Chương I - Nghiên cứu về Ly Văn Phức với dung lượng khadang kê là hơn 40 trang, chia làm 3 mục: J. Tiểu sử Ly Văn Phức; 2. Thời dai tác giả (1785 - 1849); 3. Sự nghiệp sảng tác của Lý Văn Phức.Về tiểu sử Lý Văn Phức, Nguyễn Thị Ngânđã căn cứ vào nhiều tư liệu lịch sử và văn tịch Hán Nôm để dựng lại phả hệ của Lý Lân Chi, bức tranh gia đình cũng như những biến cố thăng tram trong cuộc đời ông.
Tac giảluận án cho rằng: “Lý Văn Phức sinh ra trong một gia đình nhà Nho, trải học hành, thi cử rồi ra làm quan. Đó như là nét chung của cuộc đời các sidai phu truyền thống, nhưng con đường làm quan của Lý Văn Phức có lắm thăng trầm và cuộc đời ông có nhiều chuyến công du hải ngoại Đông Tây” [75, 29]. Vềtrước tác của Lý Văn Phức, luận án viết: “Như một tác gia Hán Nôm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, Lý Văn Phức dadé lại một số lượng khá lớn những tác phẩm mang đậm dấu ấn thời đại. Ông vừa tiêu biểu cho khuynh hướng văn chương Nho giáo, vừa đại diện cho trào lưu và xu thế của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XIX: duy tridao đức xã hội đồng thời quan tâm đến số phận vàđời sống hiện thực con người” [75, 57].
Theo kết quả thống kê của Nguyễn Thị Ngân, Lý Văn Phức có tất cả 44 tác phẩm, chia thành 4 nhóm: Tho văn chữ Han (17 tác phẩm); Tho văn chữ Nom (14 tác phẩm); Các tác phẩm văn hóa, lich sử khác (6 tác phẩm); Tác phẩm soạn chung với các tác giả khác (7 tác phẩm). Trần Ích Nguyên (Đài Loan)là tác giả của công trìnhViệt Nam Hán tịch văn hiến thuật luận(2011) [148], đã được dich ra tiếng Việt với tiêu déThudt bàn về tư liệu sách chữ Hán ở Việt Nam [82]. Cuỗn sách tập hợp một chùm bài viết liên quan đến Lý Văn Phức và tác phẩm của ông. Trong chương 7 - Duyên thơ trượt sát bên nhau giữa Ly Van Phuc cua Việt Nam và Thái Dinh Lan của Dai Loan, tac giả đã tìm hiểu những sự tương đồng trong hành trạng cũng như hồn thơ của viên quan họ Lý với Tiến sĩ Thái Đình Lan (1801-1859).
Về sự trùng hợp thú vị này, Trần Ích 16 Nguyên viết: "Nhưng họ lại chidi qua bên nhau chứ chưa hề gặp mặt, khiến ai nay đều tiếc nuối. Cóđiều, thông qua tác phẩm thơ văn chữ Hán chan chứa nhiệt tình mà hai ông dé lại, chúng ta có thé thấy rõ hình ảnh đan xen của hai nhà thơ chữ Hán Trung - Việt ở khu vực Đông Nam Á nửa đầu thế kỷ XIX (năm 1830), đồng thời thấy cảm động sâu sắc về họ" [82, 242].Có thé thấy đây là một sự tiếp cận tác gia Lý Văn Phức theo hướng so sánh, đối chiếu với tac gia khác kháđộc đáo. Chương 8 - Văn hóa ẩm thực châu Addu thé kỷ XIX dưới ngòi bút của Lý Văn Phức, Việt Namđã khai thác sáng tác của Ly Văn Phức dưới một góc nhìn rat thú vị, đó là văn hóa ẩm thực. Trần Ích Nguyên cho rằng: "Có thể thấy Lý Văn Phức là một người không coi trọng việc ăn ngon, và hơn nữa là thơ viết nhiều hơn văn.
