Khóa Luận Tốt Nghiệp: Phân Tích Hình Ảnh Nông Thôn Trong Truyện Ngắn Của Kim Lân

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông thôn trong truyện ngắn của kim lân, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến thực tế.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

53
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp khoa học của khóa luận

0.8. Kết cấu của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Thể loại tiểu thuyết chương hồi trong văn học trung đại Việt Nam

1.1.1. Khái niệm

1.2. Quá trình hình thành và phát triển

1.3. Tác giả và tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí

1.3.1. Tác giả

1.3.2. Tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí

1.3.2.1. Hoàn cảnh ra đời
1.3.2.2. Tình trạng văn bản

2. CHƯƠNG 2: NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ TÁI HIỆN BỨC TRANH TOÀN CẢNH LỊCH SỬ THẾ KỈ XVI – THẾ KỈ XVII

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.2. Không gian, thời gian nghệ thuật

3.2.1. Không gian nghệ thuật

3.2.2. Thời gian nghệ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nông thôn trong truyện ngắn Kim Lân

Nông thôn là chủ đề trung tâm trong các tác phẩm của Kim Lân, một nhà văn nổi tiếng của văn học Việt Nam. Ông khắc họa đời sống nông thôn với sự chân thực và tinh tế, phản ánh những nét đẹp và cả những khó khăn của người dân quê. Truyện ngắn của Kim Lân không chỉ là câu chuyện về cuộc sống mà còn là bức tranh văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam.

1.1. Đời sống nông thôn

Đời sống nông thôn trong truyện ngắn Kim Lân được miêu tả qua những chi tiết sinh động, từ công việc đồng áng đến những sinh hoạt thường ngày. Nhân vật trong truyện của ông thường là những người nông dân chân chất, giàu tình cảm và lòng yêu quê hương. Kim Lân không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khơi gợi tình yêu và sự gắn bó với quê hương.

1.2. Văn hóa nông thôn

Văn hóa nông thôn được Kim Lân thể hiện qua những phong tục, tập quán và lối sống của người dân quê. Ông chú trọng đến những giá trị truyền thống, từ tình cảm gia đình đến tình làng nghĩa xóm. Những tác phẩm của ông không chỉ là câu chuyện văn học mà còn là tài liệu quý giá về văn hóa nông thôn Việt Nam.

II. Nghệ thuật kể chuyện của Kim Lân

Nghệ thuật kể chuyện của Kim Lân được đánh giá cao nhờ sự kết hợp giữa ngôn ngữ giản dị và cách xây dựng tình huống truyện độc đáo. Ông sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi với đời sống nông thôn, tạo nên sự chân thực và gần gũi cho tác phẩm. Tình huống truyện trong các tác phẩm của Kim Lân thường xoay quanh những sự kiện bình dị nhưng mang ý nghĩa sâu sắc.

2.1. Ngôn ngữ và miêu tả

Ngôn ngữ trong truyện ngắn Kim Lân mang đậm chất nông thôn, với những từ ngữ quen thuộc và cách diễn đạt tự nhiên. Nghệ thuật miêu tả của ông tập trung vào những chi tiết nhỏ nhưng giàu ý nghĩa, giúp người đọc hình dung rõ nét về cuộc sống và con người nông thôn.

2.2. Tâm tư nhân vật

Kim Lân đặc biệt thành công trong việc khắc họa tâm tư nhân vật. Ông đi sâu vào nội tâm của nhân vật, thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc và trăn trở của họ. Nhân vật trong truyện của Kim Lân không chỉ là những con người bình dị mà còn là những cá thể có chiều sâu tâm lý.

III. Giá trị và ứng dụng của tác phẩm

Các tác phẩm của Kim Lân không chỉ có giá trị văn học mà còn mang ý nghĩa thực tiễn. Chúng là tài liệu quý giá giúp hiểu rõ hơn về xã hội nông thôn Việt Nam, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần. Những tác phẩm này cũng góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

3.1. Giá trị văn học

Giá trị văn học của các tác phẩm Kim Lân nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật. Ông không chỉ kể chuyện mà còn truyền tải những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người. Những tác phẩm của ông là minh chứng cho sự phát triển của văn học Việt Nam.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Các tác phẩm của Kim Lân có ứng dụng thực tiễn trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học. Chúng cung cấp cái nhìn toàn diện về đời sống và văn hóa nông thôn, đồng thời khơi gợi tình yêu và sự trân trọng đối với quê hương, đất nước.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết này là Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm. Tiếp đến là sự ra đời của một số tiểu thuyết chương hồi: Hoan Châu kí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Nam sử lược, Hoàng Việt long hưng chí, Việt Lam tiểu sử… Tiểu thuyết chương hồi ra đời đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Cũng từ đây văn xuôi tự sự Việt Nam đã đủ sức đảm nhiệm trọng trách phản ảnh những vấn đề lịch sử - xã hội rộng lớn của dân tộc. Ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết chương hồi đã không được coi trọng do quan niệm và tâm lí thời đại lúc bấy giờ.

