CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Mỗi quốc gia có một nền giáo dục tương ứng, trong đó giáo dục phổ thông chiếm một vị trí quan trọng. Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản trình bày hệ thống kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó thể hiện rõ các thành tố cốt lõi: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và đánh giá kết quả giáo dục. nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Từ đó, có thể hiểu, chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực là văn bản trình bày hệ thống kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó xuất phát từ kết quả mong đợi (mục tiêu học tập mà HS cần đạt được) dưới dạng các năng lực để lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức học tập, đánh giá giáo dục. nhằm đạt được mục tiêu phát triển năng lực của HS đã đề ra. Như vậy, các thành tố của chương trình giáo dục phổ thông nói chung, chương trình theo tiếp cận năng lực nói riêng có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau, quy định lẫn nhau. Do đó, quan điểm tiếp cận trong xây dựng chương trình giáo dục sẽ quyết định đến cách tổ chức hoạt động dạy học.
Nếu chương trình được xây dựng theo tiếp cận năng lực thì mọi hoạt động dạy học và quản lí hoạt động này ở các nhà trường đều tập trung vào cái “đích” cuối cùng là năng lực người học (chuẩn năng lực đầu ra). Đó cũng là lí do khi nghiên cứu về hoạt động dạy học và quản lí hoạt động này, các nhà khoa học luôn đặt trong mối quan hệ với các thành tố khác của chương trình giáo dục. Các nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học Cải cách giáo dục là một trào lưu tất yếu đang và sẽ diễn ra ở nhiều nước và trên nhiều lĩnh vực khác nhau của giáo dục. Các cuộc cải cách giáo dục thể hiện rõ ở sự thay đổi về cách tiếp cận trong xây dựng chương trình, từ đó dẫn 10 đến thay đổi về cách thức dạy học.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thường được dùng với tên gọi khác là dạy học theo tiếp cận năng lực hay dạy học định hướng kết quả đầu ra - một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra. Trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các nhóm năng lực của người học, và đây cũng chính là kết quả đầu ra hay yêu cầu cần đạt đối với người học. Đây là nội dung được các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Những nghiên cứu trên thế giới Vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nước trên thế giới từ rất sớm.
Tuy nhiên, tiếp cận này mới được hình thành và phát triển mạnh vào những năm 1970 ở Mỹ; sau đó là Anh, Australia, New Zealand, xứ Wales. Các nghiên cứu thường tập trung bàn về bản chất và mô hình dạy học theo tiếp cận năng lực. Theo đó, để dạy học theo tiếp cận năng lực, trước hết cần phải xác định các năng lực (để xác định các năng lực, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra), từ đó xác định vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra. Mô hình dạy học này được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và rất phổ biến trên toàn thế giới.
Cụ thể như sau: Elam (1971) đã nêu lên sáu đặc điểm cơ bản của đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện trong tài liệu “Giáo dục người dạy dựa trên sự thực hiện” là: dạy học dựa trên sự thực hiện, dạy học đáp ứng nhu cầu cá nhân, quy định thông tin phản hồi đến người học ngay lập tức, các năng lực thực hiện được xác định dựa trên phân tích công việc, chương trình chứa đựng các mục tiêu có thể đo lường được, sử dụng các tiêu chuẩn năng lực thực hiện để tham chiếu cho việc đánh giá kết quả thực hiện. Trong nghiên cứu “Handbook for Developing Competency - Based Training Programs” (sổ tay chương trình đào tạo dựa trên phát triển năng lực), William (1982) đã xây dựng hồ sơ năng lực người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các gói học tập. Theo đó, mọi hoạt động dạy học đều hướng tới phát triển năng lực người học. Boyatzid (1982) và Whetten và Cameron (1995) đều cho rằng, dạy học theo 11 tiếp cận năng lực cần xử lí một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (i) xác định các năng lực, (ii) phát triển chúng, và (iii) đánh giá chúng một cách khách quan.
Có thể thấy, đây là một mô hình dạy học, trong đó điểm xuất phát đầu tiên là xác định hệ thống năng lực cần phát triển cho người học (tiếp cận đầu ra), từ đó mới thiết kế nội dung để phát triển từng năng lực. Cũng theo hướng này, Richard và Rodger (2001) cho rằng, tiếp cận năng lực trong dạy học tập trung vào kết quả học tập của người học, tức là hướng tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là những gì họ phải học được. Điều này cũng được Paprock (1996) nhấn mạnh khi cho rằng, tiếp cận năng lực dựa trên triết lí người học là trung tâm, thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách, định hướng cuộc sống thật, rất linh hoạt và năng động, hình thành một cách rõ ràng. Khi bàn về đào tạo nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện, Robert (1987) cho rằng: “Một số dấu hiệu cơ bản để xác định một phương thức dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện là: Các năng lực thực hiện cần trang bị cho người học được xác định rõ ràng, thẩm định và công bố cho người học trước khi dạy học; Các tiêu chuẩn và điều kiện đánh giá thành tích học tập được quy định cụ thể và công bố cho người học trước khi đánh giá”.
