Nghiên cứu ảnh hưởng của nước dâng do sóng đến biến động bãi biển và giải pháp bảo vệ Cửa Đại Hội An

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích kỹ thuật nghiên cứu ảnh hưởng của nước dâng do sóng đến biến động bãi biển và giải pháp bảo vệ bãi, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Trường Đại Học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

184
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu ảnh hưởng nước dâng do sóng

Nghiên cứu tập trung vào nước dâng do sóng và tác động của nó đến biến động bãi biển tại Cửa Đại Hội An. Nước dâng do sóng là hiện tượng mực nước biển tăng cao do năng lượng sóng truyền vào vùng ven bờ, gây ra xói lở và thay đổi địa hình bãi biển. Nghiên cứu sử dụng các mô hình toán học như SWANXBEACH để mô phỏng quá trình lan truyền sóng và tính toán nước dâng do sóng. Kết quả cho thấy, nước dâng do sóng có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của bãi biển, đặc biệt trong các đợt bão lớn.

1.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình hóa để phân tích nước dâng do sóng. Các số liệu địa hình, thủy văn và hải văn được thu thập từ các trạm đo đạc tại Cửa Đại Hội An. Mô hình SWAN được sử dụng để tính toán lan truyền sóng từ vùng nước sâu vào ven bờ, trong khi mô hình XBEACH được áp dụng để mô phỏng biến động bãi biển. Kết quả mô phỏng được so sánh với dữ liệu thực tế để đảm bảo độ chính xác.

1.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nước dâng do sóng có thể làm tăng mực nước biển lên đến 1.5m trong các đợt bão, gây ra xói lở nghiêm trọng tại các khu vực ven bờ. Đặc biệt, tại bãi Tân Mỹbãi Agribank, hiện tượng xói lở chân đụn cát đã làm thay đổi đáng kể địa hình bãi biển. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc xem xét nước dâng do sóng trong các kế hoạch bảo vệ bờ biển.

II. Biến động bãi biển và xói lở

Nghiên cứu phân tích sự biến động bãi biển tại Cửa Đại Hội An dưới tác động của nước dâng do sóng. Kết quả cho thấy, các đợt bão lớn như bão SARIKADOKSURI đã gây ra xói lở nghiêm trọng, làm thay đổi đáng kể địa hình bãi biển. Hiện tượng xói lở không chỉ ảnh hưởng đến các khu vực tự nhiên mà còn tác động đến các công trình bảo vệ bờ biển, làm giảm hiệu quả của chúng.

2.1. Phân tích biến động mặt cắt ngang

Nghiên cứu tiến hành phân tích biến động mặt cắt ngang bãi biển qua các giai đoạn khác nhau. Kết quả cho thấy, tại các mặt cắt MCN-01MCN-02, hiện tượng xói lở chân đụn cát đã làm giảm chiều rộng bãi biển lên đến 20m. Đặc biệt, trong đợt bão SARIKA, mực nước dâng cao đã gây ra xói lở nghiêm trọng tại bãi Tân Mỹ, làm thay đổi đáng kể địa hình khu vực này.

2.2. Ảnh hưởng đến công trình bảo vệ

Các công trình bảo vệ bờ biển như kè mái nghiêng và đê ngầm đã không phát huy hiệu quả trong các đợt bão lớn. Sóng bão đã vượt qua đỉnh công trình và gây xói lở phía sau, làm giảm tuổi thọ và hiệu quả của các công trình này. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc thiết kế các công trình bảo vệ bờ biển có khả năng chịu được tác động của nước dâng do sóng.

III. Giải pháp bảo vệ bãi biển

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ bãi biển Cửa Đại Hội An dựa trên kết quả phân tích nước dâng do sóngbiến động bãi biển. Các giải pháp bao gồm việc xây dựng các công trình ngăn cát, giảm sóng và tăng cường quản lý bờ biển. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các giải pháp kỹ thuật với quản lý môi trường để đảm bảo tính bền vững.

3.1. Phương án công trình ngăn cát

Nghiên cứu đề xuất phương án xây dựng các công trình ngăn cát như đê ngầm và kè mỏ hàn để giảm thiểu xói lở bãi biển. Các công trình này được thiết kế để giảm năng lượng sóng và ngăn chặn sự di chuyển của cát từ bãi biển ra biển. Kết quả mô phỏng cho thấy, các công trình này có thể giảm đáng kể hiện tượng xói lở tại các khu vực ven bờ.