Nguyễn Đăng Na khi nghiên cứu về thể loại này từng khẳng định: “Một tâm lí chi phối khá sâu sắc các tác gia Việt Nam suốt thời trung đại là, văn chương tiểu thuyết thấp kém hơn văn chương lịch sử và văn lịch sử không trang trọng bằng văn thần phả” [15, 47]. Ông còn chỉ rõ: “Ở phương Đông trung đại, người ta cho văn chương tiểu thuyết là thứ mạt hạng, những chuyện ngoài đường trong ngõ – “nhai đàm hạng ngữ”, mà ta nghe ngoài đường rồi truyền lại ở ngoài đường – “đạo thính đồ thuyết”, một thứ chẳng quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình của bậc quân tử. Quan niệm này cũng nảy mần bén rễ trong đầu óc các nhà nho Việt Nam… Tâm lí này ngự trị khá dai dẳng ở Việt Nam và tới giữa thế kỉ XX vẫn 9 còn hết sức nặng nề. Cũng bởi tâm lí này, nhiều tác phẩm khi mới ra đời, rõ ràng mang đặc điểm của tiểu thuyết nhưng bản thân tác giả lại không thừa nhận đó là tiểu thuyết mà luôn biến tấu để gán thêm cho nó cái mác của thể sử.

Nhiều dịch giả sau khi dịch, vì không muốn tác phẩm bị liệt vào hàng tiểu thuyết nên đã tự ý thay đổi tên mặc dù không có đóng góp gì về nội dung. Chính những việc làm này đã vô tình kìm hãm sự phát triển của thể loại tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam. Tuy gặt hái được nhiều thành công trên phương diện nội dung và nghệ thuật nhưng số lượng tác phẩm lại tương đối hạn chế. Tác giả và tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 1.

Tác giả Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm sinh năm 1659 mất năm 1736. Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, tiên tổ của Nguyễn Khoa Chiêm gốc ở xứ Hải Dương. Ông nội của Nguyễn Khoa Chiêm là Nguyễn Đình Thân, là thuộc hạ của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa thì Đình Thân đi theo chủ tướng rồi nhập tịch ở huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (nay là huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế), đổi làm họ Nguyễn Khoa – khởi tổ của một dòng vọng tộc ở cố đô Huế [5, 5].

Nguyễn Khoa Chiêm, tự là Bảng Trung, là nhà văn – nhà hoạt động chính trị danh tiếng thời chúa Nguyễn Minh Vương ở Đàng Trong. Thuở trẻ, Nguyễn Khoa Chiêm theo Nho học rồi được bổ chức Thủ hạp, từng ra Quảng Bình đốc suất quân sĩ đắp Chính lũy. Năm Canh Dần (1710), ông được thăng chức Cai hạp ở Chính doanh, kiêm chức Tri bạ. Năm Ất Mùi (1715), ông được thăng đến chức Câu kê kiêm Tri bạ, được dự bàn việc triều chính.

Năm Mậu Tuất (1718), ông được thăng làm Cai bạ Phó đoán sự. Năm Giáp Thìn (1724), ông thăng đến chức Tham chính, Chánh đoán sự sau đó về Trí sĩ rồi 10 mất ở quê nhà, thọ 78 tuổi. Sau khi mất, ông được tặng hàm Đại lý thượng khanh, được ban tên thụy là Thuần Hậu. Tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 1.

Hoàn cảnh ra đời Theo Nguyễn Đăng Na, Nam triều công nghiệp diễn chí do Nguyễn Khoa Chiêm hoàn thành năm vào năm thứ 22 đời chúa Minh Vương (1719) ở Đàng Trong. Tác phẩm được Dương Thận Trai viết đề Tựa, Nguyễn Giản viết lời Bạt và Dương Công Tòng nhuận chính rồi đổi tên thành Việt Nam khai quốc chí truyện. Tác phẩm có rất nhiều tên gọi khác nhau như: Việt Nam khai quốc chí truyện, Nam triều công nghiệp diễn chí, Nam triều chí, Trịnh – Nguyễn diễn chí, Hoàng triều khai quốc chí, Công nghiệp chí … Tác phẩm ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến đang trên đà suy thoái, các thế lực thi nhau tranh giành quyền lực. Đất nước tạo thành cục diện tam phân Mạc – Trịnh – Nguyễn.

