Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước ngoài Frank Ellis (1995), Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển do Phạm Thị Mỹ Dung dịch [34]. Tác giả đi sâu nghiên cứu quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với phát triển thương mại nông sản trên thế giới; đồng thời, nêu lên mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân của các nước đang phát triển.
Từ đó tác giả cho rằng, chính sách đầu tư, hỗ trợ của nhà nước đóng vai trò là động lực quan trọng hàng đầu trong thúc đẩy phát triển vùng nông thôn và phát triển kinh tế của mỗi hộ nông dân. Tác giả đã nghiên cứu và làm rõ các yêu cầu mới đặt ra đối với nền nông nghiệp trên thế giới nói chung, đối với nước Nhật nói riêng trước sự phát triển hết sức nhanh chóng của đời sống xã hội và khoa học công nghệ. Từ đó tác giả khẳng định: trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức sâu rộng, nông nghiệp Nhật Bản cần cải cách mạnh mẽ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Theo tác giả, việc định hướng cải cách cần phải tập trung đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất và chế biến nhằm tăng năng suất, chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập cho người dân.
Tác giả đã làm rõ khái niệm, nguồn gốc hình thành và đặc trưng của vấn đề “tam nông”, trong đó khẳng định xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ trọng đại trong tiến trình hiện đại hóa; đồng thời, đi sâu phân tích bối cảnh, yêu cầu, mục tiêu, con đường, phương thức giải quyết vấn đề “tam nông” và những thành tựu to lớn mà Trung Quốc đã giành được trong công cuộc xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa. Từ đó đã rút ra một số kinh nghiệm trong công 11 cuộc xây dựng NTM ở các địa phương làm điểm của Trung Quốc là: phải lấy quy hoạch làm đầu tàu; thực hiện “làm việc vì quần chúng nông dân”; coi việc tăng thu nhập của nông dân là công tác trọng tâm và phải lấy việc phát triển lực lượng sản xuất nông thôn làm căn bản. Ngoài ra tác giả còn giới thiệu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc giải quyết vấn đề xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trác Vệ Hoa (2009), Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc 30 năm [37].
Tác giả đã trình bày tiến trình lịch sử cải cách, phát triển của nông thôn Trung Quốc; những thành tựu và kinh nghiệm quan trọng trong cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc từ năm 1978 đến 2007, qua đó khẳng định: phải “ra sức thúc đẩy cải cách sáng tạo, tăng cường xây dựng chế độ ở nông thôn, tạo động lực lớn mạnh và bảo đảm về chế độ cho phát triển nhịp nhàng kinh tế, xã hội thành thị và nông thôn” [37, tr. Tác giả đã trình bày vai trò to lớn của NN, ND, NT trong phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc và khẳng định vấn đề “tam nông” luôn là tư tưởng chiến lược quan trọng trong quá trình cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó xác định: “xây dựng văn hóa là nội dung quan trọng trong xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời gánh vác trách nhiệm và sứ mệnh quan trọng tạo sự bảo đảm tư tưởng, động lực, tinh thần và sự ủng hộ văn hóa cho xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” [12, tr. Trương Hiểu Sơn (2009), Kiên định thúc đẩy xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa [71]. Tác giả khẳng định những thành tựu to lớn đã giành được sau ba năm thực hiện xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa là do sự phát triển trong nhận thức về xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa của toàn Đảng và toàn dân Trung Quốc.
