Tổng quan luận án

Luận án Giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của nghiên cứu sinh Lâm Văn Đồng được bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 62.05), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Sĩ Phán và GS.TS Nguyễn Ngọc Long.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu. Tác giả xác định bối cảnh cấp thiết ở hai chiều. Chiều thứ nhất là yêu cầu phát triển ngành y tế trong điều kiện kinh tế–xã hội đổi mới: nhu cầu khám chữa bệnh tăng cao trong khi năng lực đáp ứng của ngành còn hạn chế, quá trình xã hội hóa y tế mở rộng khu vực tư nhân đặt ra nhiều vấn đề quản lí mới. Chiều thứ hai là tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường dẫn đến sự xuống cấp đạo đức ở một bộ phận người thầy thuốc, biểu hiện cụ thể là vô trách nhiệm trong khám chữa bệnh, thái độ cửa quyền với bệnh nhân và hiện tượng đòi lệ phí ngầm. Tác giả chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu trước đây hoặc tiếp cận từ góc độ quản lí ngành, hoặc thiên về mô tả thực trạng đạo đức người thầy thuốc mà chưa nghiên cứu chuyên sâu giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc như một vấn đề độc lập dưới góc độ triết học.

Mục đích và nhiệm vụ. Mục đích tổng quát: trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc, luận án phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam. Bốn nhiệm vụ được tác giả xác định là: (1) khảo sát, đánh giá tài liệu liên quan để xác định vấn đề nghiên cứu; (2) xác định khái niệm giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc và luận chứng sự cần thiết cùng các nội dung chủ yếu; (3) phân tích các nhân tố tác động và đánh giá thực trạng; (4) đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng: đạo đức người thầy thuốc và giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam. Trong luận án, "người thầy thuốc" được xác định là các y, bác sĩ khám chữa bệnh và điều dưỡng; cán bộ quản lí y tế, dược sĩ và nhân viên y tế khác chỉ được đề cập trong chừng mực liên quan. Phạm vi thời gian: từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến thời điểm nghiên cứu.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả tổ chức khảo sát tài liệu theo ba hướng chính.

Hướng thứ nhất: tầm quan trọng và nội dung của giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc. Các công trình tiêu biểu được điểm: Đạo đức y học (Hoàng Đình Cầu, Trường Đại học Y Hà Nội, 1991); Nguồn gốc của y đức: Sự đóng góp của nền y học vào văn hóa Việt Nam (Ngô Gia Hy, Nxb. Y học, 1995) và Y đức và đạo đức y học, nguồn gốc và sự phát triển (Ngô Gia Hy, Nxb. Y học, 1999); Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (Đỗ Nguyên Phương, Nxb. Y học, 1996); Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông và cơ sở tư tưởng của nghề làm thuốc, chữa bệnh (Trần Văn Thụy, Nxb. Y học, 2000); Đạo đức và y học và Một số sự kiện hàng ngày ở bệnh viện (Nguyễn Văn Lê, Nxb. Y học, 1999 và 2000); luận án tiến sĩ Tư tưởng triết học về con người qua tác phẩm y học của Hải Thượng Lãn Ông (Phạm Công Nhất, Hà Nội, 2001); luận án tiến sĩ Nâng cao đạo đức người thầy thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta (Lê Thị Lí, Hà Nội, 2011); luận văn thạc sĩ Vấn đề giáo dục y đức cho sinh viên ngành y ở thành phố Hà Nội hiện nay (Hoàng Thị Kim Oanh, Hà Nội, 2007); Những bậc thầy nổi danh về y đức (Quý Long và Kim Thư, Nxb. Y học, 2013); và một số bài báo trên tạp chí của Trần Văn Thụy (Tạp chí Nghiên cứu Y học, số 2/1997), Phạm Công Nhất (Tạp chí Giáo dục lí luận, số 6/1999), Phạm Mạnh Hùng (Tạp chí Cộng sản, số 7/2002), Nguyễn Hiền Lương (Tạp chí Cộng sản, số 1/2013). Bộ Y tế ban hành Quy chế về y đức năm 1996 cùng nhiều Quyết định liên quan (Quyết định số 2088/QĐ-BYT năm 1996, Quyết định số 2526 QĐ-BYT năm 1999, Quyết định số 2965 QĐ-BYT năm 1999) cũng được đưa vào khảo sát.