Chiến tranh Trịnh – Mạc chưa kết thúc thì nội chiến Trịnh – Nguyễn đã xảy ra. Không chỉ có thế, trong nội bộ các tập đoàn phong kiến cũng liên tục xảy ra những cuộc giao tranh đẫm máu. Binh biến liên miên, đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn, đời sống nhân dân lầm than, khổ cực, một cổ đôi ba tròng. Tình trạng văn bản Hiện nay có tất cả bốn truyền bản của Việt Nam khai quốc chí truyện đều ở dạng viết tay: một bản của Viện Hán Nôm, kí hiệu A.24/1-2; một bản của Viện Sử học, kí hiệu HV.503; hai bản của Thư viện Hiệp hội châu Á Paris, kí hiệu HM.

Tất cả đều mang tiêu đề Việt Nam khai quốc chí truyện. Các bản này đều có Tựa của Phong Sơn Dương Thận Trai, Bạt của tri huyện Phù Ninh là Giản. 11 Qua khảo sát văn bản và những tư liệu liên quan có thể nhất trí về tên gọi của tác phẩm này, hoặc gọi theo tên bản đầu là Nam triều công nghiệp diễn chí, hoặc gọi theo tên văn bản hiện còn là Việt Nam khai quốc chí truyện. Các truyền bản của Việt Nam khai quốc chí truyện hiện còn đều có những đoạn bị thiếu tương ứng với những chỗ phân chia chương hồi.

Chưa rõ đó là nguyên trạng của tác phẩm hay là vấn đề của các truyền bản chép tay. Chúng tôi có nghĩ rằng ở những thập niêm đầu thế kỉ này người ta thường coi trọng loại sách lịch sử, còn tiểu thuyết Hán văn Việt Nam chưa được chú ý mấy, có thể vì thế mà ranh giới phân chia chương hồi trong đã bị lược bỏ đi trong quá trình sao chép các truyền bản Việt Nam khai quốc chí truyện. Tóm tắt tác phẩm Tác phẩm bắt đầu từ sự kiện Nguyễn Hoàng dẫn hơn một nghìn quân thủy vượt biển vào trấn thủ Thuân Hóa năm 1558. Nói là trấn thủ nhưng thực chất ông đã cùng các tướng sĩ đấu tranh giành lấy phần đất phía nam Đèo Ngang từ tay nhà Mạc.

Sau khi giành được quyền trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vẫn giữ thái độ phiên thần với vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nhưng cũng đồng thời xây dựng lực lượng ở Đàng Trong phía Nam của Đèo Ngang. Khi anh rể là chúa Trịnh Kiểm mất năm 1570, Nguyễn Hoàng vẫn giữ trọn đạo và nể tình nghĩa mà sai người mang lễ vật ra phúng tang. Nhưng đầu năm 1593, khi quân Lê – Trịnh đuổi được nhà Mạc, thu phục Kinh đô, Nguyễn Hoàng phải về kinh chúc mừng vua Lê, rồi bị vua Lê giữ lại Thăng Long giữ chức Hữu thừa tướng, ngôi vị chỉ xếp sau Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm. Lúc đầu tình cảm giữa Nguyễn Hoàng và Trịnh Tùng rất tốt vì hai người vốn là cậu cháu.

Tuy nhiên, dần dần tình cảm này không còn được nguyên vẹn như trước vì càng ngày Trịnh Tùng càng nhận thấy Nguyễn Hoàng bộc lộ tài năng là con người mưu trí nên lấy làm lo ngại. Phải mất sáu 12 năm ở Đàng Ngoài, sau đó Nguyễn Hoàng mới lập mưu xui Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê làm phản rồi ông xin với Trịnh Tùng để mình đem quân đi đánh dẹp nhưng thực ra là nhân cơ hội đó mà bí mật dẫn quân ra cửa Chính Đại dong buồm trở về Thuận Hóa (1600). Từ đó cho đến khi qua đời, Nguyễn Hoàng liên tục khuyến khích, tạo điều kiện cho dân chúng an cư lập nghiệp, bờ cõi một vùng được hưng thịnh. Sau khi Nguyễn Hoàng mất, Đàng Trong do chúa Nguyễn Phúc Nguyên – con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng lên cai quản.