Sau khi hiểu được sở thích ăn uống và thói quen viết lách của ông, ta cũng sẽ không kỳ vọng được hiểu biết về văn hóa âm thực của ông từ những ghi chép du ký" [82, 289]. Thế nhưng "Nhìn từ một góc độ khác, văn hóa âm thực châu Áđầu thế kỷ XIX (đặc biệt là thói quen ăn uống của châu Âu lưu truyền vào châu A năm đó), đối với một nhà thơ Việt Nam như Lý Văn Phức mà nói, ít nhiều cũng có những điều mới lạ, khiến ông không thé không ghi chép lại" [82, 289-290].Tiép đó, Trần Ích Nguyên đã khai thác thông tin từ các tác phẩm trong những chuyến công du của Lý Văn Phức dé giới thiệu về văn hóa 4m thực châu Áđầu thế ky XIX, gồm ca văn hóa âm thực của Đông Nam A và Nam A năm 1830, văn hóa 4m thực của Philippines (Lữ Tống) năm 1832 va của Trung Quốc 1831-1841. Những hành vi của 4m thực như uống rượu vang đỏ, hút thuốc, dụng cuan, đồăn, cách thức ăn. của các dân tộc khác biệt đều được Lý Văn Phức mô tả chân thực và sinh động.
Và Trần Ích Nguyên đãđi đến kết luận là: "Qua tác phẩm của ông, chúng ta phát hiện văn hóa 4m thực châu Áđầu thế kỷ XIX thực ra mang đậm màu sắc phương Tây, còn văn hóa âm thực truyền thống phương Đông có lẽ tương đối gần gũi nên mọi người không thấy nồi bật" [82, 304-305].Phu lục cho chương 8 là hai bài văn: Lữ Tổng phong tục ký vàTây Dương trí phú biện cùng một số bài thơ khác, chép trong Ly Văn Phức di văn.Chương 9 - Thế giới mới ởĐông Nam A trong văn hoc chữ Hán cua Việt Nam có đôi tượng khảo sát là thời kỳ những năm 30 của thế kỷ XX. Trần Ích Nguyên đã giới thiệu các 17 tác phẩm văn học có liên quan đến Nam Dương của 4 nhân vật mà hoạn lộ của hodéu từng có những chuyến hải ngoại viễn du là: Lý Van Phức, Đặng Van Khải, Hà Tông Quyền và Phan Thanh Giản. Trong đó, với Lý Văn Phức, tác giảđã giới thiệu 2 chùm tác phẩm liên quan đến hai hướng trong lộ trình đi sứ của ông, cả "Tây hành" và "Đông hành":Đó là7áy hành thi kỷ, Tây hành kiến văn kỷ lược (1830) ghi lại lộ trình: Việt Nam - Singapore - Penang - Bangladesh - Jakata; vàĐông hành thi thuyết thao (1832) ghi lại lộ trình Việt Nam - Philippines. Qua việc khảo cứu, phân tích các tác phâm này, Trần Ích Nguyên đãđưa ra nhận định: "Nhìn chung, Lý Văn Phức tỏ ra tương đối hiếu kỳ về thực dân Anh Cát Lợi trong chuyến Tây hành năm 1830, ví dụ trong cách ăn đồ Tây, trình tự uống rượu Tây, thậm chí ngay cả chỉ tiết việc vợ chồng chủ tiệc ngồi cùng bàn với khách, ông đều không quên ghi chép lại, nhưng lại thiếu sót về phan văn hóa âm thực ở vùng Nam A vaDéng Nam A lúc bay giờ" [82, 330-331].
Còn "văn hóa của người Tây Ban Nha trên dat Philippines năm 1832 và của người Anh Cát Lợi ởĐông Nam A và Nam A, thậm chí là của người BồĐảo Nha ởÁo Môn năm 1833 và1836 không có nhiều khác biệt rõ rệt" [82, 347]. Hạ Lộ(Trung Quốc) với công trình Chuyến đi Quảng Đông, Áo Môn của Lý Văn Phức và giao lưu văn học Trung Việt (2013) [142] đã tập trung khai thác tư liệu về 4 chuyến công cán Quảng Đông của Lý Văn Phức liên tiếp trong các năm 1833, 1834, 1835 và 1836. Từ những chuyến đi này mà một loạt tác phẩm của Lý Văn Phuc đã ra doi như: Việt hành ngâm thao, Áo Môn chí hành thi sao, Việt hành tục ngâm thảo, Tam chỉ Việt tập thảo, Tiên thành lữ thoại tập, Nhị thập tứ hiếu diễn ca, Kính hải tục ngâm. Nhưng Hạ Lộ chú ý hơn đến những cuộc thù tac giao lưu ứng đối của Lý Văn Phức với các văn sĩ Quảng Đông.