Hướng thứ hai: thực trạng giáo dục đạo đức. Tác giả khảo sát các công trình của Bộ Y tế: Giáo dục và đào tạo nhân lực y tế – Dự án WHO-HRH-001 (Nxb. Y học, 2001) và Ngành y tế Việt Nam vững bước vào thế kỉ XXI (Nxb. Y học, 2002); đề tài khảo sát thực hành y đức tại một số bệnh viện của Phạm Minh Đức và cộng sự (2006–2008); cùng các công trình Quy định y đức và tiêu chuẩn phấn đấu (Lê Ngọc Trọng, Nxb. Y học, 1999), Quản lí y tế (Trương Việt Dũng, Nxb. Y học, 2006).

Hướng thứ ba: quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả. Nổi bật là các công trình Tâm lí y đức (Đàm Thị Tuyết, Nxb. Y học, 2007), Nâng cao y đức cách mạng của cán bộ nhân viên trong các bệnh viện quân y hiện nay (Nguyễn Quang Thẩm, Nxb. Quân đội nhân dân, 2012); bài phát biểu của Trần Thị Trung Chiến nhân ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2/2007.

Khoảng trống luận án giải quyết. Tác giả xác định: (i) chưa có công trình nào nghiên cứu giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc như một vấn đề độc lập từ góc độ triết học một cách hệ thống; (ii) nội dung giáo dục đạo đức trong các công trình trước thường giới hạn ở quan hệ nghề nghiệp mà chưa tính đến tư cách công dân của người thầy thuốc; (iii) đánh giá thực trạng còn thiên về thực trạng đạo đức hơn là đánh giá trực tiếp bản thân công tác giáo dục đạo đức; (iv) các giải pháp được đề xuất chưa tạo thành hệ thống nhất quán.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận. Luận án được thực hiện trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác–Lênin. Tác giả sử dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và y đức làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đồng thời vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới, phát triển ngành y tế, xây dựng con người và giáo dục đạo đức. Các khái niệm lí luận trung tâm gồm: đạo đức nghề nghiệp, y đức, nhân cách (với hai thành tố đức và tài theo quan điểm của Hồ Chí Minh), giáo dục đạo đức (theo nghĩa rộng bao gồm cả giáo dục theo nghĩa hẹp và tự giáo dục). Luận án xác định giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc là "tác động có mục đích, có hệ thống của chủ thể đến người thầy thuốc thông qua những hình thức giáo dục nhất định nhằm hình thành những phẩm chất, những năng lực đạo đức ở người thầy thuốc theo mong muốn của chủ thể."

Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp chủ đạo là biện chứng duy vật. Kết hợp sử dụng các phương pháp: lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa. Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính, tiếp cận qua phân tích văn bản, phân tích lịch sử tư tưởng và so sánh lí luận.

Nguồn tư liệu. Tư liệu chính gồm các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các văn bản pháp quy của Bộ Y tế; các công trình khoa học (sách chuyên khảo, luận án, luận văn, bài tạp chí) trong lĩnh vực y đức và giáo dục y đức; các tác phẩm kinh điển của danh y trong và ngoài nước từ thời cổ đại đến nay.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này thực hiện nhiệm vụ điểm luận tài liệu theo ba nhóm vấn đề: tầm quan trọng và nội dung, thực trạng, quan điểm và giải pháp của giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc. Qua đó, tác giả xác định bốn khoảng trống chính mà luận án sẽ lấp đầy: cần luận giải lí luận đầy đủ hơn về tầm quan trọng của giáo dục đạo đức; cần mở rộng nội dung giáo dục sang chiều tư cách công dân; cần đánh giá trực tiếp bản thân hoạt động giáo dục đạo đức; và cần đề xuất giải pháp có tính hệ thống.

