Luận án tiến sĩ: Hiệu quả kinh tế - xã hội doanh nghiệp dệt may tỉnh Nam Định - Nguyễn Văn Huy

Phân tích hiệu quả kinh tế và xã hội của doanh nghiệp dệt may Nam Định. Đánh giá tác động phát triển kinh tế, tạo việc làm và cải thiện đời sống cộng đồng.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ
195
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp dệt may

Hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp dệt may là một khái niệm được sử dụng để đánh giá khả năng tạo ra lợi ích kinh tế và xã hội của các doanh nghiệp dệt may. Các doanh nghiệp dệt may đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Tại tỉnh Nam Định, các doanh nghiệp dệt may là một trong những ngành kinh tế chủ yếu, đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm cho hàng nghìn người lao động.

1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế xã hội

Hiệu quả kinh tế - xã hội là khả năng tạo ra lợi ích kinh tế và xã hội cho địa phương, bao gồm việc tạo việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp dệt may trong nền kinh tế

Doanh nghiệp dệt may đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Tại tỉnh Nam Định, các doanh nghiệp dệt may là một trong những ngành kinh tế chủ yếu, đóng góp lớn vào GDP và tạo việc làm cho hàng nghìn người lao động.

II. Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định

Các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định đã đạt được một số kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục. Việc phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định sẽ giúp chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.

2.1. Ưu điểm của doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định

Các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định đã đạt được một số kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm việc tạo việc làm, thu nhập cho người lao động và đóng góp vào ngân sách nhà nước.

2.2. Hạn chế của doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định

Vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục, bao gồm việc nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm và tăng cường công tác quản lý.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp dệt may

Để nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định, cần thực hiện một số giải pháp, bao gồm việc nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm và tăng cường công tác quản lý. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động và áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến.

3.1. Nâng cao năng suất lao động

Các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động để tăng năng suất lao động.

3.2. Tăng cường công tác quản lý

Các doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, tăng cường công tác quản lý để giảm giá thành sản phẩm và tăng cường hiệu quả kinh tế - xã hội.

IV. Kết luận và ứng dụng

Hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm. Các doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội để tạo ra lợi ích kinh tế và xã hội cho địa phương.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra các kết quả tích cực và hạn chế của các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Nam Định.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp dệt may ở tỉnh nam định socio economic efficiency of garment enterprises in nam dinh province

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số công trình nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hiệu quả kinh tế - xã hội Thomas N. Gladwin, Tara Shelomith, Krause James, J.

Bài viết khẳng định trong hoạt động sản xuất kinh doanh, HQKT là quan trọng nhưng HQXH, hiệu quả sinh thái là điều cần thiết, là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Tính bền vững về KT - XH liên quan đến giảm nghèo, ổn định dân số, trao quyền cho nữ, tạo việc làm, bảo đảm nhân quyền và tái phân phối cơ hội trên quy mô lớn. Sau khi đánh giá các chỉ số và nguồn gốc của tính không bền vững, bài viết đề xuất một bộ nguyên tắc làm việc của doanh nghiệp để đảm bảo tính bền vững xã hội. Bài viết nghiên cứu về các cụm công nghiệp ở các nước đang phát triển từ việc đánh giá thành công về HQKT tập thể của các doanh nghiệp nhỏ.

Tác giả chỉ ra rằng, HQKT tập thể mà các doanh nghiệp này đạt được chính là dựa vào sự liên kết trong chuỗi cung ứng sản phẩm từ khâu cung cấp nguyên liệu đầu vào đến tiêu thụ các sản phẩm đầu ra. Trong đó, tác giả nhấn mạnh thành công mà các doanh nghiệp quy mô nhỏ đạt được chính là sự liên kết chặt chẽ về mặt kỹ thuật và vốn để nâng cao HQKT tập thể và khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Bài viết còn tập trung vào xây dựng khái niệm HQKT và khung lý thuyết giúp nâng cao HQKT của doanh nghiệp nhỏ ở các nước đang phát triển. Bài viết xem xét tác động tích cực và tiêu cực đến KT - XH của các doanh nghiệp quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển và đề ra một số biện pháp chủ yếu để cải thiện tính bền vững trong các ngành kinh tế.

