Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài Mai-cơn-Mac-Lia (1990), Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày [105], tác phẩm chỉ rõ mũi binh vận làm cho quân đội VNCH suy sụp về tinh thần và đào rã ngũ ở một số đơn vị. Bên cạnh đó, việc chính quyền Mỹ tăng thời gian phục vụ trên chiến trường và không ghi nhận sự hy sinh của binh sĩ trên chiến trường MNVN cũng làm cho tinh thần binh sĩ Mỹ suy sụp trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Sự suy sụp về tinh thần của lính Mỹ và đồng minh biểu hiện ở hành động chống lệnh, phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tự nêu khẩu hiệu “Đừng là người lính chết sau cùng ở Việt Nam” và mục tiêu chung là “Tự lo cho sinh m ạng mình, sống qua giai đoạn này và ra khỏi Việt Nam” [105, tr. Tác giả làm rõ công tác binh vận đã vận động những người lính quân đội Pháp bỏ hàng ngũ theo Việt Minh trong đội “Com măng đô” năm 1949. Họ tham gia kháng chiến ở Việt Nam và chiến đấu hết mình, can đảm và có ý thức kỷ luật vô cùng nghiêm túc khi quan hệ với nhân dân, nhất là đối với phụ nữ. Họ có lý tưởng cách mạng, khát vọng hòa bình, tham gia nhiều chiến dịch chủ yếu ở Liên khu 3 và lập được nhiều thành tích.
Tác phẩm cho thấy chính sách binh vận đúng đắn của Đảng đã vận động và tập hợp được binh sĩ đối phương phục vụ cho cách mạng. Tác giả cho rằng “binh vận là các hoạt động nhằm gây tư tưởng bất mãn trong hàng ngũ binh lính kẻ thù” [76, tr. Tác giả khẳng định sự thất bại của đế quốc Mỹ do nhiều nguyên nhân khác nhau và cho rằng không có một Tổng thống nào của nước Mỹ nhận thức được rằng địch vận là một bộ phận chiến lược của cách mạng Việt Nam, mục đích đánh tan sự ủng hộ của nhân dân Mỹ với luan an 12 cuộc chiến tranh. Địch vận đã tận dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng để hủy hoại sự ủng hộ của dân chúng Mỹ đối với chiến tranh.
Tác giả làm rõ về hoạt động của cơ sở nội tuyến chiến lược Nguyễn Thành Trung được cài cắm trong lòng địch và được Ban Binh vận Trung ương Cục hướng dẫn từ khi xây dựng thành cơ sở nội tuyến cho đến khi làm binh biến, khởi nghĩa, sử dụng máy bay của VNCH ném bom vào Dinh Độc lập và sân bay Tân Sơn Nhất rồi trở về với cách mạng. Tác giả chỉ rõ hành động của Nguyễn Thành Trung làm cho tinh thần quân đội và chính quyền VNCH hoang mang, lo sợ. Tác phẩm đã cung cấp cho nghiên cứu sinh thấy rõ hơn thành công của hoạt động nội tuyến trong lòng địch trên chiến trường B2 vào thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tác phẩm khẳng định, tinh thần binh sĩ VNCH trong những ngày cuối của cuộc chiến tranh suy sụp nặng nề và tan rã.
Nguyên nhân là do lực lượng cách mạng tiến công mạnh về quân sự, chính trị và binh vận, bên cạnh đó đế quốc Mỹ cắt giảm viện trợ về kinh tế, quân sự là nguyên nhân quan trọng làm cho tinh thần quân đội và chính quyền VNCH suy sụp. Tác phẩm khẳng định “Không có viện trợ quân sự, ít nhất một tỷ đô la thì Nam Việt Nam chỉ là cái bóng của họ” [128, tr. Tác giả chỉ rõ nguyên nhân làm cho lính Mỹ suy sụp tinh thần chính là hoạt động phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và hoạt động binh vận của lực lượng cách mạng miền Nam khi Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tác giả cho rằng binh vận đã xây dựng cơ sở cách mạng trong lòng đối phương với nhiều hình thức và trong các đối tượng khác nhau, để lấy thông tin từ binh lính Mỹ.
Tác giả tuy đề cập chưa sâu đến công tác binh vận, nhưng đã cho thấy phần nào vai trò công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, dưới sự nhìn nhận của người nước ngoài. luan an 13 Jeferet Kimball (2007), Hồ sơ chiến tranh Việt Nam [101]. Tác phẩm khẳng định sự thất bại của chính quyền VNCH và sự sụp đổ về tinh thần của binh sĩ VNCH xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đó là, do việc xét đoán kém cỏi về chiến lược trong suốt tháng 3 năm 1975, tình trạng tham nhũng của bộ máy chính quyền, khủng hoảng tiền tệ thế giới và cú sốc xăng dầu những năm 1973- 1974 làm cho kinh tế VNCH khó khăn.
