Tổng quan luận án
Tiểu thuyết là thể loại tự sự quy mô lớn, giữ vai trò chủ công trong văn xuôi và phản ánh hiện thực đời sống ở các giới hạn không gian, thời gian đa dạng. Nền tiểu thuyết Mỹ Latinh đã khẳng định vị trí trên văn đàn thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về khu vực văn học này còn mang tính chất rời rạc, chưa được xây dựng thành hệ thống hoàn chỉnh. Gabriel Garcia Marquez (1927-2014) là đại diện tiêu biểu của văn học Mỹ Latinh, sáng tác của ông là sự dung hợp các khả năng của chủ nghĩa huyền thoại, gắn kết giữa chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, chủ nghĩa hiện đại Tây Âu và văn học hậu hiện đại thế giới. Dù là tác giả hậu hiện đại có nhiều tác phẩm được dịch sớm tại Việt Nam, sáng tác của G. Marquez đôi khi chưa được đặt trên đúng nền tảng văn hóa bản địa Mỹ Latinh, dẫn đến những cách hiểu chưa chuẩn xác. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là sự thiếu vắng một công trình khảo sát toàn diện, bao quát toàn bộ hệ thống tiểu thuyết của G. Marquez dưới góc nhìn thi pháp thể loại.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích làm rõ các đặc trưng trong nghệ thuật tiểu thuyết của G. Marquez từ góc độ thi pháp thể loại, khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học Mỹ Latinh và văn học hậu hiện đại thế giới, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình nghiên cứu văn học Mỹ Latinh tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu và chỉ rõ quan niệm nghệ thuật của G. Marquez;
- Tìm hiểu thế giới nhân vật của G. Marquez từ góc nhìn thi pháp tiểu thuyết;
- Nghiên cứu và chỉ ra đặc điểm thi pháp kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của G. Marquez.
Đối tượng nghiên cứu của công trình là thi pháp tiểu thuyết G. Marquez.
Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 9 cuốn tiểu thuyết của nhà văn, gồm 7 tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt: Giờ xấu (1962), Trăm năm cô đơn (1967), Ký sự về một cái chết được báo trước (1981), Tình yêu thời thổ tả (1985), Tướng quân giữa mê hồn trận (1989), Tin tức về một vụ bắt cóc (1997), Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2004); cùng 2 cuốn chưa dịch sang tiếng Việt tại thời điểm thực hiện luận án: El otoño del patriarca (1975, tên tiếng Anh là The autumn of the patriarch, dịch nghĩa là Mùa thu của trưởng tộc) và Del amor y otros demonios (1994, tên tiếng Anh là Of love and other demons, dịch nghĩa là Tình yêu và những con quỷ khác). Luận án cũng đối chiếu với một số truyện ngắn và hồi ký (Bão lá, Ngài đại tá chờ thư, Cụ già có đôi cánh khổng lồ, Sống để kể lại, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Những người hành hương kỳ lạ). Về phương diện nội dung thi pháp, luận án giới hạn khảo sát ở năm yếu tố mang tính chi phối: quan niệm nghệ thuật, thế giới nhân vật, kết cấu, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu về G. Marquez được tác giả luận án tổng hợp theo bốn hướng nghiên cứu chính:
Hướng nghiên cứu về tiểu sử của G. Marquez tập trung vào ba thời điểm: khi tác giả nhận giải Nobel Văn học (1982), giai đoạn lâm bệnh (1995-2000) và khi qua đời (2014). Tại Việt Nam, dịch giả Nguyễn Trung Đức mở đầu việc giới thiệu tiểu sử tác giả qua bản dịch Trăm năm cô đơn (1984). Ở phạm vi quốc tế, cuốn G. Marquez: A life (2009) của Gerald Martin chia cuộc đời tác giả thành ba giai đoạn: ở Colombia (1899-1955), ở châu Âu và Mỹ Latinh (1955-1967), giai đoạn nổi tiếng (1967-2005). Cuốn G. Marquez: The man and his work (1990) của Bell Villada và Gene H. đi sâu vào các sự kiện diễn ra tại Colombia tác động đến tư tưởng sáng tác. Cuốn The last interview G. Marquez and other conversations (2015) do David Streitfeld biên tập tập hợp 5 bài phỏng vấn các năm 1956, 1975, 1993, 1997, 2006, làm sáng tỏ bối cảnh hình thành các tác phẩm quan trọng. Ngoài ra còn có bài phỏng vấn A stamp used only for love letters của David Streitfeld và các bài báo của BBC, The Guardian.