Trên cơ sở đó để kiên định với mục tiêu xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, tác giả chỉ ra phải “kiên trì lấy phát triển kinh tế nông 12 thôn làm trung tâm, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, nông dân tăng thu nhập” [71, tr. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra bốn giải pháp cơ bản; trong đó, việc hoàn thiện thể chế tài chính, phân quyền tài chính và phân cấp tài chính được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu. Bun-Thoong Chít-ma-ni (2011), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [23]. Tác giả luận án đã khái quát những đặc điểm cơ bản của nông dân, nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; đồng thời, đi sâu vào phân tích làm rõ những quan niệm về NTM và xây dựng NTM ở Lào cũng như những quan điểm, nội dung và phương thức lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
Trên cơ sở đó tác giả rút ra một số kinh nghiệm quan trọng trong quá trình Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng NTM, đề xuất một số phương hướng và 7 giải pháp chủ yếu mang tính đặc thù, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển NTM ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay. Nguyễn Thành Lợi (2013), “Xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam” [61]. Tác giả khẳng định: con đường ngắn nhất đi đến thành công trong công cuộc xây dựng NTM là nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm của một số nước đã thành công. Theo tác giả, Nhật Bản là một mô hình phù hợp có thể tham khảo, học hỏi trong quá trình xây dựng NTM.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những gợi ý quan trọng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng NTM đó là: tăng cường đổi mới khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp đặc sắc từng địa phương; nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lòng tin và lòng quyết tâm cho người nông dân. Hoàng Bá Thịnh (2016), “Xây đựng nông thôn mới ở Hàn Quốc và Việt Nam” [74], Trên cơ sở phong trào Làng mới (Saemaul Undong) của Hàn Quốc được tiến hành từ những năm 1970 đã đạt được những thành tựu ấn tượng, có 13 sức lan tỏa, ảnh hưởng lớn đến các nước trong khu vực và trên thế giới, tác giả đã tập trung nghiên cứu về chủ trương, cách thức thực hiện, chính sách hỗ trợ nguồn lực cho xây dựng NTM của Nhà nước Hàn Quốc và làm rõ quan điểm thực hiện phong trào Làng mới ở Hàn Quốc là vận động sự tham gia tích cực của người dân, cộng đồng vào xây dựng NTM; xóa bỏ tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, phát huy cao độ các nguồn lực, tinh thần tự lực, tự cường của cộng đồng dân cư; đồng thời, xây dựng phong trào thi đua sôi nổi giữa các thôn, làng… từ đó tác giả khẳng định: phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc và xây dựng NTM ở Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, vì vậy Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam trong những năm tiếp theo có thể vận dụng những bài học kinh nghiệm từ phong trào Làng mới ở Hàn Quốc. Nguyễn Trọng Bình (2018), “Vai trò của Nhà nước và sự tham gia của người dân trong Phong trào Làng mới ở Hàn Quốc” [14]. Tác giả đã trình bày khái quát vai trò của Phong trào Làng mới ở Hàn Quốc trong cải thiện điều kiện sống và sản xuất nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị.
Theo tác giả, để thực hiện hiệu quả, thành công Phong trào Làng mới trên phạm vi toàn quốc cần phải kết hợp giữa nhà nước và người dân trong thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu là: “Thay đổi nhận thức, nâng cao trình độ văn hóa cho người nông dân; phát triển xã hội; phát triển kinh tế” [14, tr. Phạm Thị Thanh Bình (Chủ biên, 2018), Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [15]. Tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp bền vững ở những quốc gia nói trên; từ đó đã khẳng định: phải phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng môi trường và nguồn nhân lực trong nông nghiệp, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu nông sản cho con người và nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp trong thời tiếp theo. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các tiêu chí đánh giá chung cho chính sách phát triển nông nghiệp bền vững trên ba khía cạnh đó là: kinh tế, xã hội và môi trường; đồng thời, rút ra những bài 14 học kinh nghiệm quý và một số giải pháp cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao giá trị sản phẩm, gắn xây dựng NTM với phát triển nông nghiệp bền vững.
Ngoài ra có thể kể đến các nghiên cứu như: Barbara Chmielewska (2009), “The Problems of Agriculture and Rural Areas in the Process of European Integration” [257]; Neil Argent, Thomas Measham (2011), “New rural economies: Introduction to the special themed issue” [258]; Parvin, Alastair Open fields (2013), The new rural design revolution [259]; Yi Wu (2013), Research on the transference of the surplus rural labor in new rural construction [260]…. Các nghiên cứu trên đã phân tích, luận bàn những khía cạnh khác nhau về vấn đề NN, ND, NT ở một số nơi trên thế giới như: vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình hội nhập Châu Âu; kinh tế NTM; cuộc cách mạng thiết kế NTM; chuyển dịch lao động nông thôn dôi dư trong xây dựng NTM. Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng đối với thực hiện xây dựng NTM ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Các nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở trong nước 1.
Các nghiên cứu chung về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại [16].