Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Nguyễn Khắc Trai có đề tài: “Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975”.
Công tác binh vận được Đảng xác định là một mũi tiến công chiến lược trong đường lối chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Trong giai đoạn 1969 - 1975, đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với thủ đoạn “dùng người Việt trị người Việt”, biến chiến trường B2 thành địa bàn trọng điểm tập trung cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Việc tiến công binh vận tại đây giữ vai trò làm suy sụp tinh thần, tan rã tổ chức đối phương, hỗ trợ trực tiếp cho các mũi quân sự và chính trị. Mặc dù đã có nhiều công trình tổng kết về công tác binh vận trên toàn miền Nam hoặc tại một số địa phương cụ thể, khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu có tính hệ thống, chuyên sâu và toàn diện làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo, đánh giá ưu khuyết điểm và đúc rút bài học kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận trên toàn bộ chiến trường B2.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975; trên cơ sở đó đúc rút những kinh nghiệm có giá trị vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975.
- Hệ thống và phân tích làm rõ chủ trương, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975.
- Nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận trong những năm 1969 - 1975.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1975.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về nội dung: Nghiên cứu công tác tuyên truyền, vận động tác động vào tâm lý, tư tưởng binh lính, sĩ quan quân đội Mỹ, đồng minh và quân đội VNCH nhằm làm hoang mang, rệu rã, chán ghét chiến tranh, đào rã ngũ hoặc trở về với cách mạng. Luận án nghiên cứu chủ trương và quá trình chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trên 4 nội dung: xây dựng lực lượng binh vận; xây dựng cơ sở và hoạt động nội tuyến trong lòng địch; binh vận kết hợp với tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; thực hiện chính sách binh vận.
- Về thời gian: Từ năm 1969 đến tháng 5 năm 1975, phân kỳ thành hai giai đoạn: giai đoạn 1969 - 1972 (đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris) và giai đoạn 1973 - 1975 (đánh bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, giải phóng miền Nam).
- Về không gian: Toàn bộ địa bàn chiến trường B2 do Trung ương Cục miền Nam trực tiếp lãnh đạo (1965 - 1975), bao gồm các tỉnh cực Nam Trung Bộ (Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy); các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Long, Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa); các tỉnh miền Trung Nam Bộ (Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Gò Công); các tỉnh miền Tây Nam Bộ (Châu Đốc, An Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An Xuyên, Chương Thiện) và đặc khu Sài Gòn - Gia Định.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thông qua các nhóm tài liệu chính sau:
Nhóm công trình của các tác giả nước ngoài:
- Mai-cơn-Mac-Lia (1990) trong tác phẩm Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày chỉ rõ mũi binh vận làm suy sụp tinh thần lính Mỹ và quân đội VNCH, phân tích hiện tượng binh lính chống lệnh với khẩu hiệu “Đừng là người lính chết sau cùng ở Việt Nam”.
- Jeferet Kimball (2007) trong Hồ sơ chiến tranh Việt Nam phân tích sự sụp đổ tinh thần của quân đội VNCH bắt nguồn từ sự xét đoán kém cỏi về chiến lược trong tháng 3 năm 1975, nạn tham nhũng, khủng hoảng kinh tế, cùng sự phối hợp giữa tiến công quân sự của Quân Giải phóng với hoạt động kêu gọi đầu hàng của quần chúng.
- Các tài liệu nước ngoài khác đề cập đến hoạt động nội tuyến của Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập và sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như tác động của việc Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự khiến chính quyền VNCH suy sụp.
Nhóm công trình nghiên cứu về công tác binh vận nói chung trên toàn quốc:
- Bài viết của Nguyễn Ngọc Giao (1973) phân tích bước phát triển mới của công tác binh vận sau Hiệp định Paris với các hình thức tiếp xúc trực tiếp quy mô lớn.
- Các công trình tổng kết chiến tranh của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995, 2000) khẳng định vị trí mũi tiến công chiến lược của binh vận, sự kết hợp giữa ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược.
