Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi" do nghiên cứu sinh Ngô Thị Hoàng Giang thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Thị Khánh Hà và PGS.TS Trịnh Thị Linh. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 62 31 04 01), hoàn thành và bảo vệ năm 2023. Một phần dữ liệu của công trình được triển khai trong khuôn khổ đề tài "Cảm nhận hạnh phúc của trẻ em Việt Nam" (Mã số 501.300) do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đảm bảo hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho trẻ em là một trong những chỉ số phát triển của mỗi quốc gia (James và James, 2012). Mức độ hài lòng với cuộc sống có vai trò bảo vệ trẻ em trước căng thẳng, ngăn ngừa hành vi tiêu cực (Suldo và Huebner, 2004a), giảm thiểu nguy cơ khởi phát trầm cảm (Lewinsohn, Redner và Seeley, 1991; Proctor và đồng nghiệp, 2008), củng cố mối quan hệ liên cá nhân (Furr và Funder, 1998) và hạn chế tình trạng bỏ học (Frisch và đồng nghiệp, 2002).
Phần lớn các nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung vào giai đoạn bắt đầu đến trường (6 - 7 tuổi) hoặc giai đoạn dậy thì (12 - 15 tuổi), để lại khoảng trống dữ liệu ở nhóm tuổi giữa và cuối tiểu học, đầu trung học cơ sở (8 - 12 tuổi). Đây là giai đoạn chuyển tiếp có nhiều thay đổi tâm sinh lý, chịu áp lực học tập tăng cao và đối mặt với kỳ thi chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở. Mặt khác, đa số các công trình trước đây đánh giá cuộc sống của trẻ qua lăng kính của người lớn (cha mẹ, thầy cô, chuyên gia) mà thiếu vắng tiếng nói, đánh giá chủ quan của chính trẻ em (Ben-Arieh, 2008, 2010; Casas, 2011, 2016b). Tại Việt Nam, nguồn dữ liệu thực nghiệm về sự hài lòng cuộc sống do chính trẻ từ 8 - 12 tuổi tự đánh giá còn rất hạn chế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra một số kiến nghị với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm giúp trẻ nâng cao mức độ hài lòng với cuộc sống.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành hai nhóm:
- Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận:
- (1) Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
- (2) Tìm hiểu các phương pháp, công cụ nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- (3) Xây dựng cơ sở lý luận về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:
- (1) Làm rõ thực trạng sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em và xác định các yếu tố ảnh hưởng.
- (2) Đề xuất các kiến nghị đối với gia đình, nhà trường và xã hội.
Giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm:
- Giả thuyết 1: Đa số trẻ em trong độ tuổi từ 8 đến 12 tuổi hài lòng với cuộc sống ở mức cao.
- Giả thuyết 2: Sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân, của thầy cô, của mọi người trong khu vực sống có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em. Trong đó, sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân trong gia đình có ảnh hưởng nhiều nhất.
- Giả thuyết 3: Bị bạn bè bắt nạt ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
- Giả thuyết 4: Hoạt động vui chơi, giải trí, giúp đỡ gia đình, chơi thể thao và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của trẻ em từ 8 - 12 tuổi về cuộc sống của bản thân trẻ, môi trường, những người xung quanh và các yếu tố ảnh hưởng.
- Khách thể nghiên cứu: 1321 trẻ em trong độ tuổi từ 8 đến 12 tuổi đang học tập tại các trường tiểu học, trung học cơ sở và 06 giáo viên giảng dạy tại các trường khảo sát.
- Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu triển khai tại ba tỉnh/thành phố: Hà Nội (Trường Tiểu học Khương Đình, Trường THCS Hoàng Mai, Trường Tiểu học Phú Cường, Trường THCS Phú Cường), Bắc Giang (Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên, Trường THCS Ngô Sĩ Liên) và Thái Nguyên (Trường Tiểu học Phú Xá, Trường THCS Phú Xá).