Hướng nghiên cứu tổng thể các sáng tác tiếp cận tác phẩm dưới các góc độ thể loại, chủ đề và nghệ thuật tự sự. Eric L. Reinholtz trong How to write G. Marquez khảo sát phương diện chủ đề, nhân vật, lịch sử, thể loại và ngôn ngữ. Daniel Robert Lackey trong G. Marquez and the literature of fact: reading of relato de un naufrago phân tích các kiểu tự sự. Mike Giuffrida (2011) với luận án G. Marquez and aesthetics of sensuality khảo cứu mối liên hệ giữa mỹ học phồn thực, tính dục và văn hóa dân gian. Lorna arejola Billanes khảo cứu hình tượng phụ nữ trong Trăm năm cô đơn, Tình yêu thời thổ tả, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi. Phan Tuấn Anh (2014) khảo sát hư cấu lịch sử và huyền thoại. Các tác giả Eduarda Gil Lopes Barata (2013) và Henado Lopez Cuadros (2010) khảo sát các khía cạnh biểu tượng và nhân vật.
Hướng nghiên cứu về từng tác phẩm riêng lẻ tập trung chủ yếu vào hai tác phẩm Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả. Với Trăm năm cô đơn, Daniel Erickson (2009) trong Ghosts, metaphor, and history in Toni Morrison’s Beloved and G. Marquez’s One hundred years of solitude so sánh yếu tố ma, ẩn dụ và lịch sử giữa hai nhà văn; Nguyễn Trung Đức (1995) phân tích thời gian vòng tròn khép kín, đồng hiện và không gian Mỹ Latinh thu nhỏ; Lê Nguyên Cẩn (2000) phân tích biểu tượng và ý nghĩa triệt tiêu của nỗi cô đơn. Với Tình yêu thời thổ tả, Luis H. Toledo Pereyra khảo cứu mối quan hệ giữa y học và văn học qua nhân vật bác sĩ Urbino; Aykutc nghiên cứu bệnh tương tư; Phan Tuấn Anh (2011, 2012, 2013) chỉ ra các diễn ngôn tình yêu và mã thẩm mỹ của căn bệnh thổ tả. Các tác phẩm khác như Tướng quân giữa mê hồn trận được Hernado Lopez Cuadros (2009) và Phan Tuấn Anh (2010) tìm hiểu; Ký sự về một cái chết được báo trước (2010), Giờ xấu, Tin tức về một vụ bắt cóc (2010), Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (2013) được Phan Tuấn Anh phân tích dưới góc độ trinh thám, tự sự đa điểm nhìn và không - thời gian nghịch dị.
Hướng nghiên cứu G. Marquez như một đại diện tiêu biểu của văn học hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh và văn học hậu hiện đại gồm các công trình: Christopher Warnes (2009) với Magical realism and the postcolonial novel between faith and irreverence; Rosix E. Rincones Diaz (2011) so sánh yếu tố lãng mạn giữa Marquez, Mutis và Juan Rulfo; Lê Huy Bắc với Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và G. Marquez (2009) và giáo trình Văn học Âu Mỹ (2011); Phan Tuấn Anh với luận án Nghệ thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết G. Marquez (2014) và chuyên luận G. Marquez và nỗi cô đơn huyền ảo (2015); E. Meletinsky trong Thi pháp của huyền thoại (bản dịch tiếng Việt 2004) xem Marquez là trường hợp điển hình của tư duy tân huyền thoại.