- Công trình của Quân đội nhân dân Việt Nam - Tổng cục Chính trị (2002) tổng kết toàn diện công tác binh - địch vận, nêu lên 4 bài học kinh nghiệm lớn trong kháng chiến chống Mỹ.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tú (2002), Lê Văn Mạnh (2012), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (2008), Cục Dân vận (2017) phân tích đường lối chỉ đạo chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và sự tham mưu của cơ quan chuyên trách.
Nhóm công trình nghiên cứu công tác binh vận tại các vùng miền và địa phương:
- Các công trình tổng kết công tác binh vận của Tỉnh ủy Gia Lai (1998), Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1999); các bài nghiên cứu của Trần Thị Lan (2011) về hoạt động nội tuyến tại Đắk Lắk, Hoàng Chí Hiếu (2015) về binh vận ở Quảng Trị giai đoạn 1961 - 1966.
Nhóm công trình gắn liền với chiến trường B2:
- Công trình Tổng kết công tác binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) trên chiến trường B2 cũ do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000, đánh giá hoạt động binh vận trên chiến trường Nam Bộ và đúc rút 7 bài học kinh nghiệm.
- Các công trình lịch sử lực lượng vũ trang và tổng kết binh vận địa phương: Đồng Nai (1998), Tây Ninh (2001), Bình Dương (2002), Quân khu 9 (2001), Khu 6 (1995); tác phẩm Vỏ bọc nhiệm màu của Hà Bình Nhưỡng (2003) phản ánh các cơ sở nội tuyến như Nguyễn Thành Trung, Lê Quang Ninh, Nguyễn Hữu Hạnh; bộ sách Tây Nam Bộ kháng chiến, tập 3 (2010), Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập II (2012), Lịch sử Sài Gòn, Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (2015); bài nghiên cứu của Lê Quang Đức (2015).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận công tác binh vận dưới dạng tổng kết hoạt động thực tiễn của một địa phương, một ngành chuyên môn hoặc phản ánh các sự kiện đơn lẻ. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống và toàn diện về toàn bộ tiến trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực hiện và bài học kinh nghiệm của Trung ương Cục miền Nam đối với công tác binh vận trên phạm vi toàn chiến trường B2 trong suốt giai đoạn chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1975).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó phương pháp tiếp cận chủ đạo là nghiên cứu định tính dựa trên nguồn sử liệu văn kiện và thực tiễn lịch sử.
Cơ sở lý luận:
- Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, chiến tranh nhân dân, công tác vận động quần chúng và chính sách phân hóa kẻ thù.
- Đường lối, quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam về chiến tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là quan điểm kết hợp ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận.
Cơ sở thực tiễn và nguồn tư liệu:
- Hệ thống văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị; các nghị quyết, chỉ thị, thông tư, điện mật, đề án, báo cáo tổng kết của Trung ương Cục miền Nam, Quân ủy Miền, Ban Binh vận Trung ương Cục, Cục Chính trị Miền.
- Văn kiện, chỉ thị của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; các tư liệu chỉ đạo của Đoàn Thanh niên miền Nam, Ban Công vận, Ban Nông vận.
- Số liệu tổng kết thực tiễn phong trào tiến công binh vận tại các khu ủy, tỉnh ủy trên chiến trường B2 từ năm 1969 đến năm 1975; nguồn tư liệu lưu trữ lịch sử quân sự và các hồi ký, công trình nghiên cứu đã xuất bản.
Phương pháp nghiên cứu:
- Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, kết hợp chặt chẽ giữa việc phục dựng tiến trình lịch sử với phân tích bản chất các sự kiện.
- Tại Chương 1, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp để đánh giá tình hình nghiên cứu.
- Tại Chương 2 và Chương 3, phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp và so sánh được vận dụng nhằm làm sáng tỏ chủ trương và chỉ đạo của Trung ương Cục trong từng chặng đường lịch sử.