Bài viết chỉ ra HQKTXH là mục tiêu quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này, nhưng vấn đề quan trọng hơn chính là giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường, sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Doanh nghiệp quy mô nhỏ đóng vai trò then chốt trong việc giảm nghèo ở các nước đang phát triển như đóng góp đáng kể thu nhập quốc gia và thu nhập ngoại hối. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, công nghệ hạn chế và sử dụng đội ngũ lao động kém được đào tạo nên rất khó có thể cải thiện tình trạng này. Chính phủ phải đóng vai trò mở rộng việc kết nối thông tin, hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao HQKTXH đối với các doanh nghiệp này.

Cuốn sách trình bày những nghiên cứu và tư vấn của Tổ chức Ngân hàng Thế giới về HQKTXH của các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước, những vấn đề đặt ra đối với các chính phủ ở mỗi nước khi quyết định hỗ trợ tài chính cho các dịch vụ hạ tầng tư nhân và cung cấp một số công cụ để phân tích nhằm đưa ra quyết định có hiệu quả nhất. Cuốn sách đã đưa ra quan điểm chung nhất về HQKTXH dưới góc độ tiếp cận là những chi phí thực tế đầu tư cho dịch vụ hạ tầng khi nhà nước hỗ trợ cho tư nhân với những tiện ích mà các dịch vụ này đem lại đối với người dân, tức là tiếp cận HQKTXH mà các hàng hóa công cộng mang lại. Đồng thời, cuốn sách đã cung cấp một số công cụ để phân tích HQKT và HQXH của việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong điều kiện có sự tham gia của các chủ thể kinh tế là Nhà nước và tư nhân. 13 Niels Bosma, Mirjam van Praag, Roy Thurik, Gerrit de Wit (2004), “The Value of Human and Social Capital Investments for the Business Performance of Startups” (Giá trị đầu tư của con người và vốn xã hội cho hiệu quả kinh doanh của các công ty khởi nghiệp) [115].

Trong bài viết, tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu: “Đầu tư vào vốn con người và huy động vốn xã hội ở mức độ nào để nâng cao hiệu quả kinh doanh?” Nhóm tác giả đã đưa ra ba tiêu chí đánh giá HQKT của công ty khởi nghiệp: tỷ lệ lao động sống/chi phí, lợi nhuận đạt được và tạo việc làm. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của các công ty khởi nghiệp, bài viết kết luận rằng các khoản đầu tư vào nâng cao chất lượng nhân lực và huy động nguồn vốn xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến nâng cao HQKT của các công ty khởi nghiệp. Jacques Defourny, Marthe Nyssens (2010), “Conceptions of Social Enterprise and Social Entrepreneurship in Europe and the United States: Convergences and Divergences” (Quan niệm doanh nghiệp xã hội và doanh nhân xã hội ở châu Âu và Hoa Kỳ: Hội tụ và phân kỳ) [109]. Bài viết đưa ra quan niệm, vai trò, HQKTXH của doanh nghiệp xã hội.

Trong đó, các tác giả đưa ra nhận định doanh nghiệp xã hội đang tạo ra những đột phá lớn ở châu Âu và Hoa Kỳ. Trong phần đầu bài báo, tác giả khái quát bối cảnh lịch sử dẫn đến sự xuất hiện các doanh nghiệp xã hội ở châu Âu và Hoa Kỳ, tổng quan các quan niệm khác nhau về doanh nghiệp xã hội. Trong phần thứ hai, tác giả phân tích sự phát triển của các quan niệm về doanh nghiệp xã hội. Sự phân tích này mở đường cho phần thứ ba, trong đó tác giả làm nổi bật các hội tụ và phân kỳ về quan niệm, vai trò và HQKTXH của doanh nghiệp xã hội.

Valery Maksimovich Tumin, Alexey Georgievich Koryakov, Nikiforova Evgeniya Petrovna (2013), “The Main Factors of Socio- Ecological-Economic Stability and Development of Industrial Enterprises” (Các yếu tố chính để ổn định kinh tế - xã hội và phát triển doanh nghiệp công nghiệp) [121]. Trong bài viết, các tác giả tìm hiểu các vấn đề phát triển kinh tế bền vững của các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại. Trên cơ sở phân tích 14 và hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá HQKTXH của doanh nghiệp, từ đó hướng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp công nghiệp. Bài viết đề xuất việc phân loại tính bền vững của các doanh nghiệp công nghiệp dựa trên các tiêu chí đánh giá HQKTXH như: sự đóng góp trong tăng trưởng của nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, tính bền vững về môi trường sinh thái.