- Phạm vi nội dung: Đo lường sự hài lòng qua hai chiều cạnh (bản thân trẻ và môi trường/người xung quanh); xem xét các yếu tố môi trường bên ngoài (gia đình, nhà trường, cộng đồng, bắt nạt, hoạt động giải trí/thể thao/việc nhà, kinh tế), không khảo sát các yếu tố di truyền, khí chất, tính cách nội tại của trẻ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng tiếp cận chính:
1. Nghiên cứu về các mặt biểu hiện của sự hài lòng với cuộc sống
- Nghiên cứu quốc tế: Đặt nền tảng từ Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền Trẻ em và Báo cáo UNICEF (2007, theo Bradshaw và đồng nghiệp, 2009). Huebner (1994) xác định năm lĩnh vực biểu hiện: bạn bè, gia đình, trường học, bản thân và môi trường sống. Nair và Gaither (1999) chỉ ra vai trò của hỗ trợ xã hội và cơ hội hòa nhập. Gilman và Huebner (2003) nhấn mạnh mô hình năm lĩnh vực kết hợp với các điểm mạnh nhân cách (sự kiên trì, hy vọng, tư duy tương lai). Đề án Tầm nhìn Thế giới tại Đức (World Vision, 2007) nhấn mạnh sự tự do trong các mối quan hệ. Brown và Duan (2007), Proctor, Linley và Maltby (2008), Nick Axford (2009), Bradshaw và Richardson (2009), Rees và đồng nghiệp (2010, 2012) bổ sung các khía cạnh về điều kiện vật chất, an toàn, cơ thể và mức chi tiêu công. Strózik và đồng nghiệp (2016) khảo sát 3157 trẻ em tại Ba Lan khẳng định sự hài lòng cao trong quan hệ gia đình. Dự án Thế giới trẻ em (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021) phân lập hai lĩnh vực chính: sự hài lòng với bản thân trẻ và sự hài lòng với môi trường/người xung quanh. Na-Nan và Wongwiwatthananukit (2020), Milovanska-Farrington và Farrington (2021), Sholihin và đồng nghiệp (2022) mở rộng thêm về điều chỉnh cảm xúc và cảm nhận hạnh phúc.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Các báo cáo quốc gia MICS (2010, 2011, 2012, 2014) và Báo cáo Điều tra Gia đình Việt Nam (2006) chủ yếu tiếp cận ở góc độ thực thi quyền, hoàn cảnh kinh tế và lao động trẻ em. Các nghiên cứu tâm lý học gồm: Ngô Thanh Huệ và Lê Thị Mai Liên (2013) sử dụng thang AUQUEI và KINDL-R trên 165 trẻ tại Nghệ An; Trương Thị Khánh Hà, Nguyễn Văn Lượt và Trần Hà Thu (2017) khảo sát trẻ 8 - 12 tuổi ở Hà Nội và Vĩnh Phúc; Lê Thị Mai Liên và đồng nghiệp (2017) so sánh xuyên văn hóa giữa trẻ em Việt Nam và Pháp; Trần Thu Hương và Ngô Thanh Huệ (2018) dùng thang BE-scol cho 535 học sinh từ 8 - 18 tuổi; Nguyễn Văn Lượt và đồng nghiệp (2018) khảo sát 253 học sinh THPT tại Hà Nội và Đà Nẵng; Hồ Văn Dũng (2022) nghiên cứu trên 551 sinh viên Đại học Sư phạm Huế.