- Tại Chương 4, phương pháp logic, phân tích, tổng hợp và so sánh được sử dụng để khái quát các ưu điểm, khuyết điểm và đúc kết thành các bài học kinh nghiệm lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương này trình bày bức tranh tổng thể về các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến công tác binh vận. Tác giả tiến hành đánh giá thực trạng nghiên cứu trên ba bình diện:
- Về tư liệu: Tư liệu về binh vận khá phong phú dưới dạng sách tổng kết, hồi ký, bài báo khoa học, song chủ yếu tổng kết hoạt động thực tiễn chứ chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu có tính hệ thống sự lãnh đạo của Đảng trên chiến trường B2.
- Về phương pháp: Các công trình trước tiếp cận dưới các góc độ khác nhau như Lịch sử quân sự, Lịch sử Việt Nam, Chính trị học với không gian nghiên cứu đa dạng.
- Về nội dung: Đa số các tài liệu đã bước đầu làm rõ vị trí chiến lược của mũi binh vận, các yếu tố tác động và một số hình thức đấu tranh giáp công, hoạt động nội tuyến.
Từ việc chỉ ra khoảng trống khoa học, tác giả xác định 4 vấn đề luận án tập trung giải quyết: phân tích các yếu tố tác động và chủ trương, chỉ đạo giai đoạn 1969 - 1972; làm rõ các yếu tố mới và sự chỉ đạo đẩy mạnh binh vận giai đoạn 1973 - 1975; đánh giá khách quan ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam về công tác binh vận từ năm 1969 đến năm 1972
Chương 2 phân tích các yếu tố bối cảnh, sự hình thành chủ trương và quá trình chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam trong việc đánh bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Về bối cảnh tác động:
- Tinh thần binh sĩ Mỹ sa sút nghiêm trọng: thống kê từ tháng 1/1968 đến tháng 1/1969 ghi nhận 14.958 lính Mỹ chết, 95.798 lính bị thương (bình quân mỗi ngày có 290 lính thương vong), tổng cộng 31.000 lính Mỹ về nước trong quan tài; phong trào phản chiến lan rộng trong lòng nước Mỹ.
- Tình hình chiến trường B2 sau năm 1968 gặp nhiều khó khăn: lực lượng cách mạng bị tổn thất, ban binh vận nhiều nơi bị vỡ, địch đẩy mạnh kế hoạch bình định nông thôn (bình định cấp tốc, bình định xây dựng, bình định bổ sung) và chiến dịch Phượng hoàng với chỉ tiêu tiêu diệt từ 350 đến 600 cán bộ/tháng tùy theo từng vùng.
- Đối phương gia tăng bắt lính, đôn quân mở rộng quy mô quân đội VNCH nhằm gánh vác chiến trường khi Mỹ rút dần quân.
Bảng số liệu tổng hợp kế hoạch bắt lính, đôn quân của đối phương năm 1971 trên chiến trường B2 được luận án trích xuất:
| Chỉ tiêu / Lực lượng |
Kế hoạch dự kiến thực hiện năm 1971 |
| Tuyển mộ quân số |
19,3 vạn tân binh; 19,8 vạn lính tình nguyện; phát triển thêm 8,4 vạn quân |
| Lực lượng Bảo an |
Củng cố 1.636 đại đội, 147 khung Ban Chỉ huy Liên đội; thành lập thêm tiểu đoàn bảo an |
| Lực lượng Dân vệ |
Phát triển lên 6.531 trung đội (mức cao nhất dự kiến đạt 7.000 trung đội) |
| Nhân dân tự vệ |
5 triệu người (gồm 1 triệu nòng cốt và 50 vạn chiến đấu thường); cấp phát 50 vạn súng |
| Kế hoạch Chiêu hồi |
Dự kiến chiêu dụ 3,5 vạn người; vận động mua chuộc 1,5 vạn thân nhân gia đình cách mạng |
Về sự phát triển chủ trương của Trung ương Cục:
- Hội nghị Trung ương Cục lần 8 (10/1968) ra Nghị quyết số 07/NQNT, tiếp tục chủ trương tổng tiến công và nổi dậy.
- Hội nghị Trung ương Cục lần 9 (7/1969) điều chỉnh gắn binh vận với dân vận, xác định lấy công tác dân vận làm nền tảng, huy động quần chúng và thanh niên chống bắt lính đôn quân.