Trong công trình nghiên cứu, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu về HQKTXH của các doanh nghiệp xã hội. Mục đích nghiên cứu của công trình này là đánh giá và đo lường HQKTXH của các doanh nghiệp xã hội bằng cách sử dụng mô hình "Kế toán giá trị hỗn hợp" (BVA). Thông qua các công cụ của mô hình "Kế toán giá trị hỗn hợp", tác giả đã so sánh HQKTXH mà các doanh nghiệp xã hội đạt được so với các doanh nghiệp lợi nhuận. Kết luận rút ra từ nghiên cứu cho thấy, HQKT của các doanh nghiệp xã hội không bằng doanh nghiệp lợi nhuận, nhưng hiệu quả về mặt xã hội đạt được lại lớn hơn.

Công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp dệt may Vincent Wai, Kwong Mok (1996), “Industrial productivity in China's state-owned enterprises: The textile industry in Guangzhou, 1979-1993” (Năng suất công nghiệp ở các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc: Ngành dệt tại Quảng Châu, 1979-1993) [122]. Bài viết đánh giá việc tăng năng suất lao động đã tác động đến HQKT của các DNNN ở Trung Quốc. Tác giả tiến hành phân tích số liệu giai đoạn 1979-1993 từ 20 doanh nghiệp dệt có quy mô lớn và vừa ở Quảng Châu. Kết quả phân tích số liệu cho thấy các doanh nghiệp được khảo sát có mức tăng trưởng trung bình về năng suất lao động hàng năm là 1,8%.

Sự gia tăng năng suất lao động là yếu tố quan trọng góp phần làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, tuy nhiên điều đó lại 15 không có mối quan hệ đáng kể với sự gia tăng tiền lương. Nghiên cứu chỉ ra xu hướng tăng lương của người lao động (tăng 0,8% mỗi năm) không tương xứng với mức gia tăng năng suất lao động (1,8% mỗi năm). Senol Okay, Suleyman Semiz (2010), “The effects of ISO 9000 quality management system implementation in small and medium-sized textile enterprises: Turkish experience” (Những ảnh hưởng của việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 trong các doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ: Kinh nghiệm Thổ Nhĩ Kỳ) [118]. Mục đích của nghiên cứu này là xác định các yếu tố tác động đến HQKT của DNDM.

Trong bài viết, tác giả đã đánh giá những khó khăn gặp phải và mức độ đạt được mục tiêu trong quá trình các DNDM vừa và nhỏ áp dụng chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 (QMS) trong ngành dệt Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu được thực hiện bằng cách khảo sát các DNDM đã áp dụng quy trình quản lý này vào hoạt động sản xuất. Kết quả thu được từ các cuộc khảo sát DNDM vừa và nhỏ ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy, việc áp dụng chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 góp phần nâng cao HQKT đối với các doanh nghiệp này. Fang Lee Cooke (2010), “Corporate social responsibility and HRM in China: a study of textile and apparel enterprises” (Trách nhiệm xã hội của công ty tại Trung Quốc: một nghiên cứu về các doanh nghiệp dệt may) [102].

Trong bài viết, tác giả đã tổng quan các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội trong ngành công nghiệp dệt may như lợi ích của trách nhiệm xã hội đối với ngành dệt may, các tiêu chuẩn liên quan tới trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của các DNDM với môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động và các vấn đề liên quan tới người lao động như chống phân biệt đối xử, cơ hội thăng tiến cho người lao động, vấn đề sử dụng lao động trẻ em, những ràng buộc trong hợp đồng lao động, vấn đề làm quá giờ quy định, vấn đề về an toàn sức khỏe của người lao động. Nội dung của nghiên cứu này là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu trách nhiệm xã hội với người lao động trong ngành dệt may Trung Quốc. Nghiên cứu này phân tích sự phát triển, thành tựu và thách thức của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trong ngành dệt may Trung Quốc. Bài viết dựa trên khung lý thuyết của Ngân hàng Diamond Model về trách nhiệm xã hội và các lý thuyết liên quan để phân tích vấn đề đặt ra một cách có hệ thống về hoạt động trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành dệt may nói chung, ở Trung Quốc nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