mở đầu, đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết này là Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm. Tiếp đến là sự ra đời của một số tiểu thuyết chương hồi: Hoan Châu kí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Nam sử lược, Hoàng Việt long hưng chí, Việt Lam tiểu sử… Tiểu thuyết chương hồi ra đời đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Cũng từ đây văn xuôi tự sự Việt Nam đã đủ sức đảm nhiệm trọng trách phản ảnh những vấn đề lịch sử - xã hội rộng lớn của dân tộc. Ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết chương hồi đã không được coi trọng do quan niệm và tâm lí thời đại lúc bấy giờ.
Nguyễn Đăng Na khi nghiên cứu về thể loại này từng khẳng định: “Một tâm lí chi phối khá sâu sắc các tác gia Việt Nam suốt thời trung đại là, văn chương tiểu thuyết thấp kém hơn văn chương lịch sử và văn lịch sử không trang trọng bằng văn thần phả” [15, 47]. Ông còn chỉ rõ: “Ở phương Đông trung đại, người ta cho văn chương tiểu thuyết là thứ mạt hạng, những chuyện ngoài đường trong ngõ – “nhai đàm hạng ngữ”, mà ta nghe ngoài đường rồi truyền lại ở ngoài đường – “đạo thính đồ thuyết”, một thứ chẳng quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình của bậc quân tử. Quan niệm này cũng nảy mần bén rễ trong đầu óc các nhà nho Việt Nam… Tâm lí này ngự trị khá dai dẳng ở Việt Nam và tới giữa thế kỉ XX vẫn 9 còn hết sức nặng nề. Cũng bởi tâm lí này, nhiều tác phẩm khi mới ra đời, rõ ràng mang đặc điểm của tiểu thuyết nhưng bản thân tác giả lại không thừa nhận đó là tiểu thuyết mà luôn biến tấu để gán thêm cho nó cái mác của thể sử.
Nhiều dịch giả sau khi dịch, vì không muốn tác phẩm bị liệt vào hàng tiểu thuyết nên đã tự ý thay đổi tên mặc dù không có đóng góp gì về nội dung. Chính những việc làm này đã vô tình kìm hãm sự phát triển của thể loại tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam. Tuy gặt hái được nhiều thành công trên phương diện nội dung và nghệ thuật nhưng số lượng tác phẩm lại tương đối hạn chế. Tác giả và tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 1.
Tác giả Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm sinh năm 1659 mất năm 1736. Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, tiên tổ của Nguyễn Khoa Chiêm gốc ở xứ Hải Dương. Ông nội của Nguyễn Khoa Chiêm là Nguyễn Đình Thân, là thuộc hạ của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa thì Đình Thân đi theo chủ tướng rồi nhập tịch ở huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa (nay là huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế), đổi làm họ Nguyễn Khoa – khởi tổ của một dòng vọng tộc ở cố đô Huế [5, 5].
Nguyễn Khoa Chiêm, tự là Bảng Trung, là nhà văn – nhà hoạt động chính trị danh tiếng thời chúa Nguyễn Minh Vương ở Đàng Trong. Thuở trẻ, Nguyễn Khoa Chiêm theo Nho học rồi được bổ chức Thủ hạp, từng ra Quảng Bình đốc suất quân sĩ đắp Chính lũy. Năm Canh Dần (1710), ông được thăng chức Cai hạp ở Chính doanh, kiêm chức Tri bạ. Năm Ất Mùi (1715), ông được thăng đến chức Câu kê kiêm Tri bạ, được dự bàn việc triều chính.
Năm Mậu Tuất (1718), ông được thăng làm Cai bạ Phó đoán sự. Năm Giáp Thìn (1724), ông thăng đến chức Tham chính, Chánh đoán sự sau đó về Trí sĩ rồi 10 mất ở quê nhà, thọ 78 tuổi. Sau khi mất, ông được tặng hàm Đại lý thượng khanh, được ban tên thụy là Thuần Hậu. Tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 1.
