mở đầu cho sự khai sinh của Thị trường chứng khoán Việt Nam, trải qua khoảng thời gian là 11 20 năm hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua khá nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng cũng đang phát triển ngày càng mạnh mẽ với 2 Sở giao dịch chứng khoán Tp. Thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự bùng nổ vào năm 2007, Luật chứng khoán được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007, là bước đột phá thu hút các tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường và tăng cường sự hội nhập quốc tế. Nhiệm vụ năm 2019 đã được Ủy ban chứng khoán nhà nước đề ra bao gồm tiếp tục triển khai hiệu quả công tác phát triển theo chiều sâu và kiên trì công tác tái cấu trúc thị trường chứng khoán; bảo đảm duy trì sự ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán; tiếp tục phát triển các sản phẩm mới cho TTCK phái sinh, triển khai thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường hội nhập quốc tế, triển khai, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và các giải pháp nhằm nâng hạng TTCK.
Ngày 28/2/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”. Mục tiêu chung của Đề án là tiếp tục cơ cấu lại toàn diện để thị trường chứng khoán trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, xây dựng cơ cấu hợp lý, cân bằng giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, giữa thị trường cổ phiếu và trái phiếu, giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; hỗ trợ tích cực quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân; tăng cường mở cửa và hội nhập với thị trường khu vực và thế giới 2. Tính thanh khoản chứng khoán 2. Khái niệm tính thanh khoản chứng khoán Tính thanh khoản chứng khoán có thể được hiểu là mức độ dễ dàng của việc giao dịch một chứng khoán nào đó, là khả năng chuyển đổi một tài sản hay cổ phiếu 12 thành tiền mà không làm ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng rất ít đến giá trị của tài sản hay cổ phiếu đó.
Theo Kyle (1985) tính thanh khoản đặc trưng bởi chi phí bỏ ra trong việc tìm kiếm đối tác hay rủi ro từ việc thị trường không hoàn hảo. Thị trường có tính thanh khoản nếu: (1) Luôn tồn tại sẵn giá mua và giá bán cho nhà đầu tư nếu muốn mua hoặc bán một số lượng nhỏ cổ phiếu một cách ngay lập tức. (2) Sự chênh lệch của giá mua và giá bán (Spread) luôn luôn nhỏ. (3) Một nhà đầu tư đang mua hoặc bán một lượng lớn cổ phiếu, trong trường hợp không có thông tin đặc biệt nào, có thể mong đợi thực hiện sau một khoảng thời gian dài với mức giá không khác với thời điểm hiện tại.
Chính vì vậy tính thanh khoản được tạo ra từ chi phí rủi ro của thị trường không hoàn hảo, chi phí tìm kiếm đối tác hay chi phí cơ hội mất đi khi giao dịch bị trì hoãn. Theo quan điểm của Amihud (2002) tính thanh khoản của chứng khoán là việc dễ dàng mua đi bán lại một chứng khoán, một tài sản có tính thanh khoản cao thường đặc trưng bởi khối lượng giao dịch của tài sản đó lớn. Đo lường tính thanh khoản chứng khoán Thước đo tính thanh khoản chứng khoán được nhiều tác giả nghiên cứu và phát triển theo nhiều thước đo khác nhau. Luận văn sẽ tóm tắt một số thước đo trong các nghiên cứu trước đây như sau: Roll (1984) đo lường tính thanh khoản chứng khoán dựa trên chêch lệch giá hỏi mua – chào bán.