- Thường vụ Trung ương Cục ra Nghị quyết số 14-NQNT (30/10/1969) về đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ vũ trang, chính trị và binh vận ở cơ sở.
- Hội nghị Trung ương Cục lần 10 (11/1970) đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh về nhận thức: chuyển từ tư tưởng nôn nóng sang kiên trì tiến công từng bước, làm suy sụp và tan rã từng bộ phận quân đội VNCH. Luận án phân tích rõ việc Trung ương Cục lần đầu tiên đề ra mục tiêu và giải pháp binh vận cụ thể cho từng loại đối tượng:
- Đối với Phòng vệ dân sự (PVDS): Đặt mục tiêu làm tan rã đại bộ phận, vừa nắm vừa phá xộc xệch liên tục, không để địch củng cố, thúc đẩy mang vũ khí ra hàng.
- Đối với Bảo an: Xác định đây là lực lượng kìm kẹp cơ sở chủ yếu, chủ trương kết hợp quân sự tiêu diệt các đơn vị ác ôn nòng cốt, đồng thời xây dựng nội ứng, phục vụ phá mảng phá vùng.
- Đối với Quân chủ lực VNCH: Làm suy yếu tư tưởng, tăng tình trạng đào rã ngũ, kiên trì cài cắm cơ sở nội tuyến lâu dài tại các quân binh chủng kỹ thuật, tránh sử dụng non cơ sở.
- Đối với Sĩ quan VNCH: Phân hóa tầng lớp sĩ quan cao cấp với sĩ quan cấp dưới nhằm cô lập những phần tử ngoan cố.
Chỉ đạo thực tiễn đạt kết quả rõ rệt: Điển hình năm 1972, trong chiến dịch Nguyễn Huệ II tại Tây Nam Bộ, công tác binh vận đã làm tan rã 31.000 binh sĩ, thu 399 súng, làm rã 50.000 phòng vệ dân sự, thu 1.000 súng và phát triển hơn 2.000 cơ sở nội tuyến (tăng gấp 3 lần so với năm 1969).
Chương 3: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo đẩy mạnh công tác binh vận từ năm 1973 đến đại thắng mùa Xuân 1975
Chương này tập trung phản ánh giai đoạn Trung ương Cục đẩy mạnh mũi tiến công binh vận tạo ưu thế áp đảo để giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Về bối cảnh và yếu tố tác động mới:
- Việc ký kết Hiệp định Paris (1/1973) tạo ra cơ sở pháp lý quốc tế buộc quân đội Mỹ và đồng minh rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.
- Viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền VNCH bị cắt giảm; nền kinh tế chính quyền Sài Gòn rơi vào khủng hoảng nặng nề, lạm phát và thiếu hụt xăng dầu (1973 - 1974), làm lung lay ý chí phòng ngự của quân đội VNCH.
- Chính quyền VNCH tăng cường các biện pháp “tràn ngập lãnh thổ”, phản vận và bắt lính khốc liệt, đòi hỏi Trung ương Cục phải kiên quyết sử dụng bạo lực cách mạng.
Về chủ trương và chỉ đạo đẩy mạnh của Trung ương Cục:
- Chủ trương nắm vững phương châm bạo lực cách mạng, sử dụng ba mũi giáp công kết hợp với cơ sở pháp lý của Hiệp định Paris để vạch trần hành động phá hoại hòa bình của đối phương.
- Chỉ đạo xây dựng và bố trí cơ sở nội tuyến chiến lược vào tận cơ quan đầu não đối phương. Luận án phân tích vai trò của các nhân vật và cơ sở nội tuyến như Nguyễn Thành Trung thực hiện ném bom Dinh Độc Lập và sân bay Tân Sơn Nhất; Thiếu tá Lê Quang Ninh đưa cả tiểu đoàn về với nhân dân; mạng lưới nội tuyến tác động tới Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh để thúc đẩy Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn, bàn giao chính quyền vào ngày 30/4/1975, hạn chế tối đa đổ máu trong chiến dịch Hồ Chí Minh.
- Tổ chức phát động quần chúng nhân dân và gia đình binh sĩ đấu tranh trực diện đòi con em trở về, làm tan rã hàng loạt đồn bốt, đơn vị bảo an và dân vệ tại cơ sở.