Hoàn cảnh ra đời Theo Nguyễn Đăng Na, Nam triều công nghiệp diễn chí do Nguyễn Khoa Chiêm hoàn thành năm vào năm thứ 22 đời chúa Minh Vương (1719) ở Đàng Trong. Tác phẩm được Dương Thận Trai viết đề Tựa, Nguyễn Giản viết lời Bạt và Dương Công Tòng nhuận chính rồi đổi tên thành Việt Nam khai quốc chí truyện. Tác phẩm có rất nhiều tên gọi khác nhau như: Việt Nam khai quốc chí truyện, Nam triều công nghiệp diễn chí, Nam triều chí, Trịnh – Nguyễn diễn chí, Hoàng triều khai quốc chí, Công nghiệp chí … Tác phẩm ra đời trong bối cảnh xã hội phong kiến đang trên đà suy thoái, các thế lực thi nhau tranh giành quyền lực. Đất nước tạo thành cục diện tam phân Mạc – Trịnh – Nguyễn.
Chiến tranh Trịnh – Mạc chưa kết thúc thì nội chiến Trịnh – Nguyễn đã xảy ra. Không chỉ có thế, trong nội bộ các tập đoàn phong kiến cũng liên tục xảy ra những cuộc giao tranh đẫm máu. Binh biến liên miên, đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn, đời sống nhân dân lầm than, khổ cực, một cổ đôi ba tròng. Tình trạng văn bản Hiện nay có tất cả bốn truyền bản của Việt Nam khai quốc chí truyện đều ở dạng viết tay: một bản của Viện Hán Nôm, kí hiệu A.24/1-2; một bản của Viện Sử học, kí hiệu HV.503; hai bản của Thư viện Hiệp hội châu Á Paris, kí hiệu HM.
Tất cả đều mang tiêu đề Việt Nam khai quốc chí truyện. Các bản này đều có Tựa của Phong Sơn Dương Thận Trai, Bạt của tri huyện Phù Ninh là Giản. 11 Qua khảo sát văn bản và những tư liệu liên quan có thể nhất trí về tên gọi của tác phẩm này, hoặc gọi theo tên bản đầu là Nam triều công nghiệp diễn chí, hoặc gọi theo tên văn bản hiện còn là Việt Nam khai quốc chí truyện. Các truyền bản của Việt Nam khai quốc chí truyện hiện còn đều có những đoạn bị thiếu tương ứng với những chỗ phân chia chương hồi.
Chưa rõ đó là nguyên trạng của tác phẩm hay là vấn đề của các truyền bản chép tay. Chúng tôi có nghĩ rằng ở những thập niêm đầu thế kỉ này người ta thường coi trọng loại sách lịch sử, còn tiểu thuyết Hán văn Việt Nam chưa được chú ý mấy, có thể vì thế mà ranh giới phân chia chương hồi trong đã bị lược bỏ đi trong quá trình sao chép các truyền bản Việt Nam khai quốc chí truyện. Tóm tắt tác phẩm Tác phẩm bắt đầu từ sự kiện Nguyễn Hoàng dẫn hơn một nghìn quân thủy vượt biển vào trấn thủ Thuân Hóa năm 1558. Nói là trấn thủ nhưng thực chất ông đã cùng các tướng sĩ đấu tranh giành lấy phần đất phía nam Đèo Ngang từ tay nhà Mạc.
Sau khi giành được quyền trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vẫn giữ thái độ phiên thần với vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nhưng cũng đồng thời xây dựng lực lượng ở Đàng Trong phía Nam của Đèo Ngang. Khi anh rể là chúa Trịnh Kiểm mất năm 1570, Nguyễn Hoàng vẫn giữ trọn đạo và nể tình nghĩa mà sai người mang lễ vật ra phúng tang. Nhưng đầu năm 1593, khi quân Lê – Trịnh đuổi được nhà Mạc, thu phục Kinh đô, Nguyễn Hoàng phải về kinh chúc mừng vua Lê, rồi bị vua Lê giữ lại Thăng Long giữ chức Hữu thừa tướng, ngôi vị chỉ xếp sau Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm. Lúc đầu tình cảm giữa Nguyễn Hoàng và Trịnh Tùng rất tốt vì hai người vốn là cậu cháu.
