MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu công trình nghiên cứu Từ những năm 1960, dòng vốn FDI đã được lý giải bởi Hymer. Từ khi xuất hiện đến nay, dòng vốn này đã có những tác động tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư và không ngừng gia tăng qua thời gian trên bình diện quốc tế. Mức độ lan tỏa ngày càng sâu rộng khắp các châu lục với sự đa dạng, nhiều chiều.
Trong đó, đáng kể nhất là tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, cũng như những tác động lan tỏa khác. Thực tế đó, dẫn đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài với những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Kết quả đạt được rất đa dạng: Tác động dương của FDI đến tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006; Le Thanh Thuy, 2007; Aviral và Mihai, 2011; Chien et al., 2012; Elsadig, 2012); Tăng trưởng kinh tế tác động đến FDI (Anh và Thang, 2007; Ab Quyoom Khachoo và Khan, 2012; Fayyaz Hussain, Constance Kabibi Kimuli, 2012; Chirstian và C. Richard, 2012; Cuong et al.
Một số nghiên cứu phát hiện mối tương quan đồng thời hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Caves, 1996; Zhang 2000; Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen, 2010; Chien và Linh, 2013) và các nghiên cứu cho thấy tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cần có những điều kiện về nguồn nhân lực, quy mô thị trường, độ mở của nền kinh tế (Blomstrom et al., 1992; Borensztein et al., 1998; Basu et al. Bên cạnh đó, FDI không có tác động đến tăng trưởng kinh tế (Ericsson và Irandoust, 2001; Carkovic và Levine, 2002; Dilek và Aytac, 2013). Trên thực tế, các nghiên cứu giữa FDI và tăng trưởng kinh tế chủ yếu thực hiện ở không gian quốc gia và một số ít thực hiện ở không gian vùng trong quốc gia. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được thực hiện chủ yếu đối với tổng thể quốc gia, như các nghiên cứu của Nguyễn Mại (2003), Nguyen Thi Phuong Hoa (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh, (2006), Le Thanh Thuy (2007) và một số nghiên cứu ở cấp độ vùng (Sajid Anwar -2- và Lan Phi Nguyen, 2010; Chien et al.
Kết quả của các nghiên cứu cho thấy tồn tại đa dạng mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, khai thác những ưu điểm của phương pháp nghiên cứu nói chung cũng như phương pháp nghiên cứu định lượng nói riêng chưa được quan tâm, cũng như tính cập nhật dữ liệu thực tiễn chưa được thực hiện, nhất là thời điểm kinh tế có những khó khăn như hiện nay. Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP (Điều 15), ngày 07 tháng 09 năm 2006 của Chính phủ về Lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 về Sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, Việt Nam có sáu vùng kinh tế-xã hội: vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi vùng có những đặc trưng về kinh tế xã hội, nên mức phát triển, cũng như tính hấp dẫn dòng vốn FDI khác nhau.
Mặc dù dòng vốn FDI ở các vùng có khác biệt, nhưng đóng góp của FDI đối với tăng trưởng kinh tế rất đáng kể, thể hiện tỷ lệ FDI/GDP qua các năm: 19% (năm 2011), 17% (năm 2012); FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, đóng góp vào ngành công nghiệp hỗ trợ, tạo việc làm, tạo nguồn thu cho NSNN, góp phần hội nhập quốc tế. Khi nghiên cứu chi tiết các cấp không gian, thì đóng góp của FDI đối với tăng trưởng kinh tế có sự chênh lệch giữa các vùng, liên kết vùng và tổng thể vùng ở Việt Nam. Do đó, cần có công trình nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở các không gian của Việt Nam, đặc biệt với phương pháp nghiên cứu phù hợp. Từ đó có cơ sở khoa học đánh giá mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, góp phần hoàn thiện lý thuyết, đưa ra giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời tăng cường thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam.
Từ những thực tiễn trên, dựa vào: -3- (i) Mô hình lý thuyết của Cobb-Douglas (1928), Slolow (1956, 1957) và các lý thuyết đánh giá tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư như MacDougall (1960), Hymer (1960) và các đóng góp khác được thực hiện bởi Buckley và Casson (1976), Caves (1971), Dunning (1973), Kindleberger (1969) và Vernon (1966); (ii) Dựa trên các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế theo phương pháp định lượng (Caves, 1996; Zhang, 2000; Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006; Le Thanh Thuy, 2007; Wei K., 2008; Sajid và Nguyen, 2011; Elsadig, 2012; Dilek và Aytac, 2013, …); (iii) Khai thác và sử dụng phương pháp GMM (Difference Generalized Method of Moments) của Arellano-Bond (1991) và phương pháp PMG (Pooled Mean Group) của Pesaran, Shin và Smith (1999) với dữ liệu bảng được thu thập từ năm 1997 đến năm 2012 ở các tỉnh thành Việt Nam từ Tổng Cục Thống kê. Đề tài nghiên cứu Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các vùng của Việt Nam được thực hiện. Lý do chọn đề tài FDI và tăng trưởng kinh tế được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm thực hiện với đối tượng nghiên cứu (không gian, thời gian), phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng chưa có sự thống nhất về quan hệ tác động giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, vấn đề vẫn đang được quan tâm tranh luận. Ở Việt Nam, từ khi mở cửa nền kinh tế và quan trọng là từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời (1987), FDI có những đóng góp tích cực đối với kinh tế-xã hội trên nhiều phương diện.