2. Nghiên cứu về mức độ hài lòng với cuộc sống
Veenhoven (2006) phân chia sự hài lòng thành 4 mức độ: cảm giác thỏa mãn nhất thời, hài lòng với từng lĩnh vực, trải nghiệm hài lòng cường độ cao trong thời gian ngắn và sự hài lòng bền vững với toàn bộ cuộc sống. Gilman và Huebner (2003), Huebner và đồng nghiệp (2000a) với khảo sát 5.544 học sinh Mỹ (82% phản hồi tích cực), Leung và Zhang (2000) tại Trung Quốc (n = 1009), Neto (1993) tại Bồ Đào Nha (n = 363), Nee và đồng nghiệp (2016) tại Malaysia (n = 416), Savahl và đồng nghiệp (2017) tại Nam Phi (n = 1048) đều chỉ ra trẻ em có mức độ hài lòng chung khá cao.
Nhiều tác giả khẳng định mức độ hài lòng có xu hướng giảm dần theo độ tuổi: Casas (2011), Currie và đồng nghiệp (2012), Goswami (2014), Holte và đồng nghiệp (2013), Suldo và Huebner (2004b), Ullman và Tatar (2001), Park (2005), Chang (2003), Strózik (2016).
3. Nghiên cứu về các nhóm yếu tố ảnh hưởng
- Sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân: Dew và Huebner (1994), Demo và Acock (1996), Greene (2006), Burke và Weir (1978, 1979), Flouri và Buchanan (2002), Shek (1997a-c, 2002a-c), Nickerson và Nagle (2004), Park và Peterson (2006b), Nguyễn Thị Minh Hằng và đồng nghiệp (2019), Oliva và Arranz (2005).
- Sự quan tâm, lắng nghe, tôn trọng của thầy cô và sự giúp đỡ của bạn bè: Maton (1990), Park (2005), Valois và đồng nghiệp (2001), Phan Thị Mai Hương và Nguyễn Thị Thùy Anh (2017), Trần Thu Hương và Ngô Thanh Huệ (2018), Casas và González (2017), Oyarzún Gomez và đồng nghiệp (2022).
- Môi trường khu vực sống: Proctor, Linley và Maltby (2008), Brown và Orthner (1990), Sastre và Ferriere (2000), Gilman và Barry (2003).
- Bị bạn bè bắt nạt: Rigby (2000), Trần Văn Công và đồng nghiệp (2009, 2017), Nguyễn Thị Thanh Mai và đồng nghiệp (2009), Nguyễn Thị Anh và Nguyễn Thị Sĩ (2010), Phạm Thị Thu Ba và Trần Thị Quỳnh Anh (2016), Barbara Coloroso (2017).
- Hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao, giúp việc gia đình: Gilman (2001), Piko và Keresztes (2006), Rosenblum, Sachs và Schreuer (2010), Solish, Perry và Minnes (2010), Dazord và đồng nghiệp (2000).
- Điều kiện kinh tế: Ash và Huebner (2001), Shek (2003a-b, 2005b-c), Homel và Burns (1989), Wishlon (1997), Bearsley và Cummins (1999), Veenhoven (1988), Diener, Inglehart và Tay (2013).
4. Nghiên cứu xây dựng thang đo
- Thang đo đơn bình diện: Thang đo sự hài lòng cuộc sống tổng thể 1 câu hỏi (Campbell và đồng nghiệp, 1976); Thang đo Delighted-terrible 7 khuôn mặt (Andrews và Withey, 1976); Thang đo SWLS (Diener và đồng nghiệp, 1985); Thang đo SLSS gồm 7 item dành cho học sinh 8 - 18 tuổi (Huebner, 1991a).