Vị trí của luận án: Các công trình đi trước đã khẳng định vị thế của G. Marquez nhưng thường chỉ khảo cứu một vài tác phẩm riêng lẻ hoặc một lát cắt lý thuyết nhất định. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát toàn bộ 9 tiểu thuyết của G. Marquez trên năm phương diện thi pháp thể loại then chốt một cách nhất quán và có hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết thi pháp thể loại và các quan niệm lý luận văn học về tiểu thuyết:
- Khái niệm tiểu thuyết: Tác giả dẫn định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học xác định tiểu thuyết là thể loại tự sự quy mô lớn phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian, thời gian. Quan niệm của M. Bakhtin được ứng dụng ở ba đặc trưng cơ bản: tính ba chiều gắn liền ý thức đa ngữ, sự thay đổi tọa độ thời gian tiếp xúc với hiện tại chưa hoàn thành, tính đối thoại đa thanh và thời không gian (chronotope). Tác giả cũng tiếp thu quan niệm của Lý Hoài Thu về tính dung nạp tri thức khoa học, khả năng tổng hợp các loại hình nghệ thuật (báo chí, điện ảnh) và tổ chức điểm nhìn trần thuật phức điệu.
- Thi pháp tiểu thuyết: Vận dụng lý thuyết của Mark Axelrod về nguyên tắc vận hành của hư cấu vượt qua rào cản văn hóa; thi pháp học lịch sử của M. Khrapchenko về sự tiến hóa của thể loại; lý thuyết của M. Bakhtin về chất hội hè carnaval và tính đa thanh; quan niệm của Đỗ Đức Hiểu về cấu trúc không gian, thời gian, nhân vật và trần thuật; chuyên luận của Nguyễn Hải Hà về nghệ thuật lựa chọn nguyên mẫu; cũng như các mô hình thi pháp của Phạm Thành Hưng và Nguyễn Thị Như Trang.
- Quan niệm nghệ thuật: Tiếp cận quan điểm của Trần Đình Sử xem quan niệm nghệ thuật là phạm trù nghệ thuật học gắn với hệ quy chiếu nhân bản, là cách hình dung về con người và thế giới bằng phương tiện nghệ thuật, chi phối trực tiếp hệ thống nhân vật. Đồng thời, luận án tiếp thu các lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Angel Flores (1935), Luis Leal, Mircea Eliade, Miguel Ángel Asturias và Lê Huy Bắc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các phương pháp:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học (phương pháp chủ đạo): Khảo sát quan niệm nghệ thuật, nhân vật, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật.
- Phương pháp loại hình: Nhận diện đặc trưng của thể loại tiểu thuyết trong sáng tác của G. Marquez.
- Phương pháp phê bình huyền thoại: Giải mã các cổ mẫu, huyền thoại và tư duy ma thuật bản địa.
- Phương pháp nghiên cứu liên văn bản: Khảo sát mối liên hệ giữa văn bản tiểu thuyết với các văn bản lịch sử, chính trị, y học, báo chí.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu thi pháp tiểu thuyết của G. Marquez với các đại diện cùng thời hoặc cùng trào lưu như Toni Morrison, Mikhail Bulgakov, Salman Rushdie, Franz Kafka, Haruki Murakami.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu sự thâm nhập của kỹ thuật báo chí, tư duy điện ảnh và tri thức y học vào tác phẩm.
- Phương pháp thống kê, phân tích: Khảo sát định lượng tần suất xuất hiện của từ ngữ, không gian và phân loại nhân vật.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp tiểu sử (tìm hiểu nguyên mẫu gia đình và đời sống tác giả), phương pháp thông diễn học (giải mã biểu tượng Kinh thánh).
Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm 9 cuốn tiểu thuyết của G. Marquez, hệ thống truyện ngắn, tự truyện Sống để kể lại, các bài diễn từ, phỏng vấn cùng tài liệu lý luận, phê bình trong và ngoài nước.