Từ đời Nguyễn Phúc Nguyên, quan hệ giữa chính quyền Thuận Quảng với triều đình ngày càng căng thẳng. Năm 1620, nhân dịp anh em chúa Nguyễn ở Đàng Trong vì tranh giành quyền lực mà lục đục, Nguyễn Khải phụng lệnh Trịnh Tráng đem năm nghìn quân vào đóng ở bờ Bắc sông Nhật Lệ để chờ cơ hội lấy cớ can thiệp mà tiến quân vào. Tuy không thực hiện được âm mưu can thiệp nhưng sự kiện này càng khiến mối quan hệ Trịnh – Nguyễn trở nên căng thẳng hơn. Đến năm 1627, cuộc giao tranh giữa hai thế lực Trịnh – Nguyễn chính thức bắt đầu, khai mào cho thời kì nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam.

Viện cớ chúa Nguyễn ở Đàng Trong không phụng lệnh cống nộp của vua Lê, quân Trịnhđưa quân tiến vào Nam Bố Chánh, vượt sông Nhật Lệ, tiến công các thủy trại của quân Nam. Quân Nam do Nguyễn Phúc Vệ làm Tiết chế và Chiêu Vũ Nguyễn Hữu Dật làm Giám chiến đặt sẵn thế trận thủy bộ chờ quân Trịnh. Sau đó, Chiêu Vũ Nguyễn Hữu Dật cho gián điệp của mình cải trang trà trộn về kinh thành phao tin Thăng Long có biến, Trịnh Tráng được tin lấy làm lo lắng, quân sĩ nhà Trịnh từ đây cũng trở nên chán nản với việc chính trường. Giữa lúc đó, nhà Nguyễn bất ngờ phản công khiến quân Trịnh trở tay không kịp, Trịnh Tráng thấy tình hình bất lợi bèn thu quân về.

13 Trận chiến thứ hai nổ ra từ năm 1630, trong thời gian này Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên vô cùng trọng dụng. Sau khi đắp lũy Trường Dục ở bờ Nam sông Nhật Lệ, quân Nguyễn tiến ra đánh quân Trịnh, chiếm phần phía Nam châu Bố Chánh, tức phần đất phía Bắc sông Nhật Lệ đến phía Nam sông Gianh. Trận chiến lần thứ ba năm 1634, quân Trịnh lại đem quân tiến sát bờ Nhật Lệ nhưng do chần chừ chờ nội ứng nên bị quân Nam đánh bại, phải rút chạy về Bắc. Lần thứ tư năm 1643 và lần thứ năm năm 1648 ,quân Trịnh lại tiếp tục đem quân đánh Đàng Trong nhằm thu phục vùng Nam Bố Chánh nhưng kết quả đều thất bại.

Trận chiến lần thứ sáu (1655), lần này quân Nguyễn đem quân ra Bắc đánh quân Trịnh. Trận chiến kéo dài trong gần 5 năm. Tuy có dành được nhiều thắng lợi nhưng do thời gian kéo dài, lương thực và đạn dược vận chuyển khó khăn nên kết quả bại trận và phải rút về phía Nam sông Gianh. Năm 1662, chưa đầy một năm sau, Trịnh Tạc sai con trai là Trịnh Căn đưa đại quân vào đánh nhà Nguyễn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khóa luận tốt nghiệp: Nông thôn trong truyện ngắn Kim Lân" tập trung phân tích hình ảnh nông thôn Việt Nam qua góc nhìn của nhà văn Kim Lân, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học hiện thực. Khóa luận không chỉ khắc họa chân thực cuộc sống, con người nông thôn mà còn làm nổi bật giá trị nhân văn và nghệ thuật trong truyện ngắn của ông. Độc giả sẽ hiểu sâu hơn về cách Kim Lân sử dụng ngôn ngữ giản dị, chân phương để phản ánh những vấn đề xã hội và tâm lý nhân vật. Đây là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến văn học Việt Nam và muốn khám phá sự gắn bó giữa văn chương với đời sống nông thôn.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về đề tài nông thôn trong văn học, hãy tham khảo Luận văn đề tài nông thôn trong sáng tác của Mạc Ngôn, một tác giả nổi tiếng với những tác phẩm phản ánh sâu sắc đời sống nông thôn Trung Quốc. Bên cạnh đó, Luận văn chất dân gian trong truyện ngắn Sơn Nam sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách các yếu tố dân gian được lồng ghép vào văn học. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ Việt Nam: Một số phương thức chiếu vật trong truyện ngắn của Nguyễn Tuân cũng là một tài liệu thú vị để khám phá nghệ thuật ngôn từ trong văn học hiện đại.