Đến nay, kinh tế có những khó khăn mang tính toàn cầu, Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng giao thương quốc tế, vẫn tiếp tục quan tâm thu hút dòng vốn FDI. Vấn đề đặt ra, mối quan hệ FDI-tăng trưởng kinh tế như thế nào là điều cần được nghiên cứu chuyên sâu và chi tiết. Mặc dù có vài nghiên cứu đã được thực hiện để giải quyết vấn đề, nhưng kỹ thuật, phương pháp thực hiện cũng như phạm vi không gian, thời gian nghiên cứu mang tính so sánh cấp vùng, liên kết vùng và tổng thể vùng cần được quan tâm cập nhật và hoàn thiện. Thực tế đó, đòi hỏi cần thực -4- hiện nghiên cứu Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các vùng của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Để tiếp tục đóng góp vào những tranh luận hiện nay và làm rõ mối quan hệ giữa FDI-tăng trưởng kinh tế, đồng thời lấp vào những khoảng trống về nghiên cứu tác động giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, đề tài của luận án hướng đến các mục tiêu chủ yếu sau: Đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế ở tổng thể vùng của Việt Nam. Đồng thời, kiểm định tác động của dòng vốn FDI đối với tăng trưởng trong trường hợp nghiên cứu riêng vùng và liên kết vùng ở Việt Nam. Ngoài ra, để hỗ trợ trong việc đề xuất chính sách thu hút dòng vốn FDI phục vụ tăng trưởng kinh tế, đề tài luận án nghiên cứu các yếu tố quyết định thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam. Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận án góp phần hoàn thiện lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, đặc biệt nghiên cứu ở góc độ vùng.
Về mặt thực tiễn, luận án đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng và gợi ý chính sách thu hút dòng vốn FDI góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Các mục tiêu nghiên cứu ở trên hướng vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu: (i) Liệu dòng vốn FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam xét ở không gian tổng thể và không gian vùng; (ii) Các yếu tố nào quyết định thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian qua. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas (1928), trong đó bao gồm hai biến đầu vào cơ bản là lao động, vốn và một tập hợp các biến hiệu chỉnh liên quan.
Trên cơ sở các nghiên cứu mở rộng tiếp theo được thiết lập bởi MacDougall (1960) có nguồn gốc từ lý thuyết thương mại quốc tế. Theo đó, xem xét các lợi ích của nước nhận đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài (trực tiếp và gián tiếp) trong điều kiện của nhân tố sản xuất, việc làm và dòng chảy của vốn. Một cách tiếp cận khác, đi tiên phong bởi Hymer (1960) về lý thuyết của tổ chức công nghiệp. Ngoài ra, còn có các đóng góp quan trọng khác đã được thực hiện qua các nghiên cứu của Buckley và Casson (1976), Caves (1971), Dunning (1973), Kindleberger (1969) và Vernon (1966).
Kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong nước cũng như ở nước ngoài về FDI và tăng trưởng kinh tế (Le Thanh Thuy, 2007; Wei K., 2008; Sajid và Nguyen, 2011; Elsadig, 2012; Dilek và Aytac, 2013; …) đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tác động giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cùng với tập hợp các biến kiểm soát liên quan. Phạm vi nghiên cứu Không gian nghiên cứu: tổng thể 63 tỉnh/thành ở các vùng của Việt Nam. Trường hợp nghiên cứu vùng Vùng là một lãnh thổ được tách ra dựa trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu (hiện tượng) có quan hệ mật thiết với nhau (Từ điển bách khoa địa lý, 1998). Hay vùng là phần đất đai hoặc khoảng không gian tương đối rộng có những đặc điểm về tự nhiên và xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh (Từ điển tiếng Việt, 1994).
Vùng là một bộ phận của quốc gia có một sắc thái đặc trưng nhất định, hoạt động như một hệ thống, có quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó và có quan hệ chọn lọc với khoảng không gian bên ngoài (Lê Bá Thảo, 1998). -6- Qua các khái niệm cho thấy vùng là một lãnh thổ tương đối đồng nhất bao gồm các bộ phận cấu thành có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của bản thân lãnh thổ đó cũng như giữa nó với các lãnh thổ khác.