- Thang đo đa bình diện: Thang đo MSLSS 40 item qua 5 lĩnh vực (Huebner, 1994; Huebner và Gilman, 2002); Thang đo MSSHLS-A 53 item (Gilligan và Huebner, 2002); Thang đo rút gọn BMSSHLS 5 item (Seligson và đồng nghiệp, 2003; Casas, 2017); Thang đo Chỉ số sức khỏe cá nhân PWI-SC 7 item (Cummins và Lau, 2005; Llosada-Gistau và đồng nghiệp, 2019); Thang đo Sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em thuộc Dự án Thế giới trẻ em gồm 12 mệnh đề (Casas, 2017; Savahl và đồng nghiệp, 2021).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Luận án giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam về đánh giá chủ quan của trẻ em lứa tuổi 8 - 12 đối với sự hài lòng cuộc sống; kiểm định và vận dụng thang đo đa chiều kết hợp từ chuẩn quốc tế trên mẫu học sinh tiểu học và trung học cơ sở Việt Nam; phân tích định lượng tác động đồng thời của 6 nhóm yếu tố môi trường bên ngoài tới sự hài lòng của trẻ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng quan điểm tâm lý học Mác-xít và ba nguyên tắc phương pháp luận:
- Nguyên tắc hoạt động: Tâm lý hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua các hoạt động sống hàng ngày của trẻ (học tập, giao tiếp, vui chơi, giải trí, lao động gia đình).
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Sự hài lòng cuộc sống là một cấu trúc trọn vẹn, chịu tác động tổng hòa từ các yếu tố cá nhân, hoàn cảnh gia đình, nhà trường và môi trường xã hội.
- Nguyên tắc phát triển: Đánh giá sự biến đổi trong nhận thức và mức độ hài lòng của trẻ theo các mốc lứa tuổi (8, 10, 12 tuổi) và sự khác biệt giới tính, khu vực cư trú.
Khung đo lường sự hài lòng với cuộc sống của trẻ được xây dựng trên hai chiều cạnh (12 mệnh đề, thang đo Likert 11 mức độ từ 0 = Hoàn toàn không hài lòng đến 10 = Hoàn toàn hài lòng):
- Sự hài lòng với bản thân trẻ (6 chỉ báo): Vẻ bề ngoài, sức khỏe, sự tự do cá nhân, sự an toàn của bản thân, những điều sắp xảy ra trong tương lai và cuộc sống nói chung.
- Sự hài lòng với môi trường và mọi người xung quanh (6 chỉ báo): Những người sống cùng trẻ, vị thế khi là học sinh, những điều học được ở trường, bạn bè trong lớp, khu vực nơi trẻ đang sống và sự lắng nghe của người lớn.
Sáu nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: (1) Sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân; (2) Sự quan tâm, lắng nghe, tôn trọng của thầy cô và sự giúp đỡ của bạn bè; (3) Sự quan tâm, giúp đỡ của mọi người trong khu vực sống; (4) Tình trạng bị bạn bè bắt nạt; (5) Hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao và giúp đỡ gia đình; (6) Điều kiện kinh tế gia đình.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| KHUNG PHÂN TÍCH SỰ HÀI LÒNG VỚI CUỘC SỐNG CỦA TRẺ EM |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CHIỀU CẠNH ĐO LƯỜNG |
| 1. Hài lòng với bản thân: Vẻ bề ngoài, sức khỏe, tự do, an toàn, |
| điều sắp xảy ra, cuộc sống nói chung. |
| 2. Hài lòng với môi trường xung quanh: Người sống cùng, cuộc sống học sinh, |
| điều học ở trường, bạn cùng lớp, khu vực sống, sự lắng nghe của người lớn.|
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG |
| - Gia đình (quan tâm, hỗ trợ) - Bị bạn bè bắt nạt |
| - Nhà trường & Bạn bè (tôn trọng, giúp) - Hoạt động (vui chơi, thể thao, nhà)|
| - Cộng đồng khu vực sống - Điều kiện kinh tế |
+-------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional design), kết hợp phương pháp định lượng và định tính:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các nguồn lý luận và thang đo chuẩn quốc tế.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát trên 1321 học sinh (8 - 12 tuổi) tại 8 trường học thuộc 3 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu chiều sâu từ 06 giáo viên và một số học sinh.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích sâu các ca điển hình nhằm minh chứng cho các phát hiện định lượng.