Lesmond và ctg (1999) đo lường tính thanh khoản thị trường chứng khoán theo chi phí giao dịch dựa trên số ngày giao dịch có tỷ suất sinh lợi bằng 0, so với tổng số ngày giao dịch, dữ liệu được thu thập tính theo tháng: 𝑠o 𝑛𝑔à𝑦 𝑔i𝑎𝑜 𝑑 𝑐ℎ 𝑐ó 𝑡y 𝑠𝑢a𝑡 sinh 𝑙ợi 𝑏a𝑛𝑔 0 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑍𝑒𝑟𝑜𝑠𝑡= 𝑡ℎá𝑛𝑔 𝑇o𝑛𝑔 𝑠o 𝑛𝑔à𝑦 𝑔i𝑎𝑜 𝑑 𝑐ℎ 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡ℎá𝑛𝑔 𝑡 13 Amihud (2002) đo lường tính thiếu thanh khoản chứng khoản bằng cách lấy trung bình tỷ lệ giữa mức thay đổi trong giá của cổ phiếu chia cho khối lượng giao dịch hằng ngày của chứng khoán đó, tức tính thanh khoản của chứng khoán đo lường bằng độ nhạy của giá trên một đơn vị khối lượng giao dịch. Chỉ số thiếu thanh khoản của Amibud (2002) là thước đo sử dụng nhiều cho thị trường phát triển, thị trường mới nổi: 1 𝑡 𝐴𝑚iℎ𝑢𝑑 = log( |𝑅i,𝑡| ∑ 𝑉i𝑡 )) 𝑡 ( 𝑡=1 Trong đó: - Rit là mức thay đổi trong giá của chứng khoán thứ i trong ngày t. - Vit là giá trị giao dịch của chứng khoán i vào ngày t Sarr và Lybek (2002) đo lường tính thanh khoản chứng khoán theo khối lượng giao dịch (Trading Volume of Stock) (TVS) Giá trị cổ phiếu được giao dịch gồm tổng giá trị các cổ phiếu được giao dịch trong một đơn vị thời gian: ngày, tháng, quý hoặc năm 𝑛 𝑇𝑉𝑆𝑡 = ∑ 𝑞i 𝑥 𝑝i i=1 Trong đó: - TVSt : Giá trị cổ phiếu được giao dịch - qi : Khối lượng cổ phiếu i được giao dịch - pi : Giá cổ phiếu i - n : Tổng số cổ phiếu được niêm yết trên thị trường Lesmond (2005) đưa ra các thước đo về thanh khoản là khối lượng giao dịch, sử dụng số lượng cổ phiếu được giao dịch và tổng số cổ phiếu đang lưu hành của doanh 14 nghiệp tính theo ngày, có loại trừ các ngày giao dịch bất thường với số lượng cổ phiếu giao dịch lớn hơn tổng số cổ phiếu lưu hành của doanh nghiệp 𝐿𝐼𝑄𝑡 𝑇o𝑛𝑔 𝑘ℎoi 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐o 𝑝ℎie𝑢 𝑔i𝑎𝑜 𝑑 𝑐ℎ𝑡 = 𝐷𝑦 𝑥 𝑆o 𝑐o 𝑝ℎie𝑢 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ Trong đó Dy là số ngày giao dịch trong năm Marshall và ctg (2013) sử dụng tỷ lệ luân chuyển cổ phiếu (TURNOVER) theo được xác định như sau: 𝑇o𝑛𝑔 𝑠o 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐o 𝑝ℎie𝑢 𝑔i𝑎𝑜 𝑑 𝑐ℎ 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡ℎá𝑛𝑔 𝑇𝑢𝑟𝑛𝑜𝑣𝑒𝑟 = 𝑆o 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐o 𝑝ℎie𝑢 đ𝑎𝑛𝑔 𝑙ư𝑢 ℎà𝑛ℎ 𝑡𝑟𝑢𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ 𝑡ℎá𝑛𝑔 Mũnoz (2012) với hệ số thanh khoản (Liquidity Ratio – LR) 𝑡= 𝑃i𝑡 𝑉i𝑡 𝑇 𝐿𝑅𝑡 = ∑1 |𝑃𝐶i𝑡| ∑𝑇 𝑡=1 Trong đó - Vit : tổng khối lượng cổ phiếu i được giao dịch vào ngày t - Pit : giá cổ phiếu i vào ngày t - PCit = Pit – Pit-1 : chênh lệch giá cổ phiếu i ngày t so với ngày t-1 Tóm lại tính thanh khoản chứng khoán được đo lường bởi nhiều thước đo khác nhau, theo nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu. Luận văn đi sâu phân tích tính thanh khoản thị trường chứng khoán theo thước đo TURNOVER của Mashall, Datar, Naik, and Radcliffe (1998) dựa trên tỷ lệ của tổng giá trị giao dịch chia cho tổng khối lượng cổ phiếu đang lưu hành tính trung bình theo năm của các 432 mã cổ phiếu được niếm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán Tp.
HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội 2. Tác động của tính thanh khoản chứng khoán đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp 15 Trên thế giới và trong nước có khá đa dạng các nghiên cứu về quyết định đầu tư của doanh nghiệp cũng như các vấn đề liên quan tính thanh khoản thị trường chứng khoán. Chẳng hạn như: Theo Butler và ctg (2005) tính thanh khoản thị trường chứng khoán là một yếu tố quan trọng quyết định khả năng tiếp cận thị trường vốn bên ngoài của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có động lực thúc đẩy cải thiện tính thanh khoản thị trường chứng khoán để giảm chi phí huy động vốn. Tính thanh khoản chứng khoán là nhân tố quan trọng của chi phí phát hành vốn cổ phần mới, doanh nghiệp có tính thanh khoản càng cao thì chi phí phát hành vốn cổ phần càng thấp.
Chính vì vậy, doanh nghiệp thích phát hành cổ phiếu hơn vay nợ. Lipson và Mortal (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa tính thanh khoản và cấu trúc vốn, kết quả cho thấy doanh nghiệp có tính thanh khoản chứng khoán cao, thường thích tài trợ bằng vốn cổ phần hơn khi có nhu cầu tăng vốn Nghiên cứu của Blease và Paul (2006) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản cổ phiếu và chi tiêu vốn, tính thanh khoản cổ phiếu ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Tính thanh khoản tăng tạo nên hiệu quả mở rộng các dự án quyết định đầu tư có NPV dương, vì nó làm giảm chi phí vốn. Nghiên cứu Muñoz (2013) cho thấy mối tương quan dương giữa tính thanh khoản chứng khoán và quyết định đầu tư.
Đối với những doanh nghiệp bị hạn chế tài chính, hay doanh nghiệp có dòng tiền nội bộ kém, khó tiếp nhận vốn tín dụng, nếu tính thanh khoản chứng khoán cao thì cơ hội tiếp cận với nguồn vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn từ đó quyết định đầu tư có điều kiện gia tăng. Doanh nghiệp càng nhiều hạn chế tài chính thì độ nhạy với tính thanh khoản càng cao. Nghiên cứu của Hameed, Kang và Viswanathan (2010), cho thấy tồn tại mối quan hệ mang tính nghịch chiều giữa tính thanh khoản của cổ phiếu và tỷ suất sinh lợi của thị trường. Amihud (2002) cũng xem xét mối quan hệ này trên sàn NYSE giai đoạn năm 1964 – 1997, kết quả cho thấy tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán 16 cùng chiều với tính thiếu thanh khoản.
Các doanh nghiệp nhỏ sự tác động này mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp lớn do rủi ro mà các doanh nghiệp nhỏ gặp phải cao hơn các doanh nghiệp lớn Có thể tóm tắt lại các nghiên cứu trước đây đưa ra các quan điểm về sự tác động của tính thanh khoản chứng khoán và quyết định đầu tư nhưng có thể chia ra làm 3 hướng khác nhau, bao gồm sự tác động trung lập, tác động tích cực và tác động tiêu cực. Đầu tiên xét đến quan điểm trung lập không đưa ra dự đoán về chiều hướng cụ thể sự tác động của tính thanh khoản lên quyết định đầu tư, mà chỉ tập trung vào hai vấn đề chính là chi phí đại diện và bất cân xứng thông tin. Điển hình như nghiên cứu của Maug (1998), Edmans (2009), Khanna và Sonti (2004),… cho rằng tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán tạo điều kiện cung cấp nhiền thông tin hơn về giá cổ phiếu, các nhà đầu tư gia tăng hoạt động giám sát hơn đối với các doanh nghiệp, từ đó giảm chi phí đại diện, giảm ràng buộc tài chính, cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.