- Thực hiện nhất quán chính sách hòa hợp dân tộc và chính sách khoan hồng đối với tù, hàng binh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp quản các đô thị lớn.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Luận án đưa ra những đánh giá khách quan về quá trình lãnh đạo của Trung ương Cục:
Ưu điểm:
- Trung ương Cục đã nhận thức đúng đắn và kịp thời vị trí chiến lược của mũi binh vận, linh hoạt điều chỉnh chủ trương phù hợp với diễn biến chiến trường qua từng thời kỳ (đặc biệt là chuyển hướng chỉ đạo sau năm 1968 và tại Hội nghị lần thứ 10).
- Xây dựng được hệ thống tổ chức tham mưu chuyên trách từ Miền xuống cơ sở, đồng thời phát động sâu rộng phong trào toàn dân làm binh vận.
- Tổ chức chỉ đạo khéo léo nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) và hoạt động nội tuyến bí mật.
Hạn chế và nguyên nhân:
- Sau năm 1968, việc nắm bắt sự suy sụp của đối phương có lúc chưa sát, chủ trương ban đầu còn biểu hiện nôn nóng muốn làm tan rã ngay quân đội VNCH trong khi đối phương đang tăng cường bình định và bắt lính.
- Phong trào phát triển chưa đồng đều giữa các vùng; công tác bảo mật ở một số nơi sơ hở dẫn đến bị mạng lưới Phượng hoàng của đối phương đánh phá gây tổn thất nhân lực binh vận.
Hệ thống các bài học kinh nghiệm được tác giả đúc rút:
- Nắm vững và quán triệt sâu sắc vị trí mũi tiến công chiến lược của công tác binh vận trong nghệ thuật chiến tranh cách mạng.
- Quán triệt thực chất công tác binh vận là công tác vận động quần chúng; dựa chắc vào nhân dân và gia đình binh sĩ để tiến công tư tưởng đối phương.
- Kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa ba mũi giáp công: quân sự làm đòn xeo hỗ trợ, chính trị tạo thế uy hiếp, binh vận khoét sâu làm rệu rã tổ chức đối phương.
- Xây dựng cơ sở nội tuyến là khâu then chốt, chú trọng bố trí cơ sở chiến lược lâu dài trong các quân binh chủng kỹ thuật và cơ quan chỉ huy đối phương.
- Thực hiện nghiêm túc, nhất quán chính sách khoan hồng, nhân đạo và hòa hợp dân tộc để phân hóa, cô lập kẻ thù.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử:
- Hệ thống hóa, khái quát và luận giải sâu sắc các yếu tố tác động, làm rõ quá trình Trung ương Cục miền Nam đề ra chủ trương và chỉ đạo công tác binh vận giai đoạn 1969 - 1975.
- Tái hiện một cách toàn diện, khách quan bức tranh lịch sử công tác binh vận trên địa bàn chiến trường B2 trong thời kỳ chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá khoa học về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam.
- Đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn, cung cấp luận cứ tham khảo phục vụ công tác tuyên truyền, đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
Căn cứ theo phạm vi xác định trong văn bản, luận án chỉ tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam trên địa bàn chiến trường B2 từ năm 1969 đến tháng 5 năm 1975, không bao quát toàn bộ các chiến trường khác (như B1, B3, B4, Trị Thiên). Nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào văn kiện lưu trữ của Đảng, Trung ương Cục, Quân ủy Miền và các tổ chức địa phương thuộc chiến trường B2.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng so sánh sự lãnh đạo công tác binh vận của Trung ương Cục trên chiến trường B2 với sự lãnh đạo của các Khu ủy trên chiến trường Quân khu 5 (B1, B3) hoặc chiến trường Trị Thiên.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về hoạt động nội tuyến của ngành Binh vận trong các quân chủng kỹ thuật (không quân, hải quân) của đối phương trong giai đoạn kết thúc chiến tranh.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Quân sự và Khoa học Xã hội - Nhân văn dùng trong nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Cán bộ làm công tác tư tưởng, dân vận, chính trị trong lực lượng vũ trang tham khảo phương pháp tiếp cận và kỹ năng tuyên truyền, phân hóa đối tượng.