Chương 2: Một số vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở nước ta hiện nay

Chương này xây dựng khung lí luận tổng thể. Tác giả phân tích khái niệm đạo đức nghề nghiệp xuất phát từ luận điểm của Ph. Ăngghen: "mỗi giai cấp, và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình." Từ đó, y đức được xác định là lĩnh vực đạo đức nghề nghiệp hình thành sớm nhất trong lịch sử nhân loại, bị quy định bởi tính đặc thù của nghề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người.

Tác giả khảo sát lịch sử tư tưởng y đức qua các danh y: Hippocrates (thế kỷ IV TCN) với Lời thề Hippocrates đặt ra các chuẩn mực trong quan hệ thầy thuốc–đồng nghiệp–bệnh nhân–xã hội; y học Ấn Độ cổ đại trong kinh Aiur Veda; danh y Trung Hoa Biển Thước (401–310), Hoa Đà (145–208), Trương Trọng Cảnh (150–219), Vương Thúc Hòa (220–280); và ở Việt Nam là Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), Lê Hữu Trác (1720–1791) với hệ thống tám phẩm chất (Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần) và tám tội cần tránh (lười, keo kiệt, tham, lừa dối, bất nhân, hẹp hòi, thất đức, dốt), Nguyễn Đình Chiểu (1812–1888). Tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày qua Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế (2/1955) và Thư gửi Hội nghị Quân y (3/1948), trong đó danh hiệu "Thầy thuốc như mẹ hiền" được phân tích như vừa là sự ghi nhận vừa là đòi hỏi về phẩm chất.

Về cấu trúc nhân cách, tác giả sử dụng cặp khái niệm đức–tài theo quan điểm Hồ Chí Minh: đức là nền tảng ("không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"), đức và tài có quan hệ biện chứng ("có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa"). Giáo dục đạo đức được trình bày theo nghĩa rộng, bao hàm tác động từ chủ thể và tự giáo dục của đối tượng. Các chủ thể giáo dục được phân tầng: Đảng và Nhà nước (cấp vĩ mô), Bộ Y tế và các cơ sở y tế (cấp trung gian), các trường y (cấp đào tạo), và chính người thầy thuốc (tự giáo dục).

Nội dung giáo dục đạo đức được xác định theo sáu mối quan hệ: (1) giáo dục chuẩn mực đạo đức công dân; (2) đạo đức trong quan hệ với bệnh nhân; (3) đạo đức trong quan hệ với đồng nghiệp; (4) đạo đức trong quan hệ với khoa y học; (5) đạo đức trong quan hệ với xã hội; (6) đạo đức trong quan hệ với bản thân.

Chương 3: Giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở Việt Nam hiện nay – những nhân tố tác động, thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương này phân tích các nhân tố tác động theo hai chiều chủ quan và khách quan, sau đó đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức theo ba cấp độ: xã hội, cơ sở, và cá nhân (tự giáo dục).

Ở cấp độ xã hội, tác giả ghi nhận Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản định hướng như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (Quốc hội thông qua năm 1989), Pháp lệnh về hành nghề y tế tư nhân (Chủ tịch nước phê duyệt năm 1993), Nghị quyết số 90/CP (1997) về xã hội hóa y tế, Nghị quyết 37/CP (1996) về định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 1996–2020.

Ở cấp độ cơ sở, các thành tựu bao gồm: đưa môn Đạo đức nghề nghiệp vào chương trình giảng dạy tại các trường y; triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; thiết lập hòm thư phản ánh ý kiến bệnh nhân và đường dây nóng 24/24; thực hiện chủ trương "Nói không với phong bì".

