CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH 1. Các nghiên cứu về mô hình Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về TĐTC, trong đó tập trung vào các loại mô hình TĐTC đặc trưng theo từng khu vực như Mỹ, các nước Châu Âu, Châu Á (điển hình như Nhật, Trung Quốc,…): - Năm 1990, Richard J.
Herring thông qua nghiên cứu The Corporate Structure of Financial Conglomerates [136] đã đi xem xét các vấn đề chính sách của Chính phủ liên quan đến cấu trúc tổ chức thích hợp của một TĐTC cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản cùng với các dịch vụ tài chính khác. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cơ chế hoạt động của ngân hàng ở Mỹ phải được đặt trong bối cảnh cạnh tranh với các TĐTC. - Năm 1995, Merton trong “A Functional Perspective of Financial Intermediation” [128] đã đưa ra lý thuyết về sự hình thành TĐTC. Ông nói rằng các trung gian tài chính thực hiện chức năng phân bổ và triển khai các nguồn lực kinh tế.
Theo thời gian, phương thức và tổ chức thực hiện các chức năng này có thể thay để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong đó, những thay đổi rõ nét nhất là sự phát triển lý thuyết tài chính, đổi mới tài chính, đổi mới công nghệ và tự do hóa cả trong và ngoài biên giới (Allen và Santomero, 1999 và Borio and Filosa, 1994). - Năm 2000, Skipper đưa ra ba cấu trúc cho các TĐTC trong nghiên cứu “Financial Services Integration Worldwide: Promises and Pitfalls” [137]. Đầu tiên là mô hình ngân hàng đa năng sở hữu các công ty con cung cấp dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác.
Ngân hàng toàn cầu đảm nhận cả hoạt động NHTM và hoạt động chứng khoán. Mô hình thứ hai là mô 6 hình công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc ngân hàng và sở hữu các công ty con có vốn hóa riêng biệt hoạt động trong các dịch vụ tài chính khác nhau. Mô hình thứ ba là cấu trúc công ty cổ phần, trong đó hoạt động của một công ty mẹ nắm giữ giới hạn cổ phần. Mô hình ngân hàng đa năng phổ biến ở châu Âu, trong khi mô hình công ty cổ phần phổ biến ở Mỹ và Nhật Bản.
- Năm 2008, Li Guo trong nghiên cứu “Financial Conglomerates in China: Legality, Model and Concerns” [131] đã đề cập đến khung pháp lý và mô hình TĐTC ở Trung Quốc trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước của Trung Quốc. Vấn đề nổi bật trong nghiên cứu này về TĐTC là nguyên tắc quy định trong các Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm và Luật Ngân hàng thương mại của Trung Quốc. Theo đó, các doanh nghiệp kinh doanh một trong ba lĩnh vực tài chính không được phép đầu tư sang hai lĩnh vực còn lại, nhưng lại cho phép các doanh nghiệp phi tài chính có thể đầu tư vào các lĩnh vực này. Bên cạnh khung pháp lý quy định về hoạt động của TĐTC, nghiên cứu cũng làm rõ hai mô hình TĐTC thông dụng là mô hình TĐTC đa năng (Universal Banking) và mô hình TĐTC Holding (The Financial Holding Company), cũng như phân tích các ưu, nhược điểm khi áp dụng hai mô hình này vào các TĐTC ở Trung Quốc.
Từ đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị việc áp dụng mô hình phù hợp trong từng giai đoạn: giai đoạn đầu nên áp dụng mô hình holding, dần dần tiến tới áp dụng theo mô hình TĐTC đa năng trong giai đoạn tái cơ cấu và chuyển đổi các NHTM Nhà nước sang hoạt động theo hình thức tư nhân. - Năm 2008, Kuhara Masaharu nghiên cứu “US and European Financial Conglomerate Organizations and their Implications for Japan and Other Large Diversified Financial Firms in Asia” [124] đã trình bày về các mô hình TĐTC truyền thống của Châu Âu và Mỹ, theo đó chủ yếu gồm có 3 mô hình chính là mô hình ngân hàng đa năng, mô hình holding mà 7 công ty mẹ đầu tư vốn vào các công ty con và mô hình công ty mẹ kinh doanh một trong những ngành chính là ngân hàng, chứng khoán hoặc bảo hiểm. Nghiên cứu chỉ ra rằng quản lý hiệu quả là rất quan trọng đối với một TĐTC do tính chất phức tạp của hoạt động và quy mô lớn. Nghiên cứu cũng cho thấy việc áp dụng một mô hình quản lý TĐTC của Mỹ hoặc Châu Âu vào Nhật hay các nước Châu Á khác là không phù hợp mặc dù mô hình đó đang hoạt động tốt ở Mỹ.
Điều này là do có sự khác biệt trong môi trường cạnh tranh và các quy định pháp lý, khả năng lãnh đạo, quản lý. Do đó cần phải có ứng dụng phù hợp và linh hoạt. Một số nghiên cứu phân tích các xu hướng phát triển trong vài ba thập kỷ gần đây như việc phát triển nhanh các định chế tài chính/ngân hàng đa năng, các nước đang phát triển ngày càng mở cửa thị trường tài chính, luồng vốn chuyển dịch ngược từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển …. (chẳng hạn nghiên cứu của Beim David O.