3.2. Quản lý bờ biển bền vững

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý bờ biển bền vững thông qua việc kết hợp các giải pháp kỹ thuật với quản lý môi trường. Các biện pháp như trồng rừng ngập mặn và hạn chế xây dựng các công trình ven bờ được đề xuất để giảm thiểu tác động của nước dâng do sóng và bảo vệ bãi biển một cách lâu dài.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu ảnh hưởng của nước dâng do sóng đến biến động bãi biển và giải pháp bảo vệ bãi biển cửa đại hội an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NƯỚC DÂNG DO SÓNG VÀ CÔNG TRÌNH BẢO VỆ BỜ BIỂN 1. Khái quát chung về nước dâng do sóng và ảnh hưởng của nước dâng do sóng 1. Các thuật ngữ liên quan đến nước dâng do sóng Nước dâng nói chung có thể xem như sự biến đổi mực nước có chu kỳ dài dưới tác động của gió, khí áp lên một khu vực cụ thể. Nước dâng được hình thành bởi các thành phần như gió, áp suất khí quyển và sóng trong bão.

Nước dâng do bão là hiện tượng mực nước biển dâng cao hơn mức bình thường dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố khí tượng khi có bão. NDDB thường xảy ra trên một đoạn bờ biển khoảng 100 dặm hoặc hơn. Mặc dù tần suất xuất hiện không nhiều nhưng nó lại rất nguy hiểm do mực nước thường dâng cao và bất ngờ, gây hậu quả nghiêm trọng cho khu vực ven biển. Nước dâng do sóng là sự tăng lên của mực nước trung bình do sự truyền của năng lượng sóng lên cột nước trong quá trình truyền sóng và đặc biệt là quá trình sóng đổ.

Các nghiên cứu về lý thuyết cũng như mô hình số trị cho thấy, nước dâng do sóng có độ lớn đáng kể tại vùng nước nông ven bờ do độ sâu giảm. Theo các đánh giá khác nhau, khoảng thời gian tối thiểu để hình thành nước dâng do sóng là 1 giờ. Trong các cơn bão, thời gian kéo dài nước dâng do sóng trùng với thời gian của sóng bão và tồn tại trong nhiều giờ. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh sự đóng góp đáng kể của nó vào mực nước cực trị trong bão tại các điểm ven bờ [11].

Trong những đợt gió mùa mạnh, nước dâng do sóng có thể kéo dài đến hàng ngày [12].1 Sơ đồ mô tả các thuật ngữ về nước dâng do bão, nước dâng do sóng. 7 Đối với bãi biển tự nhiên, những biến đổi của mực nước và đặc trưng sóng có thể dẫn đến những biến đổi của mặt cắt ngang cũng như hình dạng bãi biển. Hệ quả quan trọng nhất là hiện tượng xói lở bờ. Trong trường hợp sóng bão, sự biến đổi của mặt cắt ngang bão biển là đáng kế và đòi hỏi một khoảng thời gian dài mới có thể phục hồi được [13].

Phạm vi ảnh hưởng và tác động của nước dâng do sóng tới bãi biển Phạm vi ảnh hưởng của nước dâng do sóng tới bãi biển thường trong khu vực nước nông ven bờ, khu vực chịu tác động mạnh nhất thuộc vùng sóng tràn (Swash zone), đây là một khu vực có biến động mạnh và có chế độ thủy động lực rất phức tạp.2 Hình thái bãi biển [14].2 chỉ ra các khái niệm cơ bản, thành phần cấu tạo của địa hình bờ biển. Bờ phía trong là vùng phía trong của bãi biển hoặc bờ biển có ranh giới từ vị trí mực nước cao trung bình đến rãnh xói của đụn cát; Bờ phía ngoài là vùng có ranh giới từ vị trí mực nước trung bình cao nhất đến vị trí mực nước trung bình thấp nhất, vùng này bao gồm đới sóng vỡ và vùng sóng tràn; Đới sóng vỡ là vùng có ranh giới từ mực nước trung bình thấp nhất đến vị trị trí sóng vỡ hoàn toàn; Vùng sóng tràn là khu vực sóng tràn lên bãi sau khi vỡ hoàn toàn; Vùng sóng vỡ của bờ là vùng phía trong của đới sóng vỡ ngoài, có giới hạn là vị trí mực nước thấp nhất; Đới sóng vỡ ngoài là vùng có ranh giới từ khi sóng đổ lần đầu đến vị trí ngoài của đới sóng vỡ ngoài. Vùng sóng đổ là khu vực từ giới hạn ngoài của đới sóng đổ và điểm sóng bổ nhào. 8 Trong các nghiên cứu của Butt & Russell (1999), Masselink & Puleo (2006), Bakhtyar et al (2009) đã chứng minh rằng vùng sóng tràn là khu vực biến động nhất trong khu vực gần bờ và nó được đặc trưng bởi dòng chảy mạnh và không ổn định, mức biến động cao, vận chuyển bùn cát diễn ra mạnh mẽ gây thay đổi hình thái bãi biển trong một khoảng thời gian nhỏ [15], [16], [17].