- Phương pháp xử lý số liệu thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để tính toán điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (DLC), kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha thang đo (Bảng 3.4), kiểm định so sánh t-test/ANOVA, phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 4.18).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em
Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước, phân tích các xu hướng lý thuyết về sự hài lòng cuộc sống, so sánh ưu nhược điểm của các thang đo đơn chiều (SWLS, SLSS) và đa chiều (MSLSS, BMSSHLS, PWI-SC), xác lập căn cứ khoa học cho việc lựa chọn khung đo lường của Dự án Thế giới trẻ em để ứng dụng tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi: sự hài lòng với cuộc sống, sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em 8 - 12 tuổi; phân tích các đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học và đầu THCS; xây dựng mô hình lý thuyết gồm 2 chiều kích đánh giá (bản thân trẻ và môi trường/người xung quanh) cùng 6 nhóm biến số tác động từ môi trường sinh thái của trẻ (Hình 2.1).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn (nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thử nghiệm, nghiên cứu chính thức). Mô tả chi tiết mẫu khảo sát gồm 1321 học sinh và 06 giáo viên (Bảng 3.1, Bảng 3.2), khung phân tích định tính (Bảng 3.3), quy chuẩn thang đo Likert 11 điểm và kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha của các thang đo sử dụng (Bảng 3.4).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 - 12 tuổi
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thống kê và phân tích định tính, phản ánh qua hệ thống 18 bảng số liệu và 4 biểu đồ:
| Nhóm nội dung phân tích |
Các bảng và biểu đồ minh chứng trong luận án |
| Đánh giá sự hài lòng với bản thân trẻ |
Bảng 4.1, Bảng 4.2, Bảng 4.3 (theo giới tính), Bảng 4.4 (theo khu vực sống), Biểu đồ 4.1 |
| Đánh giá sự hài lòng với môi trường và người xung quanh |
Bảng 4.5, Bảng 4.6, Bảng 4.7 (theo giới tính), Bảng 4.8 (theo khu vực sống), Biểu đồ 4.2 |
| Đánh giá sự hài lòng với cuộc sống nói chung |
Bảng 4.9, Biểu đồ 4.3 |
| Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng |
Bảng 4.10 (Cha mẹ/người thân), Bảng 4.11 (Thầy cô/bạn bè), Bảng 4.12 (Môi trường sống), Bảng 4.13 (Bắt nạt), Bảng 4.14 (Vui chơi/thể thao/việc nhà), Bảng 4.15 & 4.16 (Điều kiện kinh tế theo lứa tuổi), Bảng 4.17, Biểu đồ 4.4 |
| Phân tích mối quan hệ và mô hình tác động |
Hình 4.1 (Tương quan), Bảng 4.18 (Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến) |
| Nghiên cứu trường hợp điển hình |
Các ca nghiên cứu thực tế (trang 155 - 163) |
Các phát hiện chính từ số liệu thực nghiệm:
- Đa số trẻ em 8 - 12 tuổi đánh giá mức độ hài lòng với cuộc sống ở mức cao trên cả hai phương diện: bản thân và môi trường xung quanh.
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo độ tuổi: mức độ hài lòng có xu hướng giảm dần khi lứa tuổi của trẻ tăng lên (nhóm 12 tuổi có điểm hài lòng thấp hơn nhóm 8 tuổi).
- Có sự khác biệt theo giới tính và khu vực sinh sống (nông thôn và thành thị) trên một số khía cạnh cụ thể như sự hài lòng với trường lớp, ngôi nhà và các mối quan hệ xung quanh.
- Yếu tố sự quan tâm, lắng nghe, hỗ trợ của cha mẹ và người thân có hệ số tương quan và tác động hồi quy mạnh nhất tới sự hài lòng cuộc sống của trẻ.
- Tình trạng bị bạn bè bắt nạt tương quan nghịch có ý nghĩa với mức độ hài lòng cuộc sống của trẻ.