Calomiris (2001); Fabozzi Frank J. Và Franco Modigliani (2003) [105]; Eichengreen, Barry (2004),. Các nghiên cứu trong nước thời gian qua tập trung nhiều vào nghiên cứu về mô hình TĐKT Nhà nước ở Việt Nam nhằm đánh giá lại việc thí điểm thành lập các TĐKT Nhà nước trong giai đoạn trước đó, cũng là thời điểm Việt Nam mới tiếp cận với mô hình hoạt động của TĐKT không lâu nên vẫn còn trong giai đoạn mới mẻ cần nghiên cứu. Mô hình TĐTC ở Việt Nam cũng mới chỉ được nhắc đến thông qua các nghiên cứu cụ thể đối với các NHTM cổ phần theo xu hướng mong muốn chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐTC, hoặc các trường hợp doanh nghiệp kinh doanh hai trong 3 lĩnh vực tài chính.
Cụ thể: - Năm 2007, Đề tài luận án “Phân tích mô hình và cấu trúc Tập đoàn Tài chính – ngân hàng, ứng dụng vào ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức” [16] của Hoàng 8 Xuân Thành đã đi phân tích các yêu tố chủ yếu của mô hình TĐTC – ngân hàng và cấu trúc tổ chức của mô hình tập đoàn, để áp dụng cho BIDV trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức. - Năm 2008, LATS của Nguyễn Đức Hưởng, Học viện Ngân hàng “Chuyển ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam thành tập đoàn tài chính” [29] đã đi nghiên cứu cụ thể việc chuyển đổi mô hình của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản về TĐTC và nghiên cứu mô hình điển hình mang tính phổ biến mà các TĐTC thế giới hiện nay đang áp dụng. Phân tích đánh giá thực trạng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như những điều kiện để chuyển đổi.
Trên cơ sở đó, Luận án khẳng định sự cần thiết phải chuyển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành TĐTC trong tương lai, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp chủ yếu để chuyển đổi theo hướng nền kinh tế đổi mới của Việt Nam. - Năm 2008, LVThS của Trần Ái Phương “Giải pháp thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng theo định hướng hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng tại Việt Nam”[74]. Mặc dù luận văn đi vào nghiên cứu về giải pháp M&A đối với ngân hàng nhưng cũng đã thể hiện một xu hướng hình thành TĐTC ngân hàng ở Việt Nam từ thời điểm đó, thông qua hình thức M&A. - Năm 2012, LATS của Ngô Văn Tuấn đề cập đến chuyển đổi các NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh sang hoạt động theo mô hình TĐTC trong Luận án “Xây dựng Tập đoàn Tài chính ngân hàng từ ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh”[28].
Trong đó, nội dung của luận án tập trung vào các vấn đề về cơ cấu tổ chức, nhân sự, năng lực tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin và tính pháp lý để các NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố có thể chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình TĐTC. Các nghiên cứu về cơ chế quản lý, giám sát tài chính trong Tập đoàn Tài chính trong và ngoài nước Thứ nhất, trên thế giới các vấn đề về QLTC liên quan tới TĐTC đã được nghiên cứu tương đối nhiều dưới các giác độ khác nhau với các mức độ chuyên sâu khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu về giám sát tài chính đối với TĐTC. - Năm 1995, “The supervision of financial conglomerates” [139], của Tripartite Group, tập trung nghiên cứu các vấn đề giám sát tài chính đặt ra cho TĐTC hoạt động chủ yếu ít nhất trong hai lĩnh vực tài chính khác nhau mà không nói đến các vấn đề giám sát phát sinh trong trường hợp tập đoàn hỗn hợp, cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính.
Báo cáo đưa ra việc giám sát hợp nhất và giám sát đơn lẻ theo ba lĩnh vực chính: giám sát liên quan đến an toàn vốn đối với công ty mẹ; giám sát trách nhiệm của các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn; quyền hạn trong giám sát xét trong cấu trúc tập đoàn nhằm thu thập thông tin về cơ cấu quản lý, pháp lý, hạn chế sự ảnh hưởng của cấu trúc tập đoàn đến hoạt động giám sát. Báo cáo kết luận cần thiết phải có sự phối hợp sâu trong giám sát giữa ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Cần kết hợp giữa giám sát hợp nhất ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm với giám sát đơn lẻ trong từng lĩnh vực. Jackson [116] cho thấy việc điều tiết của TĐTC dạng Holding rất đa dạng và được quản lý bởi một số văn bản pháp lý, trong đó tập trung vào 5 vấn đề: 1) đảm bảo khả năng thanh toán; 2) ngăn chặn sự phá vỡ hệ thống; 3) ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ sự cạnh tranh trong tín dụng và thị trường vốn; 4) định mức về tái phân phối; và 5) sử dụng quy chế tài chính thông qua hệ thống pháp lý để nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị, như các quy định hạn chế sở hữu nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước hoặc mở rộng phạm vi của ngân hàng đô thị tại khu vực nông thôn.