Nghiên cứu của Short (1999) đã mô tả hai đặc điểm bổ sung làm cho hình thái động lực vùng sóng tràn độc đáo so với phần còn lại của bãi biển. Thứ nhất là độ sâu nước trong sóng tràn có thể rất nhỏ, đặc biệt trong pha nước đi xuống, dẫn đến một tình huống dòng chảy phức tạp. Thứ hai, một phần của đáy trong vùng sóng tràn là không bão hòa gây nên sự xâm nhập của nước ở phía dưới đáy, đây là một khía cạnh quan trọng liên quan đến vận chuyển bùn cát [18]. Đối với bãi biển cát, hình dạng của bãi biển thay đổi liên tục dưới tác động của sóng gió và dòng chảy và đặc biệt là thay đổi đáng kể trong thời gian xảy ra bão.

Một cơn bão có thể làm xói lở mạnh chân và sườn ngoài của cồn cát và đưa phần lớn lượng cát bị xói lở ở chân và sườn ngoài ra khu vực gần bờ tạo thành các bar, làm phẳng bãi biển và khiến nó rộng hơn. Mất cát từ một đụn cát dưới sự tác động của sóng, chủ yếu do quá trình tạo rãnh, sạt lở và sụt lún.3 Cơ chế phá hủy đụn cát ven bờ [19]. Sự tác động của NDDS vào các đụn cát có thể làm một phần của mặt ngoài đụn cát bị sụp đổ hoặc cũng có thể tạo ra một vết nứt sâu ở chân đụn cát dẫn đến sự sụp đổ của cả mảng đất cát phía trên đụn cát, bắt đầu bởi sự nứt do kéo ở bề mặt trên cùng của cồn cát, 9 sau đó là sự cố trượt dọc theo mặt phẳng hư hỏng bên trong hoặc bị lật do trọng lượng của phần nhô ra. Lớp trầm tích bị sụt này sẽ trượt xuống dưới, nơi nó có thể bị xói mòn thêm lần nữa bởi các quá trình do sóng gây ra.

Sau đó, trầm tích được vận chuyển ra biển, nơi nó sẽ lắng xuống ở vùng nước sâu hơn phía ngoài tạo thành các bar chắn phía ngoài. Ngoài tác động gây xói lở bãi biển, hiệu ứng NDDS tại các bãi biển có độ dốc khác nhau có thể gây ra hiện tượng dòng Rip, là nguyên nhân của các vụ đuối nước của người dân cũng như du khách tắm biển, nghỉ dưỡng. a) Nước dâng vươn phía trên b) Tác động bào mòn mặt bãi c) Nước rút mang bùn cát các đụn cát và phá hủy chân đụn cát khỏi vị trí ban đầu Hình 1.4 Hình ảnh minh họa tác động NDDS đến xói lở chân đụn cát tại bãi Tân Mỹ, Cửa Đại trong đợt bão tháng 10/2016. Tổng quan các nghiên cứu về nước dâng do sóng trên thế giới Trên thế giới, nước dâng do sóng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm 1960 sau lý thuyết ban đầu được nghiên cứu của Longuet-Higgins (1962) và Longuet-Higgins và Stewart (1963, 1964) [20], [21], [22].

Các nghiên cứu này lần đầu đưa ra khái niệm về ứng xuất bức xạ và mối quan hệ với NDDS tại các điểm ven bờ.5 Ứng suất bức xạ sóng [23]. 10 Ứng suất bức xạ được đưa ra như sau: 1 Sxx = E(ncos 2 θ + n − ) (1. 2) 2 E Sxy = Syx = sin2θ (1. 3) 2 trong đó: Sxx, Syy, Sxy, Syx là các thành phần của ứng suất bức xạ theo các hướng x và y; E là mật độ năng lượng sóng, n là tỉ số giữa vận tốc nhóm sóng và vận tốc sóng;  là góc giữa hướng sóng và trục x.

