Chương 1 GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ thể sáng tạo]. Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các sản phẩm kiến tạo về mặt xã hội. Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh văn hóa xã hội. Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giới nữ Giới (gender) khác với giới tính (sex).
Lâu nay trong một số thực hành phê bình văn học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn lộn, thay thế cho nhau. Theo các nhà xã hội học, giới tính lá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh lý căn bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản” [132, tr. Còn khái niệm giới đề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã hội và văn hóa. Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của văn hóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính” [132, tr.17], giới là “cấu trúc văn hóa - xã hội” [132, tr.20], “giới được tạo thành không chỉ trong gia đình hoặc trong quan hệ giữa các cá nhân mà còn trong cấu trúc của tất cả các thiết chế xã hội chủ yếu, bao gồm trường học, tôn giáo, kinh tế và chính trị; những thiết chế này định hướng cho tất cả chúng ta nam giới hay phụ nữ, những thành viên trong một xã hội cụ thể” [132, tr.
Giới tính là thuật ngữ chỉ “những đặc điểm nhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam với một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuất sinh học của con người” [132, tr. Trong khi giới tính là một đặc trưng sinh học thì giới là một đặc trưng xã hội-văn hóa. Vì là đặc điểm sinh học nên giới tính có tính bẩm sinh, đồng nhất, phổ quát và không thay 9 đổi; cũng như vậy, do là đặc trưng văn hóa-xã hội nên giới có là sản phẩm xã hội hóa, có tính đa dạng, đặc thù cho từng thời kỳ, văn hóa, xã hội và có thể thay đổi. Theo các nhà nữ quyền luận, không chỉ giới mà cả giới tính đều là các kiến tạo xã hội.
Không có sự khác biệt tự nhiên giữa giới nam và giới nữ, yếu tố sinh học không quy định các hành vi xã hội của con người, mà chính cấu trúc văn hóa xã hội [thông qua các thiết chế như gia đình, nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng…] quy định sự khác biệt đó. Sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ là do xã hội, văn hóa tạo nên chứ không phải là sự tồn tại đương nhiên, tự nhiên, sẵn có. Ngay cả giới tính cũng có thể do xã hội, văn hóa tạo nên, tạo ra. Diễn ngôn là ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ trong sự hành chức của nó.
Nói đến diễn ngôn là “nói đến những phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ” [158, tr. Diễn ngôn là quá trình kí hiệu hóa để tạo nghĩa. “Diễn ngôn được tạo lập nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộc sống. Diễn ngôn, đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng với những thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể và mối quan hệ quyền lực.
Được bắt rễ trong ngôn ngữ, diễn ngôn tạo ra niềm tin, niềm tin biến thành tri thức, và tri thức tạo nên quyền lực. Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn khách quan” [149, tr. Mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn hóa, xã hội. Khái niệm diễn ngôn của giới nữ khác với diễn ngôn về giới nữ.
Khái niệm thứ nhất đề cập đến giới nữ như một chủ thể, xác định giới nữ có một diễn ngôn so với giới nam. Diễn ngôn của giới nữ có thể kiến tạo nghĩa cho bất cứ hiện tượng, đối tượng nào Trong khi đó khái niệm thứ hai, cho thấy, giới nữ là đối tượng định nghĩa của diễn ngôn, chủ thể của diễn ngôn đó có thể là giới nam hoặc chính là giới nữ. Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạo xã hội Như đã nói ở trên (đồng thời cũng là quan điểm của luận văn này), giới nam và giới nữ là sản phẩm của sự kiến tạo xã hội. Nam tính và nữ tính trong phạm vi luận văn không được dùng theo nghĩa sinh học, mà là những kiến tạo xã 10 hội, văn hóa.
Nam tính và nữ tính không phải là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm của xã hội. Thừa nhận, nam tính và nữ tính là sản phẩm văn hóa, thì “tất yếu phải chấp nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam tính (masculine) hay nữ tính (femininity). Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác. Điều này giải thích vì sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện nay nam tính hay nữ tính thường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính (masculinities) và những – nữ tính (femininities).
… những quy phạm về nữ tính và nam tính không phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn ngôn được kiến tạo từ một hệ hình tri thức và những tương quan quyền lực của một thời đại cụ thể. Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa - xã hội "Đàn ông có thể coi văn chương như một thứ say mê, tạo kỳ đài. Còn đàn bà viết văn xưa nay phần nhiều là để trải lòng. Viết cho mình.