Đặc biệt trong cuộc xướng hoạ thơ văn ở chùa Hải Châu, sáng tác của Lý Văn Phức cùng với 9 vị văn nhân Trung - Việt khác đã được tập hợp lại trong cuốn Trung ngoại quần anh hội. Theo khảo cứu của Hạ L6,Quan anh hội là do Mậu Can Liên Tiên Lưu Mặc Trì lập ra, trong hội có 5 sứ thần Việt Nam là Lý Văn Phức, Nguyễn Văn Chương, Lê Văn Khiêm, Hoàng Văn Quýnh, Nhữ Bá Sĩ. Ban đầu lấy tên là Kỳ anh hội theo tên Kỳ anh hội của Văn Ngạn Bác, Tư Mã Quang đời Tống lập ra lúc ở Lạc Dương, sau mới đôi thành Quân 18 anh hội [142, 151]. Trọng tâm của công trình này, Hạ Lộ dành cho việc nghiên cứu về mỗi giao dutốt đẹp giữa Lý Văn Phức và những văn nhân đất Việt (Quảng Đông) mà tiêu biểu hơn cả là Mậu Cần Liên Tiên(1766-1835).
Dấu ấn của mối quan hệ mật thiết này còn được ghi lại trong tác phâm Việt hành ngâm thảo của viên quan họ Ly, cũng như trong đôi bai thơ xướng hoạ Tap Đường ký hoài Mậu Liên Tiên của Lý Văn Phức va Hoa tập Đường kiến tặng nguyên vận của Mậu Liên Tiên. Tiếc thay, lần thứ 3 Ly Văn Phức trở lại Quảng Đông, thì Mậu Can đã không còn nữa. Lý Lân Chi làm bài Diéu Liên Tiên văn dé khóc thương [142, 154]. Hạ Lộ còn tìm hiểu về những tri thức, kiến văn mới mẻ có xuất xứ từ phương Tây ma Lý Văn Phức lần đầu tiên được tiếp xúc khi đến Áo Môn (như nhiệt kế, cửa kính, bút chì.
Một chỉ tiết thú vị là tuy rất than phục trước kỹ thuật tiến tiến văn minh của phương Tây, nhưng Lý Văn Phức vẫn gọi người Bồ Đào Nha là "Di", gọi Tây Âu là "Tây Di", cho thấy quan niệm Hoa - Di được hun đúc bởi nền giáo dục Nho học đã in dấu sâu đậm trong tâm thức viên quan họ Lý. Phần cuối cùng của chuyên luận, Hạ Lộ đã dành cho việc khảo cứu ảnh hưởng của chuyến đi Quảng Đông, Áo Môn đến bộ phận sáng tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức. Hạ Lộ cho rằng, thực thi nhiệm vụ sưu tầm thư tịch của sứ tiết Việt Nam, Lý Văn Phức đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều trước tác cô điển Trung Hoa, từ đó mà phát sinh ảnh hưởng lớn đến những tác phâm diễn Nôm của ông như Nhi thập tứ hiếu diễn ca, Ngọc Kiểu Lê, Tây sương truyện. Dương Đại Vệ (Trung Quốc) vớiluận văn Thạc sĩ Nghiên cứu sứ thân Việt Nam Ly Văn Phức và quan hệ Thanh - Việt dau thé kỷ XIX (2014) [141] đã triển khai 5 chương nghiên cứu: Chương 1 - Cuộc doi Lý Văn Phúc va quan hệ Thanh - Việt thời kỳ này; Chương 2 - Khảo về những chuyến di Trung Hoa cua Ly Văn Phức; Chương 3 - Khảo thuật về con đường nhập cong của Lý Văn Phức; Chương 4 - Hiện thực xã hội Mân (Phúc Kiến), Việt (Quảng Đông) phản ảnh trong thơ văn Yên hành của Lý Văn Phức; Chương 5 - Cái nhìn Trung Quốc của Lý Văn Phức.
Có thê thấy, công trình này đã nghiên cứu khá tông thể và tường tận về 6 chuyến đi sứ phương Bắc của Lý Văn Phức, để qua đó thấy được tình hình bang giao Thanh - 19 Việt đầu thế kỷ XIX. Trong phần kết luận, Dương Đại Vệ viết: "Sứ thần Việt Nam Lý Văn Phức nhiều lần đến triều Thanh, có khi công cán, có khi triều công, trong khi tiếp xúc với tầng lớp tinh anh của xã hội triều Thanh là các sĩ đại phu, đã dé lại một số lượng thơ văn đáng kể.