Dưới đây là bảng tổng hợp hệ thống bảng biểu thống kê dữ liệu được tác giả luận án xây dựng trong công trình:
| Ký hiệu bảng |
Nội dung thống kê ngữ liệu trong tiểu thuyết G. Marquez |
| Bảng 2.1 |
Thống kê yếu tố giễu nhại trong tiểu thuyết của G. Marquez |
| Bảng 3.1 |
Thống kê số lần lặp lại từ chỉ cô đơn trong tiểu thuyết của G. Marquez |
| Bảng 3.2 |
Thống kê các nhân vật cô đơn trong tiểu thuyết của G. Marquez |
| Bảng 3.3 |
Thống kê nhân vật hồn ma trong tiểu thuyết của G. Marquez |
| Bảng 4.1 |
Cốt truyện khiếm diện và tường giải trong tiểu thuyết của G. Marquez |
| Bảng 4.2 |
Thống kê số lần xuất hiện không gian căn phòng gắn với nỗi cô đơn của các nhân vật |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thi pháp thể loại tiểu thuyết và lịch sử nghiên cứu tác phẩm của G. Marquez. Tác giả phân tích nội hàm khái niệm tiểu thuyết từ góc độ thi pháp học, dựa trên luận điểm của M. Bakhtin, M. Khrapchenko, Mark Axelrod và các nhà nghiên cứu Việt Nam. Chương này phân loại các công trình nghiên cứu về G. Marquez ở trong và ngoài nước thành bốn hướng tiếp cận: hướng nghiên cứu tiểu sử; hướng nghiên cứu tổng thể các sáng tác; hướng nghiên cứu từng tác phẩm cụ thể; hướng nghiên cứu tác giả với tư cách đại diện của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và văn học hậu hiện đại. Luận điểm rút ra từ chương 1 là: Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về G. Marquez trên thế giới rất phong phú, nhưng tại Việt Nam còn thiếu vắng công trình khảo sát toàn diện hệ thống tiểu thuyết của ông dưới góc nhìn thi pháp thể loại. Đây là căn cứ khoa học xác lập tính cấp thiết và hướng đi riêng của luận án.
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật của G. Marquez
Chương 2 làm rõ quan niệm nghệ thuật của tác giả thông qua hai kênh: phát ngôn lý thuyết và thế giới nghệ thuật.
- Về giới thuyết và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo: Tác giả phân tích thuật ngữ hiện thực huyền ảo từ đề xuất của Angel Flores (1935) đến các cách hiểu của Luis Leal, Mircea Eliade, Miguel Ángel Asturias. Luận án chỉ rõ nét khu biệt của Marquez: hiện thực huyền ảo của ông không bắt nguồn từ óc tưởng tượng thuần túy mà nảy sinh từ chính thực tại kỳ diệu của Mỹ Latinh. Hiện thực ấy được nhào nặn qua kỹ thuật của người thợ mộc, kết hợp giữa hai khuynh hướng: "huyền ảo hóa cái hiện thực" và "hiện thực hóa cái huyền ảo", trong đó khuynh hướng sau ngày càng chiếm ưu thế ở giai đoạn sáng tác về sau. Khác với sự nghiêm nghị hay nặng tính triết lý bản thể của Franz Kafka hay Toni Morrison, hiện thực huyền ảo của Marquez mang đậm chất thơ, tính hội hè, chất giễu nhại và mỹ học phồn thực bắt nguồn từ văn hóa lai.
- Quan niệm qua phát ngôn lý thuyết: Nỗi cô đơn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, thể hiện qua Diễn từ nhận giải Nobel năm 1982 Nỗi cô đơn của châu Mỹ Latinh. Cô đơn trong cái nhìn của Marquez không đơn thuần là bi kịch cá nhân mà mang bản tính lịch sử của toàn thể cộng đồng Nam Mỹ nghèo khó, nảy sinh từ sự ích kỷ, sự thiếu vắng tình yêu và tình đoàn kết. Marquez xem nỗi cô đơn là mặt trái để kêu gọi sự gắn kết nhân loại, khẳng định con người không cam chịu tàn lụi (kế thừa tinh thần của William Faulkner và Ernest Hemingway). Về tình yêu, nhà văn quan niệm đây là điều khó khăn nhất nhưng có giá trị cứu rỗi, không bị giới hạn bởi tuổi tác; tình yêu gắn liền với tình dục bản năng tự nhiên và đối lập với sự cô đơn, loạn luân. Về tuổi tác và số phận, con người tồn tại trong ba cuộc đời (công khai, riêng tư, bí mật); số phận gắn với các định mệnh nghiệt ngã, màu sắc tôn giáo đa trị thể hiện qua sự che chở của Chúa trời đối với cả kẻ thiện lẫn kẻ ác.
- Quan niệm bộc lộ qua thế giới nghệ thuật: Thể hiện qua quan niệm về nghề văn (chắt lọc từ hiện thực đời sống và ký ức gia đình); sự thẩm thấu của nghiệp vụ báo chí (tính xác thực của sự kiện, kỹ thuật điều tra) và văn hóa dân gian (yếu tố huyền thoại, truyền thuyết); cảm quan đa trị về mặt tư tưởng và hệ chủ đề xoay quanh chiến tranh, quyền lực độc tài, dịch bệnh, định mệnh và bạo lực lịch sử.
