ tuổi ấu thơ đến năm 1992 với các giai đoạn: Tuổi trẻ chí lớn (1920-1945); Tham gia cuộc vận động giải phóng dân tộc (1945-1946); Những năm kháng chiến chống Pháp xâm lược Lào (1946- 1954); Cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955-1975); Cùng Trung ương Đảng lãnh đạo công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước (1975-1992) và cuối cùng viết về Tổng Bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản sống mãi trong lòng nhân dân Lào.

Có thể nói, trong tổng thể mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, Tổng Bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản là biểu tượng của mối quan hệ đặc biệt ấy và luôn dành nhiều tình cảm sâu đậm với quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào. Đối với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, đã nghiên cứu và xuất bản nhiều công trình có giá trị như: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), 9 tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013; Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 11 - Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb CTQG, Hà Nội, 2005; Lịch sử quân sự Việt Nam, Tập 12 - Những nhân tố hợp thành sức mạnh Việt Nam thắng Mỹ, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011. Cùng với đó phải kể đến Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội, 2015. Đây là những công trình không chỉ nêu bật cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam qua các giai đoạn; nêu bật đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng cùng tinh thần đại đoàn kết 10 toàn dân chống Mỹ xâm lược, mà trong các công trình trên đã đề cập sâu sắc sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam; đặc biệt, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia được nhắc đến là một nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân ba nước Đông Dương nói chung.

Cùng với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, sau nhiều năm nghiên cứu, bộ Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện đã hoàn thành, được Nxb KHXH xuất bản trong các năm 2013, 2014, tái bản năm 2017, trong đó Lịch sử Việt Nam Tập 12, Lịch sử Việt Nam Tập 13 viết về giai đoạn 1954-1975, đã phản ánh sự phát triển đầy đủ của cách mạng Việt Nam từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, trong đó cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là một nét đậm trong giai đoạn lịch sử này, đề cập sự phối hợp chiến đấu giữa cách mạng ba nước Đông Dương nói chung và cách mạng hai nước Việt Nam - Lào nói riêng, đặc biệt là sự phối hợp giữa quân đội hai nước trong tổ chức những chiến dịch lớn, tạo nước ngoặt cho cuộc kháng chiến và góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân mỗi nước. * Nhóm công trình nghiên cứu về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Đầu tiên phải kể đến Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983, là tập bài giảng của tác giả Hoàng Văn Thái, khi đó là Đại tướng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng giảng tại lớp nghiên cứu cán bộ trung, cao cấp tổ chức tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, sau đó được hoàn thiện và được Nxb Sự thật ấn hành. Cuốn sách gồm hai phần: Phần thứ nhất, liên minh ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là một tất yếu khách quan, là quy luật tồn tại và phát triển của ba dân tộc; Phần thứ hai, củng cố và tăng cường liên minh ba nước là nhân tố bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của ba nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những cuốn sách quan trọng về liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương nói chung và hai nước Việt Nam - Lào nói riêng; không chỉ cung cấp tư liệu, cuốn sách còn giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc hơn về đặc điểm của liên minh chiến đấu, về một số nguyên tắc chiến lược của liên minh chiến đấu và trách nhiệm của quân đội, của nhân dân Việt Nam trong xây dựng, 11 tăng cường và củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong thời kỳ cách mạng mới.

Được lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu, Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử Chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mỹ ở Lào và sự phá sản của nó (1969-1975) của tác giả Hi-von Xay-kha-vong, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, 1990, đã trình bày âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” và quá trình nhân dân Lào đấu tranh đánh thắng chiến lược chiến tranh đó. Đặc biệt, luận án đã dành nhiều trang viết về sự phối hợp, liên minh chiến đấu giữa Quân đội Giải phóng Nhân dân Lào với quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, đồng thời khẳng định đó là một nhân tố quan trọng dẫn tới sự phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mỹ ở Lào giai đoạn 1969-1975.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