Tuy nhiên, dần dần tình cảm này không còn được nguyên vẹn như trước vì càng ngày Trịnh Tùng càng nhận thấy Nguyễn Hoàng bộc lộ tài năng là con người mưu trí nên lấy làm lo ngại. Phải mất sáu 12 năm ở Đàng Ngoài, sau đó Nguyễn Hoàng mới lập mưu xui Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê làm phản rồi ông xin với Trịnh Tùng để mình đem quân đi đánh dẹp nhưng thực ra là nhân cơ hội đó mà bí mật dẫn quân ra cửa Chính Đại dong buồm trở về Thuận Hóa (1600). Từ đó cho đến khi qua đời, Nguyễn Hoàng liên tục khuyến khích, tạo điều kiện cho dân chúng an cư lập nghiệp, bờ cõi một vùng được hưng thịnh. Sau khi Nguyễn Hoàng mất, Đàng Trong do chúa Nguyễn Phúc Nguyên – con trai thứ sáu của Nguyễn Hoàng lên cai quản.
Từ đời Nguyễn Phúc Nguyên, quan hệ giữa chính quyền Thuận Quảng với triều đình ngày càng căng thẳng. Năm 1620, nhân dịp anh em chúa Nguyễn ở Đàng Trong vì tranh giành quyền lực mà lục đục, Nguyễn Khải phụng lệnh Trịnh Tráng đem năm nghìn quân vào đóng ở bờ Bắc sông Nhật Lệ để chờ cơ hội lấy cớ can thiệp mà tiến quân vào. Tuy không thực hiện được âm mưu can thiệp nhưng sự kiện này càng khiến mối quan hệ Trịnh – Nguyễn trở nên căng thẳng hơn. Đến năm 1627, cuộc giao tranh giữa hai thế lực Trịnh – Nguyễn chính thức bắt đầu, khai mào cho thời kì nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh trong lịch sử Việt Nam.
Viện cớ chúa Nguyễn ở Đàng Trong không phụng lệnh cống nộp của vua Lê, quân Trịnhđưa quân tiến vào Nam Bố Chánh, vượt sông Nhật Lệ, tiến công các thủy trại của quân Nam. Quân Nam do Nguyễn Phúc Vệ làm Tiết chế và Chiêu Vũ Nguyễn Hữu Dật làm Giám chiến đặt sẵn thế trận thủy bộ chờ quân Trịnh. Sau đó, Chiêu Vũ Nguyễn Hữu Dật cho gián điệp của mình cải trang trà trộn về kinh thành phao tin Thăng Long có biến, Trịnh Tráng được tin lấy làm lo lắng, quân sĩ nhà Trịnh từ đây cũng trở nên chán nản với việc chính trường. Giữa lúc đó, nhà Nguyễn bất ngờ phản công khiến quân Trịnh trở tay không kịp, Trịnh Tráng thấy tình hình bất lợi bèn thu quân về.
13 Trận chiến thứ hai nổ ra từ năm 1630, trong thời gian này Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên vô cùng trọng dụng. Sau khi đắp lũy Trường Dục ở bờ Nam sông Nhật Lệ, quân Nguyễn tiến ra đánh quân Trịnh, chiếm phần phía Nam châu Bố Chánh, tức phần đất phía Bắc sông Nhật Lệ đến phía Nam sông Gianh. Trận chiến lần thứ ba năm 1634, quân Trịnh lại đem quân tiến sát bờ Nhật Lệ nhưng do chần chừ chờ nội ứng nên bị quân Nam đánh bại, phải rút chạy về Bắc. Lần thứ tư năm 1643 và lần thứ năm năm 1648 ,quân Trịnh lại tiếp tục đem quân đánh Đàng Trong nhằm thu phục vùng Nam Bố Chánh nhưng kết quả đều thất bại.
Trận chiến lần thứ sáu (1655), lần này quân Nguyễn đem quân ra Bắc đánh quân Trịnh. Trận chiến kéo dài trong gần 5 năm. Tuy có dành được nhiều thắng lợi nhưng do thời gian kéo dài, lương thực và đạn dược vận chuyển khó khăn nên kết quả bại trận và phải rút về phía Nam sông Gianh. Năm 1662, chưa đầy một năm sau, Trịnh Tạc sai con trai là Trịnh Căn đưa đại quân vào đánh nhà Nguyễn.