Chương 3: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của G. Marquez
Chương 3 khảo sát thi pháp xây dựng hình tượng con người thông qua bốn kiểu nhân vật trung tâm:
- Kiểu nhân vật cô đơn đặc trưng Nam Mỹ: Luận án phân tích vòng xoáy cô đơn khép kín của các nhân vật (tiêu biểu như các thế hệ dòng họ Buendia trong Trăm năm cô đơn, Florentino Ariza trong Tình yêu thời thổ tả). Nỗi cô đơn xuất hiện từ sự ích kỷ, định mệnh loạn luân hoặc do sự tách biệt với cộng đồng. Thủ pháp biểu đạt tính cách bao gồm việc lặp lại hành vi mang tính cơ học, sự im lặng kéo dài và việc thống kê tần suất xuất hiện dày đặc của các từ ngữ chỉ trạng thái cô độc trong văn bản (thể hiện qua Bảng 3.1 và Bảng 3.2). Nỗi cô đơn là phương tiện nghệ thuật nhằm chuyển tải thông điệp về sự cần thiết của tình đoàn kết.
- Kiểu nhân vật kẻ độc tài: Khảo sát qua các hình tượng trong Mùa thu của trưởng tộc, Đại tá Aureliano Buendia trong Trăm năm cô đơn, Escobar trong Tin tức về một vụ bắt cóc. Nhân vật độc tài được khắc họa gắn liền với quyền lực tuyệt đối và sự tha hóa nhân cách, sống trong nỗi sợ hãi bị ám sát và sự cô độc cùng cực. Thủ pháp xây dựng nhân vật sử dụng nghệ thuật giễu nhại, giải thiêng quyền lực, miêu tả sự mục ruỗng thể xác và tinh thần, nhằm truyền tải thông điệp về sự phi lý của bạo lực và tính chất vô nghĩa của các cuộc nội chiến.
- Kiểu nhân vật phụ nữ: Bao gồm hình tượng người mẹ trụ cột bảo tồn dòng giống và gia đình (bà cụ Ursula), người phụ nữ mang vẻ đẹp trinh nữ huyền ảo thoát tục (Remedios - Người đẹp), và những người phụ nữ gắn liền với bản năng tự nhiên, tính dục giải phóng (Pilar Ternera, Petra Cotes, các cô gái lai đen). Nhân vật phụ nữ là hiện thân của sức sống bền bỉ, lòng nhân ái và tình yêu thương, đóng vai trò giữ gìn sự cân bằng cho thế giới nghệ thuật.
- Kiểu nhân vật hồn ma: Khảo sát các bóng ma xuất hiện bình đẳng bên cạnh người sống (như hồn ma Prudencio Aguilar, Melquiades trong Trăm năm cô đơn). Luận án thống kê các nhân vật hồn ma (Bảng 3.3) và chỉ ra thủ pháp xóa nhòa ranh giới giữa cõi sống và cõi chết. Hồn ma trong tiểu thuyết của Marquez không nhằm gây sợ hãi mà tồn tại như một dạng thức lưu giữ ký ức lịch sử, sự gắn kết văn hóa và nhắc nhở về giá trị của sự sống.
Chương 4: Kết cấu và thời gian, không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của G. Marquez
Chương 4 phân tích các phương thức tổ chức hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết:
- Kết cấu tiểu thuyết: Luận án khảo sát sự tổ chức cốt truyện qua hai dạng thức: cốt truyện khiếm diện (các mắt xích bị khuyết thiếu, giấu kín nguyên nhân để kích thích sự suy đoán của người đọc) và cốt truyện tường giải (Bảng 4.1). Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trần thuật mang tính đa điểm nhìn, di chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bên ngoài của người kể chuyện toàn tri và điểm nhìn bên trong của nhân vật, tạo nên tính phức điệu và hiện tượng xóa nhòa ranh giới thể loại giữa tiểu thuyết, ký sự, trinh thám.