Tác giả xác định ba vấn đề chủ yếu cần giải quyết: (1) vấn đề đầu tư cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ; (2) vấn đề quản lí cơ sở vật chất và quản lí hoạt động nghề nghiệp; (3) những bất cập của công tác giáo dục đạo đức. Về bất cập, tác giả chỉ ra: lương cán bộ y tế thấp, cơ sở y tế quá tải; không có hội đoàn chuyên nghiệp (y sĩ đoàn, nha sĩ đoàn); chưa có khung pháp lí chặt chẽ xử lí vi phạm y đức; đào tạo chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng; chưa có giáo trình y đức thống nhất.

Chương 4: Quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc ở nước ta hiện nay

Chương đề xuất hai quan điểm định hướng: (1) quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức trong toàn bộ công tác giáo dục y đức; (2) gắn giáo dục đạo đức với sự phát triển ngành y tế trong giai đoạn hiện nay.

Sáu giải pháp chủ yếu được đề xuất: (1) tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phát triển nhân lực y tế; (2) nâng cao hiệu quả quản lí tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục đạo đức; (3) tăng cường vai trò của pháp luật trong giáo dục đạo đức, tiến tới xây dựng Luật y đức Việt Nam; (4) đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức — bao gồm xây dựng giáo trình thống nhất, bổ sung nội dung về Lời thề Hippocrates, Tuyên ngôn Geneva, truyền thống y đức dân tộc và những lời dạy của Hồ Chí Minh, tăng thêm thời lượng thực hành môn y đức; (5) khuyến khích tính chủ động và tạo điều kiện thuận lợi cho người thầy thuốc tự giáo dục, rèn luyện; (6) nâng cao trách nhiệm của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và dư luận xã hội trong giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu hai đóng góp mới chính:

  • Góp phần luận chứng sự cần thiết và làm rõ hơn nội dung của giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc thông qua phân tích các quan hệ cụ thể của người thầy thuốc — đặc biệt là mở rộng nội dung sang chiều tư cách công dân, vượt ra ngoài khuôn khổ y đức theo nghĩa hẹp.

  • Thông qua phân tích thực trạng, luận án xác định 3 vấn đề chủ yếu cần giải quyết; đồng thời đề xuất quan điểm và hệ giải pháp có tính hệ thống và toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc.

Về ý nghĩa thực tiễn, tác giả xác định luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy đạo đức nghề nghiệp tại các trường thuộc ngành y; các kết quả nghiên cứu cũng mang ý nghĩa khuyến nghị đối với công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người thầy thuốc ở Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản không trình bày mục riêng về hạn chế của luận án. Dựa trên phạm vi nghiên cứu đã xác định, có thể ghi nhận: luận án giới hạn đối tượng ở y, bác sĩ khám chữa bệnh và điều dưỡng, chưa bao quát dược sĩ, cán bộ quản lí y tế và các nhóm nhân lực y tế khác. Nghiên cứu tiếp cận lí luận và phân tích tài liệu, chưa triển khai khảo sát định lượng hoặc phỏng vấn sâu trực tiếp với người thầy thuốc và bệnh nhân. Đây là những hướng có thể được khai thác trong các nghiên cứu tiếp theo.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm sau:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên triết học, đạo đức học quan tâm đến đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là hướng tiếp cận từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử ứng dụng vào lĩnh vực y tế.
  • Giảng viên các trường y có thể tham khảo phần xác định nội dung giáo dục đạo đức theo sáu quan hệ (Chương 2) và hệ thống giải pháp đổi mới chương trình môn y đức (Chương 4) để cập nhật giáo trình.
  • Cán bộ quản lí ngành y tế ở cấp Bộ, Sở và cơ sở khám chữa bệnh có thể tham khảo phần phân tích thực trạng ba cấp độ (Chương 3) và các giải pháp về quản lí, pháp luật, chế độ đãi ngộ (Chương 4).
  • Nhà hoạch định chính sách quan tâm đến chủ trương xây dựng Luật y đức Việt Nam có thể tham khảo phần khảo sát lịch sử tư tưởng y đức và khung nội dung chuẩn mực (Chương 2) cùng kiến nghị về khung pháp lí (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định "người thầy thuốc" theo nghĩa nào và tại sao cần giới hạn? Trong luận án, người thầy thuốc được xác định là các y, bác sĩ khám chữa bệnh và điều dưỡng sức khỏe cho bệnh nhân. Cán bộ quản lí y tế, dược sĩ và nhân viên y tế khác chỉ được đề cập trong chừng mực liên quan đến đạo đức và giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc. Giới hạn này nhằm tập trung nghiên cứu vào nhóm có quan hệ trực tiếp nhất với bệnh nhân, nơi các vấn đề đạo đức nghề nghiệp thể hiện rõ nét nhất.