- Cơ quan hoạch định chính sách quốc phòng - an ninh tham khảo bài học xây dựng thế trận lòng dân và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là Chương 2 (sự phân hóa đối tượng binh vận tại Hội nghị Trung ương Cục lần 10) và Chương 4 (hệ thống 5 bài học kinh nghiệm về nghệ thuật binh vận).
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn chiến trường B2 trong nghiên cứu của luận án gồm những tỉnh thành cụ thể nào?
Chiến trường B2 trong luận án bao gồm: các tỉnh cực Nam Trung Bộ (Quảng Đức, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy); các tỉnh miền Đông Nam Bộ (Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Long, Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa); các tỉnh miền Trung Nam Bộ (Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Gò Công); các tỉnh miền Tây Nam Bộ (Châu Đốc, An Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An Xuyên, Chương Thiện) và đặc khu Sài Gòn - Gia Định.
2. Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ 10 (11/1970) có bước chuyển biến chủ trương nào mang tính mấu chốt đối với công tác binh vận?
Hội nghị lần 10 đã chuyển phương châm từ nôn nóng tổng tiến công sang kiên trì tiến công từng bước, làm tan rã từng bộ phận đối phương. Đồng thời, Trung ương Cục lần đầu tiên xác định mục tiêu và giải pháp binh vận cụ thể cho từng loại đối tượng riêng biệt: làm tan rã đại bộ phận Phòng vệ dân sự; tiêu diệt bộ phận ác ôn nòng cốt của Bảo an; làm suy yếu tư tưởng và tăng đào ngũ trong Quân chủ lực; phân hóa tầng lớp Sĩ quan cấp dưới với nhóm cầm đầu cấp cao.
3. Bốn nội dung chỉ đạo công tác binh vận xuyên suốt của Trung ương Cục được luận án làm rõ là gì?
Bốn nội dung gồm: (1) Xây dựng lực lượng binh vận và củng cố cơ quan chuyên trách; (2) Xây dựng cơ sở và hoạt động nội tuyến trong lòng địch; (3) Binh vận kết hợp với tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; (4) Thực hiện chính sách binh vận, chính sách tù hàng binh và hòa hợp dân tộc.
4. Những nhân vật cơ sở nội tuyến tiêu biểu nào trên chiến trường B2 được luận án dẫn chứng?
Văn bản luận án nêu rõ các trường hợp cơ sở nội tuyến tiêu biểu như: phi công Nguyễn Thành Trung (ném bom Dinh Độc Lập và sân bay Tân Sơn Nhất), Thiếu tá Lê Quang Ninh (tiểu đoàn trưởng dẫn nguyên tiểu đoàn về với nhân dân), và Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (tác động Tổng thống Dương Văn Minh ra nhật lệnh ngừng bắn trưa ngày 30/4/1975).
5. Kết quả thực tiễn nổi bật của công tác binh vận tại Tây Nam Bộ năm 1972 được ghi nhận bằng những số liệu nào?
Trong chiến dịch tổng hợp Nguyễn Huệ II năm 1972 tại Tây Nam Bộ, công tác binh vận đã vận động làm cho 31.000 binh sĩ đào rã ngũ, mang theo 399 súng; làm tan rã 50.000 phòng vệ dân sự, thu 1.000 súng; đồng thời xây dựng được hơn 2.000 cơ sở nội tuyến trong lòng đối phương (tăng gấp 3 lần so với năm 1969).
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Khắc Trai là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tái hiện một cách hệ thống tiến trình Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác binh vận trên chiến trường B2 giai đoạn 1969 - 1975. Thông qua nguồn tư liệu văn kiện phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp logic, luận án đã làm rõ sự chuyển hướng linh hoạt về chủ trương, nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công và vai trò then chốt của mạng lưới cơ sở nội tuyến. Các kết luận khoa học và bài học kinh nghiệm được đúc rút trong luận án không chỉ phản ánh giá trị lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích cho công tác vận động quần chúng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.