- Thời gian nghệ thuật: Khảo sát bốn chiều kích thời gian:
- Thời gian vòng tròn, khép kín: Thể hiện sự lặp lại của các thế hệ, tên gọi, tính cách và biến cố lịch sử;
- Thời gian đồng hiện: Quá khứ, hiện tại và tương lai cùng hội tụ trong một khoảnh khắc trần thuật;
- Sự tương ứng giữa thời gian sự kiện và thời gian truyện kể: Việc co giãn, đảo trật tự biên niên nhằm phục vụ ý đồ nghệ thuật;
- Thời gian huyền ảo: Dạng thời gian ngưng đọng hoặc trôi đi với tốc độ dị thường (như trận mưa kéo dài gần 5 năm ở Macondo).
- Không gian nghệ thuật: Phân tích năm mô hình không gian biểu tượng:
- Không gian làng Macondo: Không gian huyền thoại hóa của toàn bộ châu Mỹ Latinh thu nhỏ, đi từ khai hoang, phồn vinh đến suy tàn và bị xóa sổ;
- Không gian căn phòng: Khoảng trời riêng tư, khép kín, nơi các nhân vật giam cầm nỗi cô đơn cá nhân (luận án lập Bảng 4.2 thống kê tần suất không gian căn phòng);
- Không gian tấm da thuộc: Biểu tượng cho sự định đoạt của số phận và sự mã hóa lịch sử bằng ngôn ngữ tiếng Phạn;
- Không gian nhà chứa: Không gian bản năng, nghịch dị, nơi giải tỏa dục vọng đồng thời phơi bày sự tàn lụi;
- Không - thời gian bốn chiều: Sự kết hợp hữu cơ giữa các chiều kích vật lý và tâm linh, tạo ra một thế giới nghệ thuật đa tầng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp lý luận thể loại: Luận án nghiên cứu và chỉ ra các đặc điểm thi pháp tiểu thuyết G. Marquez cũng chính là những đặc điểm tiêu biểu cho tiểu thuyết Mỹ Latinh thế kỷ XX, tiểu thuyết hiện đại Tây Âu và tiểu thuyết hậu hiện đại thế giới.
- Ứng dụng lý thuyết: Công trình ứng dụng lý thuyết thi pháp thể loại, lý thuyết văn học hậu hiện đại và lý thuyết tự sự vào việc khảo sát toàn diện một hiện tượng văn học cụ thể.
- Đóng góp thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu mới, có tính hệ thống, đặt các tác phẩm của G. Marquez vào đúng bối cảnh văn hóa bản địa Mỹ Latinh, khắc phục những cách hiểu lệch lạc do thiếu hụt tri thức nền tảng văn hóa.
- Nhận diện trào lưu: Góp phần nhận diện diện mạo, bản sắc và ranh giới nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh trong tương quan với văn học thế giới.
Về mặt giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất định hướng tiếp cận văn học dịch nước ngoài: Cần kết hợp phân tích văn bản nghệ thuật với việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, phong tục, tín ngưỡng và văn hóa bản địa, tránh áp đặt các khuôn mẫu tư duy duy lý phương Tây khi tiếp nhận các tác phẩm thuộc chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ giới hạn nghiên cứu: Tác giả không thể khảo sát toàn bộ các bình diện thi pháp tiểu thuyết phong phú của G. Marquez mà chủ động giới hạn phạm vi vào năm đặc điểm then chốt nhất có vai trò quyết định cấu trúc tác phẩm: quan niệm nghệ thuật, thế giới nhân vật, kết cấu, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật.
Từ phạm vi đã thực hiện, hướng nghiên cứu tiếp nối có thể mở rộng khảo sát các phương diện thi pháp khác chưa được đi sâu, bao gồm: thi pháp ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật; sự tương tác sâu hơn giữa thi pháp tiểu thuyết và thi pháp truyện ngắn của G. Marquez; cũng như nghiên cứu liên văn bản, liên ngành giữa văn học của ông với nghệ thuật điện ảnh và nghiệp vụ báo chí hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Ngữ văn, Sư phạm Ngữ văn, Lý luận văn học và Văn học nước ngoài;
- Những người nghiên cứu chuyên sâu về văn học Mỹ Latinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và thi pháp học hậu hiện đại;
- Người làm công tác dịch thuật và phê bình văn học trong việc tiếp cận các văn bản văn học đa văn hóa.