Cũng theo tác giả này trong một nghiên cứu khác, nội dung cốt lõi của tiếp cận năng lực thực hiện là việc định hướng đầu ra, dạy và học các năng lực, đánh giá năng lực thực hiện. Đào tạo nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện có định hướng và chú trọng vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo, quan tâm đến từng người học có thể làm được việc gì đó trong một tình huống nghề nghiệp nhất định theo tiêu chuẩn đề ra (Robert, 1997). Như vậy, hoạt động dạy học ở đây gắn với thực tiễn nghề nghiệp, chứ không học lí thuyết suông (tiếp cận nội dung). Các bước xây dựng chương trình giáo dục của Wiggins và McTighe (1998) cũng thể hiện rõ hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực, cụ thể: 1) Xác định kết quả mong muốn (của khóa đào tạo/bồi dưỡng) với câu hỏi: “Sau khi kết thúc khóa học, người học có thể làm được những công việc cụ thể gì?”; 2) Xác định những biểu hiện tương ứng (kết quả học tập của người học cuối khóa học) với câu hỏi: Người học phải thể hiện được những gì trong các bài kiểm tra, đánh giá?”; 3) Thiết kế hoạt động học 12 tập và giảng dạy, với câu hỏi: “Để làm được bài kiểm tra, đánh giá đó, người học phải học những gì và học như thế nào?”.
Như vậy, cách tiếp cận này xuất phát từ người học chứ không phải từ người dạy, tức là các nhà giáo dục này muốn hướng việc giảng dạy theo tiêu chuẩn - khuyến khích việc chọn mục tiêu và tiêu chuẩn làm bằng chứng để đánh giá ngay từ khi bắt tay vào xây dựng một chương trình. Đây chính là xây dựng chương trình theo tiếp cận năng lực và hoạt động dạy học cũng phải theo tiếp cận này. Điều đó đã làm tăng tính thực tiễn, đáp ứng tốt hơn với nhu cầu người học và nhu cầu xã hội. Với Luật cải tổ giáo dục năm 1998 (http://www.net - About the National Curriculum), Vương quốc Anh đã xây dựng chương trình giáo dục hướng tới mục tiêu giúp HS tiếp nhận, phát triển và áp dụng kiến thức, kĩ năng; đồng thời khuyến khích HS suy nghĩ một cách sáng tạo, có phê phán để giải quyết các vấn đề đặt ra; cung cấp cho HS cơ hội rèn luyện để trở thành những con người sáng tạo, tháo vát, có óc sáng kiến cải tiến, trở thành những người lao động và những công dân tốt trong tương lai… (Moon, 1998).
Như vậy, tiếp cận năng lực đã được thể hiện rõ khi mục tiêu chương trình hướng tới là chuẩn đầu ra với những chỉ báo là năng lực của HS. Đây như là một “cương lĩnh” giáo dục đủ mạnh và chặt chẽ để xác định và bảo vệ những giá trị cốt lõi về nhận thức và văn hóa cần đem lại cho HS; đồng thời cũng mềm mại, uyển chuyển để GV có thể chủ động trong việc lựa chọn các phương pháp khác nhau trong dạy học nhằm phát triển năng lực HS. Những năm đầu thế kỉ XXI, các nước trong khối EU đã bàn luận rất sôi nổi về khái niệm năng lực cốt lõi (key competence) và nhấn mạnh: mục tiêu quan trọng của hệ thống giáo dục châu Âu là giúp thế hệ trẻ có thể thành công trước những thách thức của xã hội thông tin và nhận được tối đa lợi ích từ những cơ hội mà xã hội đó tạo ra. Vì vậy, cần phải có sự thay đổi chính sách giáo dục, xem xét lại nội dung chương trình và phương pháp dạy học, cần phải chú ý tới các năng lực cốt lõi, cụ thể là những năng lực hướng vào cuộc sống với mục đích suốt đời tham gia xã hội một cách tích cực (dẫn theo Đỗ Ngọc Thống, 2010a, 2010b, 2011).