Nếu không xét đến tác động của ứng suất gió thì sự biến đổi của mực nước trong một chu kỳ sóng được đưa ra như sau: ∂(η̅) 1 ∂Sxx ∂Sxy (1. 5) ∂y ρg(h + η̅) ∂y ∂x trong đó, là thành phần nước dâng do ứng suất sóng,  là mật độ nước biển, g là gia tốc trọng trường, h là độ sâu, bx, by là ứng suất đáy theo hướng x, y. Trong trường hợp đơn giản khi sóng truyền vuông góc với hướng bờ và bỏ qua ứng suất mặt và ứng suất đáy. Khi đó sự biến đổi của mực nước trung bình theo phương vuông góc với bờ được đưa ra như sau: ∂(η̅) 1 ∂Sxx (1.

7) 2g Trong đó,u2 vàw2 lần lượt là giá trị tốc độ quỹ đạo sóng trung bình phương ngang và phương thẳng đứng theo thời gian. Phương trình 1.7 là một dạng của phương trình Bernoulli cho dòng chảy không ổn định 11 và với giả thiết là không có biến động mực nước trung bình gây ra bởi sóng tại vùng nước sâu (C = 0) và khi đó nước dâng do sóng có giá trị âm (wave setdown) và được đưa ra như sau: Hb2 k b η ̅̅̅b = − (1. 8) 8sin2k b hb trong công thức (1.8): Hb và kb là độ cao sóng và số sóng tại điểm sóng đổ. Đối với điều kiện nước nông và giới hạn độ sâu sóng đổ (Hb =  (h + )), ta có: 𝜅Hb η ̅̅̅b = − (1.

10) 16 3κ2 (1 + ) 8 Có thể thấy rằng, giá trị của nước dâng do sóng phụ thuộc vào chỉ số sóng vỡ κ, giá trị này phụ thuộc vào độ dốc của địa hình đáy biển và các thông số sóng ngoài khơi. Nghiên cứu của Holman R. A (1990), đã sử dụng các dữ liệu đo đạc và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, khẳng định về cấu trúc của trường mực nước, ở vùng sóng không đổ nhào quan sát thấy sự hạ thấp mực nước, còn ở vùng sóng vỗ bờ sự dâng lên. Hơn nữa giữa lý thuyết và thực nghiệm trùng hợp với nhau về định lượng [24], [25].

Lý thuyết Longuet-Higgins − Stewart tỏ ra phù hợp để giải thích sự hình thành của hiện tượng rút và dâng nước do sóng, cũng như giải thích cơ chế hình thành các mạch động vỗ bờ ở đới ven bờ [21]. Bowen và nnk (1968), đã tiến hành một thí nghiệm để kiểm tra lý thuyết này, đã mô phỏng quá trình sóng tràn vào bờ và bị phá hủy ở đới sóng vỗ bờ, kết quả của thí nghiệm được thể hiện trên hình 1. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự phù hợp rất tốt giữa tính toán lý thuyết và dữ liệu thực nghiệm. Ngoài ra có thể thấy rằng từ lý thuyết, bên ngoài 12 vùng sóng vỗ bờ đã quan sát thấy sự hạ thấp mực nước (nước rút do sóng), còn trong vùng sóng vỗ bờ đã quan sát thấy hiện tượng nước dâng [26].6 Trắc diện mực nước sóng (a) và độ cao sóng (b) theo dữ liệu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm của [26].

Tiếp theo đã có nhiều nghiên cứu về NDDS theo hướng thực nghiệm hiện trường tại các bãi biển phẳng với độ dốc nhỏ đến những bãi biển phức tạp như cửa sông, vũng, vịnh trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng nước dâng do sóng đến biến động bãi biển và giải pháp bảo vệ Cửa Đại Hội An là một tài liệu chuyên sâu phân tích tác động của hiện tượng nước dâng do sóng lên sự biến đổi bãi biển tại khu vực Cửa Đại, Hội An. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp bảo vệ bờ biển hiệu quả, giúp giảm thiểu rủi ro do xói lở và bảo tồn cảnh quan tự nhiên. Đây là nguồn thông tin quý giá cho các nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng địa phương trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường ven biển.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp bảo vệ bờ biển, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng công trình thủy đánh giá tổng kết các công trình bảo vệ bờ và đê biển đề xuất giải pháp công trình bảo vệ cho đoạn đê biển huyện tĩnh gia tỉnh thanh hóa. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến quản lý tài nguyên nước, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn thành phố vĩnh yên tỉnh vĩnh phúc là một tài liệu hữu ích. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành xây dựng công trình thủy đề xuất giải pháp bảo vệ đoạn sông cong chịu ảnh hưởng thủy triều cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về các giải pháp kỹ thuật trong bảo vệ môi trường nước.