Quân đội thì “chịu sự lãnh đạo tồi nói chung và những yếu kém về cơ cấu nội tại và về tinh thần” [101, tr. Bên cạnh đó, mũi tiến công quân sự của quân Giải phóng diễn ra mạnh mẽ, sự nổi dậy của quần chúng nhân dân ở khắp nơi vừa đấu tranh vừa tuyên truyền kêu gọi binh sĩ VNCH đầu hàng, góp phần làm cho binh sĩ VNCH tan rã. Những công trình của tác giả người nước ngoài mới đề cập đến một số hoạt động công tác binh vận nói chung và của một số cá nhân. Tuy đề cập chưa nhiều, nhưng các công trình trên khẳng định vai trò của công tác binh vận góp phần làm suy sụp tinh thần binh sĩ Mỹ và binh sĩ VNCH trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến công tác binh vận nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nguyễn Ngọc Giao (1973), “Bước phát triển mới trong công tác binh vận của Quân giải phóng miền Nam” [83]. Bài báo chỉ ra những điểm mới về nội dung, hình thức đấu tranh binh vận của Quân giải phóng sau khi có Hiệp định Pari. Nội dung là nêu cao ngọn cờ hòa bình, hòa hợp dân tộc của Mặt trận Dân tộc giải phóng MNVN và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa MNVN.
Có nhiều hình thức mới, tiếp xúc cá nhân, tập thể tuyên truyền giác ngộ binh sĩ VNCH, “Ở nhiều nơi đã tổ chức thành công hàng ngàn, hàng vạn cuộc tiếp xúc trực tiếp với đông đảo binh sĩ Sài Gòn” [83, tr. Ở nơi nào, đối phương lấn chiếm càn quét, các đơn vị Quân giải phóng đã tiến công binh vận kết hợp với kiên quyết trừng trị thích đáng. Bài báo làm rõ sự bắt nhịp kịp thời của Quân giải phóng miền Nam trong đấu tranh binh vận sau Hiệp định Pari năm 1973. luan an 14 Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - thắng lợi và bài học [18].
Trong kinh nghiệm đấu tranh chính trị tác phẩm chỉ rõ, mục tiêu đấu tranh là vì dân sinh, dân chủ, làm tan rã từng bộ phận ngụy quân, ngụy quyền nhất là ở cơ sở. Phương pháp đấu tranh “từ lẻ tẻ đến cao trào, vừa đấu tranh độc lập vừa kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và binh vận trên cả ba vùng chiến lược” [18, tr. Binh vận kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị vừa tiêu diệt, tiêu hao lớn quân VNCH trong các chiến dịch tổng hợp chống bình định, giành dân. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, thắng lợi và bài học [19].
Công trình khái quát những thắng lợi và bài học trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Công trình chỉ rõ vai trò của công tác binh vận đó là “binh vận tiến công vào hàng ngũ địch, làm phân hóa lực lượng, làm suy giảm ý chí của đội quân xâm lược góp phần làm tăng cường thế và lực cho cách mạng” [19, tr. Công trình làm rõ vị trí của công tác binh vận “Đó là mũi tiến công chiến lược, một vấn đề cơ bản trong cuộc vận động cách mạng ở cả thành thị lẫn nông thôn” [19, tr. Quân đội nhân dân Việt Nam - Tổng cục Chính trị (2002), Tổng kết công tác binh - địch vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [117].
Công trình làm rõ một số chủ trương, chỉ đạo của Trung ương Đảng về công tác binh - địch vận và chủ yếu làm rõ về hoạt động, kết quả của công tác binh vận trên chiến trường miền Nam. Đồng thời, nhận xét đánh giá và rút ra những kinh nghiệm công tác binh - địch vận trên chiến trường MNVN. Đó là: Xác định đúng vị trí vai trò công tác binh - địch vận; Tổ chức toàn dân làm công tác binh - địch vận; Sử dụng 3 mũi giáp công tiến hành công tác binh - địch vận; Xây dựng cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh. Đây là công trình tương đối hoàn chỉnh về công tác binh - địch vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
luan an 15 Nguyễn Xuân Tú (2002), Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ 1965 - 1975 [206]. Tác giả làm rõ quá trình chỉ đạo của Đảng đánh bại từng bước cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Trong đó, đề cập đến một số chủ trương, chỉ đạo và kết quả tiến công binh vận của Đảng, của Trung ương Cục. Tác giả chỉ rõ tháng 7 - 1969 Trung ương Cục chủ trương “tăng cường công tác dân vận làm cơ sở cho đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng và mở rộng căn cứ” [206, tr.
85], để góp phần khôi phục lại phong trào cách mạng. Tác phẩm có vai trò quan trọng, hình thành khung chung về quá trình chỉ đạo của Đảng chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, là tài liệu nghiên cứu sinh kế thừa về nội dung và phương pháp. Tác giả làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến tháng 01 năm 1973. Trong đó chỉ rõ sau năm 1968, “cục diện chiến tranh mới tạo ra cho đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao có điều kiện kết hợp và hỗ trợ cho nhau tốt hơn, thúc đẩy quá trình làm tan rã tinh thần của binh lính Mỹ trên chiến trường làm cho ngụy quân, ngụy quyền nhanh chóng suy sụp” [23, tr.
Đồng thời, tác giả chỉ ra hoạt động kết hợp binh vận với phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn - Gia Định của công nhân, học sinh, sinh viên, nhằm chống bắt lính, bắt sinh viên vào PVDS.