Viết bằng thứ bản năng mách bảo thần thánh nhiều hơn là viết bằng trí khôn. Thế nên, đàn ông viết văn nhiều khi viết bằng cái thông minh lồng lộng, còn đàn bà thường viết bằng tình yêu, bằng trái tim giàu trắc ẩn". Nếu coi văn chương là lĩnh vực của sự sáng tạo, sự độc đáo, nơi cá tính được tôn vinh thì việc phụ nữ cầm bút làm văn chương xác nhận nhu cầu khẳng định giới tính của mình. Bởi vậy, dù họ đề cập tới những vấn đề vĩ mô hay nhỏ bé, xa xôi hay gần gụi thì văn chương vẫn bộc lộ sự tinh tế, những góc nhìn riêng của đặc trưng giới tính.
“Xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông là trung tâm của văn học” [57, tr.423], văn chương ở xứ ta bao đời nay dường như vẫn chỉ dành riêng cho vài đấng nam nhi thi thố. Phụ nữ “như đã bị ruồng đuổi ra ngoài bờ cõi văn học” [57, tr. 432], một vài gương mặt phụ nữ hiếm hoi xuất hiện được coi là hiện tượng đặc biệt, là hiện tượng của văn chương. Tác phẩm của họ được xem như là những tiếng nói than thân, phản kháng chế độ nam quyền, là lời kêu gọi sự ban ơn của nam giới.
Nhưng người phụ nữ hiện 11 đại chọn viết văn để “sống một cuộc sống khác” (lời tự bạch của Xuân Quỳnh), họ viết văn bằng tri thức, bằng thái độ kiêu hãnh tự tin khẳng định bản lĩnh giới mình và giá trị văn chương của mình. Họ dùng văn chương để “tấn công vào những quan niệm đầy màu sắc nam quyền, tố cáo tình trạng bị nhào nặn thành phụ nữ theo những tín điều người khác áp đặt cho giới mình” [57, tr. Gần một thế kỷ trước, Phan Khôi đã dự đoán rằng biết đâu nữ lưu sau này sẽ “trở nên người chủ trương của văn học”. “Nếu văn học mà quả lấy nữ tánh làm trung tâm thì đàn bà chủ trương lấy nền văn học là phải, mà như vậy thì văn học có lẽ lại tấn bộ hơn trước.
Chỉ mấy chục năm sau lời tiên tri của Phan Khôi đã thành sự thật. Phan Khôi, người được coi là tiếp nhận văn học từ ánh sáng của nữ quyền, trong bài viết: Văn học với nữ tánh ông đưa ra những luận giải vì sao nữ giới có quan hệ với văn học. Ông cho rằng đàn bà có nhiều tính chất thích hợp với văn học như trầm tĩnh, nhẫn nại, nhiều tình cảm,.vì thế đàn bà lấy những tính đó mà chuyên theo nghề văn học thì dễ và mau chóng thành công hơn đàn ông. Văn học với nữ tính có quan hệ, nữ tính choán hết mấy phần trong văn học.
Ông đưa ra hai ý kiến. Thứ nhất, phụ nữ là biểu hiện cho cái đẹp và những gì liên quan đến cái đẹp đều gắn với họ, còn “cái đẹp là cái cốt của văn học” cho nên “văn học hay tả về đàn bà”; thứ hai, phụ nữ vốn mang bản chất của nữ tính, sự mềm mại, yếu đuối, thiên về bộc lộ đời sống tình cảm từ bên trong mà “văn học trọng đường tình cảm”, nên văn học “nói chuyện đàn bà thì khiến cho người ta dễ cảm, cho nên nói về đàn bà nhiều hơn” [57, tr. Vậy, điều kiện nào để phụ nữ trở thành chủ thể sáng tạo? Trước hết phải là học. “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ” (Beauvoir).
Những thuộc tính mà từ trước đến nay người ta vẫn áp đặt cho phụ nữ không phải là cái vốn có, bản chất phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn hóa, giáo dục. Mặt khác bản thân người phụ nữ cũng luôn cho rằng mình yếu kém hơn đàn ông, mình là “thứ hai”. Nước ta từ xưa tới nay trọng nam khinh nữ, đàn bà sinh ra chỉ là cái vật phụ thuộc vào đàn ông nên không cần học hành mà tự đàn bà 12 cũng nghĩ rằng không cần học làm gì, chỉ một mình đàn ông học cũng đủ [57, tr. Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ học chỉ để phục vụ chồng con và những người thân trong gia đình mà không được thi thố ngoài xã hội, bởi phụ nữ còn phải tuân theo các quy tắc “Tam tòng”, “Tứ đức”.
Quan niệm “phụ nhân nan hóa” ấn định rất rõ ràng trong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu. Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu. Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạng tiểu nhân. Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máy quản lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự”.