2. Tác giả phân biệt "giáo dục đạo đức" và "nâng cao đạo đức" như thế nào? Tác giả cho rằng hai vấn đề này có quan hệ nhưng không đồng nhất. Thực trạng đạo đức người thầy thuốc là chỉ báo, thước đo hiệu quả của giáo dục đạo đức, nhưng đây là kết quả, không phải bản thân quá trình giáo dục. Vì vậy, luận án xác định nhiệm vụ trung tâm là đánh giá trực tiếp công tác giáo dục đạo đức (nội dung, hình thức, chủ thể, đối tượng, điều kiện), không chỉ đánh giá gián tiếp qua kết quả đạo đức.

3. Lí do nào khiến tác giả mở rộng nội dung giáo dục đạo đức sang "tư cách công dân"? Tác giả lập luận rằng không thể tách bạch tuyệt đối tư cách công dân và tư cách người thầy thuốc trong cùng một con người. Người thầy thuốc trước hết cần thấm nhuần những chuẩn mực đạo đức công dân; điều đó tạo điều kiện thuận lợi để rèn luyện đạo đức nghề nghiệp. Đây là điểm tác giả cho rằng các công trình trước đây chưa đề cập đủ, khi chỉ giới hạn trong khuôn khổ y đức theo nghĩa hẹp.

4. Tám phẩm chất và tám tội của Lê Hữu Trác được luận án sử dụng như thế nào? Tám phẩm chất (Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần) từ tác phẩm Hải thượng y tông tâm lĩnh và tám tội (lười, keo kiệt, tham, lừa dối, bất nhân, hẹp hòi, thất đức, dốt) từ Y án âm được trình bày trong Chương 2 như một minh chứng lịch sử về hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cụ thể, toàn diện và có giá trị tham chiếu cho việc xác định nội dung giáo dục đạo đức hiện nay.

5. Luận án đề xuất những bước cụ thể nào để đổi mới chương trình môn y đức tại các trường y? Chương 4 đề xuất: xây dựng giáo trình thống nhất phù hợp điều kiện hiện nay; tăng thêm thời lượng học lí luận và thực hành môn y đức; quy định tiêu chuẩn chuyên môn và đạo đức của giảng viên giảng dạy môn này; bổ sung vào giáo trình các nội dung về Lời thề Hippocrates, Tuyên ngôn Geneva, Luật quốc tế về y đức, yêu cầu y đức của Lê Hữu Trác, lời dạy của Hồ Chí Minh, và gương của các thầy thuốc Việt Nam tiêu biểu.


Kết luận

Luận án tiến sĩ triết học của Lâm Văn Đồng (2015) tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp khảo sát lịch sử tư tưởng y đức từ Hippocrates đến Hồ Chí Minh với phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức ở Việt Nam từ thời kì đổi mới. Điểm đóng góp được tác giả nhấn mạnh là mở rộng nội dung giáo dục đạo đức sang chiều tư cách công dân và đề xuất hệ giải pháp có tính hệ thống thay vì các biện pháp rời rạc như trong nhiều công trình trước. Luận án có phạm vi nghiên cứu giới hạn ở y, bác sĩ và điều dưỡng trong hệ thống y tế công lẫn tư tại Việt Nam, và hướng tiếp cận định tính triết học là phương thức chủ đạo xuyên suốt bốn chương.