Các phần có giá trị tham khảo nổi bật trong công trình gồm:
- Hệ thống khung phân tích thi pháp thể loại vận dụng cho tác gia tự sự lớn;
- Phương pháp khảo sát thế giới nhân vật gắn liền với các bình diện không gian và thời gian nghệ thuật;
- Phần Phụ lục của luận án với nội dung tóm tắt hai tiểu thuyết chưa được dịch sang tiếng Việt (Mùa thu của trưởng tộc và Tình yêu và những con quỷ khác), bản lược dịch các công trình nghiên cứu nước ngoài về Marquez, cùng hệ thống bảng biểu thống kê tần suất các từ ngữ chỉ sự cô đơn và không gian nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu cuốn tiểu thuyết của G. Marquez và những tác phẩm nào chưa được dịch sang tiếng Việt tại thời điểm nghiên cứu?
Luận án khảo sát toàn bộ 9 cuốn tiểu thuyết của G. Marquez, trong đó có 7 cuốn đã được dịch sang tiếng Việt (Giờ xấu, Trăm năm cô đơn, Ký sự về một cái chết được báo trước, Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Tin tức về một vụ bắt cóc, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi) và 2 cuốn chưa được chuyển dịch sang tiếng Việt là El otoño del patriarca (1975, Mùa thu của trưởng tộc) và Del amor y otros demonios (1994, Tình yêu và những con quỷ khác).
2. Khái niệm quan niệm nghệ thuật được luận án xác định dựa trên cơ sở lý luận nào?
Luận án tiếp thu định nghĩa của Trần Đình Sử và Từ điển thuật ngữ văn học, xác định quan niệm nghệ thuật là phạm trù nghệ thuật học gắn bó với thế giới quan và triết học nhân bản của nhà văn, là lăng kính thẩm mỹ, kim chỉ nam quyết định việc khám phá con người và kiến tạo toàn bộ cấu trúc hình thức tác phẩm, đặc biệt là hệ thống hình tượng nhân vật.
3. Sự khác biệt căn bản giữa hiện thực huyền ảo của G. Marquez với các nhà văn hiện đại phương Tây như Franz Kafka theo phân tích của tác giả là gì?
Cả hai nhà văn đều cảm nhận rõ sự biến động của thời đại, nhưng nếu Franz Kafka hướng đến cái nhìn giải thiêng, nặng tính bản thể và cảm quan bi kịch phi lý, thì G. Marquez đưa vào tiểu thuyết cái nhìn của hiện thực Mỹ Latinh đương thời, dung hợp chất thơ, tiếng cười giễu nhại và niềm tin vào con người, xem điều kỳ diệu là một phần tự nhiên của đời sống thường nhật.
4. Luận án phân chia thế giới nhân vật của G. Marquez thành những kiểu nhân vật nào?
Thế giới nhân vật được phân chia thành bốn kiểu nhân vật tiêu biểu: kiểu nhân vật cô đơn đặc trưng Nam Mỹ, kiểu nhân vật kẻ độc tài, kiểu nhân vật phụ nữ và kiểu nhân vật hồn ma.
5. Thông điệp cốt lõi được tác giả gửi gắm qua hình tượng nỗi cô đơn trong tiểu thuyết là gì?
Nỗi cô đơn trong tiểu thuyết G. Marquez không đơn thuần là số phận bi đát mà là mặt trái của sự thiếu vắng tình thương và sự đoàn kết; thông qua việc khắc họa nỗi cô đơn của cá nhân, tập thể và cộng đồng Mỹ Latinh, nhà văn tha thiết kêu gọi tình đoàn kết, lòng nhân ái và sự gắn kết giữa con người để vượt qua sự diệt vong.
Kết luận
Luận án Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết G. Marquez của tác giả Nguyễn Thị Hảo là công trình nghiên cứu chuyên ngành Lý luận văn học, tiếp cận hệ thống 9 tiểu thuyết của nhà văn dưới góc nhìn thi pháp thể loại. Thông qua việc phân tích quan niệm nghệ thuật, thế giới nhân vật, kết cấu và không - thời gian nghệ thuật, tác giả đã làm sáng tỏ các đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh và những dấu ấn của văn học hậu hiện đại trong sáng tác của G. Marquez. Công trình góp phần cung cấp nguồn tư liệu học thuật có hệ thống, hỗ trợ hiệu quả cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học nước ngoài tại Việt Nam.