- Các hoạt động ngoại khóa, thể dục thể thao, chia sẻ công việc gia đình và điều kiện kinh tế gia đình đều tương quan thuận với sự hài lòng cuộc sống của trẻ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết quốc tế và trong nước về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em dưới góc độ tâm lý học phát triển, tâm lý học giáo dục, tâm lý học gia đình và tâm lý học tích cực.
- Xác định và chuẩn hóa khái niệm sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em lứa tuổi 8 - 12 trong bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam.
- Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh gồm hai chiều cạnh đo lường (sự hài lòng với bản thân và sự hài lòng với môi trường/người xung quanh) và mô hình các nhóm yếu tố bên ngoài tác động đến cảm nhận hài lòng của học sinh tiểu học và trung học cơ sở.
Đóng góp về mặt phương pháp
- Tuyển chọn, chuyển ngữ và kiểm định độ tin cậy, độ giá trị của hệ thống thang đo chuẩn quốc tế (BMSSHLS của Seligson và cộng sự, PWI-SC của Cummins và Lau, Thang đo 12 mệnh đề của Dự án Thế giới trẻ em do Casas và Savahl phát triển) trên mẫu 1321 học sinh Việt Nam.
- Cung cấp bộ công cụ đo lường đa chiều chuẩn hóa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em Việt Nam từ 8 đến 12 tuổi.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ hài lòng cuộc sống và sự biến thiên của chỉ số này theo lứa tuổi, giới tính và vùng miền.
- Xác lập bằng chứng thực nghiệm về thứ bậc tác động của các yếu tố gia đình, nhà trường, bạn bè, cộng đồng, bắt nạt học đường và điều kiện kinh tế đối với đời sống tâm lý của trẻ em.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cho ba lực lượng giáo dục:
- Đối với gia đình: Tăng cường giao tiếp, lắng nghe, tôn trọng và đồng hành cùng con cái; xây dựng bầu không khí gia đình hòa thuận, ấm áp.
- Đối với nhà trường: Cải thiện môi trường học đường, xây dựng quan hệ sư phạm tích cực, giảm áp lực thi cử, tăng cường hoạt động ngoại khóa/thể chất, phòng chống triệt để bắt nạt học đường.
- Đối với xã hội: Đầu tư không gian vui chơi công cộng an toàn, thân thiện và hoàn thiện các chính sách bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi khách thể: Nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm trẻ em từ 8 đến 12 tuổi đang đi học tại các trường tiểu học và THCS công lập trên địa bàn 3 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên); chưa khảo sát nhóm trẻ em ngoài nhà trường (trẻ bỏ học, trẻ em đường phố, trẻ khuyết tật không đến trường).
- Phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung khảo sát các yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài (gia đình, nhà trường, bạn bè, cộng đồng, kinh tế), chưa đi sâu phân tích các yếu tố nội tại của cá nhân trẻ như di truyền, khí chất, đặc điểm nhân cách hay năng lực trí tuệ do giới hạn độ dài của bảng hỏi dành cho lứa tuổi này.
- Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế điều tra cắt ngang tại một thời điểm, chưa thực hiện nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) để theo dõi tiến trình biến đổi tâm lý của cùng một nhóm khách thể qua các năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng khảo sát trên các nhóm khách thể đặc thù (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em vùng sâu vùng xa, trẻ không đến trường).
- Bổ sung các biến số tâm lý nội tại (khí chất, lòng tự trọng, khả năng thích ứng tâm lý, trí tuệ cảm xúc) vào mô hình phân tích.
- Ứng dụng thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc để theo dõi sự biến đổi liên tục của mức độ hài lòng cuộc sống từ giai đoạn tiểu học sang trung học phổ thông.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Tâm lý học, Xã hội học, Công tác xã hội và Giáo dục học trong việc tham khảo khung lý thuyết, công cụ đo lường đa chiều và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS.
- Giảng viên đại học và cao đẳng giảng dạy các học phần Tâm lý học phát triển, Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, Tâm lý học gia đình và Tâm lý học tích cực.
- Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên tiểu học và THCS, chuyên viên tư vấn tâm lý học đường trong việc nhận diện các yếu tố nguy cơ (bắt nạt, áp lực học tập) và xây dựng trường học hạnh phúc.
- Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em (như Cục Trẻ em, Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em) trong việc thiết kế các chương trình can thiệp và chính sách an sinh xã hội dựa trên bằng chứng khoa học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát trên quy mô mẫu bao nhiêu và tại những địa bàn nào?
Luận án được thực hiện trên mẫu khách thể định lượng gồm 1321 học sinh từ 8 đến 12 tuổi và phỏng vấn sâu 06 giáo viên. Địa bàn nghiên cứu trải rộng trên 8 trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc ba tỉnh/thành phố: Hà Nội (TH Khương Đình, THCS Hoàng Mai, TH Phú Cường, THCS Phú Cường), Bắc Giang (TH Ngô Sĩ Liên, THCS Ngô Sĩ Liên) và Thái Nguyên (TH Phú Xá, THCS Phú Xá).
2. Thang đo sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em trong luận án được xây dựng trên cơ sở nào?
Thang đo gồm 12 mệnh đề sử dụng thang Likert 11 điểm (0 - 10), được tác giả thích ứng và kiểm định từ Thang đo sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em thuộc Dự án Thế giới trẻ em (Casas, 2017; Savahl và cộng sự, 2021), tích hợp các hạng mục từ Thang đo rút gọn đa chiều BMSSHLS (Seligson và cộng sự, 2003) và Thang đo chỉ số sức khỏe cá nhân PWI-SC (Cummins và Lau, 2005). Thang đo phân tách thành 2 nhóm: 6 mệnh đề về bản thân trẻ và 6 mệnh đề về môi trường/người xung quanh.
3. Xu hướng biến thiên mức độ hài lòng cuộc sống theo độ tuổi của trẻ được luận án ghi nhận như thế nào?
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận án cho thấy đa số trẻ em 8 - 12 tuổi có mức độ hài lòng cuộc sống ở mức cao, tuy nhiên mức độ hài lòng này có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi (trẻ 8 tuổi có mức độ hài lòng cao hơn trẻ 10 tuổi và 12 tuổi). Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế của Casas (2011), Currie và cộng sự (2012), và Strózik (2016).
4. Yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng cuộc sống của trẻ em 8 - 12 tuổi?
Trong số các nhóm yếu tố bên ngoài được đưa vào mô hình phân tích hồi quy, sự quan tâm, lắng nghe và hỗ trợ của cha mẹ cùng người thân trong gia đình là yếu tố có tương quan thuận mạnh nhất và đóng vai trò dự báo cao nhất đối với sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em.
5. Yếu tố bị bạn bè bắt nạt có mối quan hệ như thế nào với sự hài lòng cuộc sống của học sinh?
Kết quả xử lý thống kê xác nhận yếu tố bị bạn bè bắt nạt tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với sự hài lòng cuộc sống của trẻ. Trẻ em trải nghiệm các hình thức bắt nạt (bắt nạt thể chất, tinh thần hoặc qua mạng) có mức độ thỏa mãn và an toàn cuộc sống thấp hơn rõ rệt so với nhóm không bị bắt nạt.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Hoàng Giang đã cung cấp một công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về sự hài lòng với cuộc sống của trẻ em từ 8 đến 12 tuổi tại Việt Nam dưới góc độ Tâm lý học. Bằng việc chuẩn hóa và ứng dụng bộ công cụ đo lường đa chiều thích ứng từ Dự án Thế giới trẻ em trên mẫu 1321 học sinh, công trình đã làm rõ thực trạng mức độ hài lòng cuộc sống của trẻ cũng như sự suy giảm chỉ số này theo lứa tuổi. Các phân tích định lượng và định tính đã khẳng định vai trò trụ cột của sự quan tâm từ gia đình, tác động tích cực của môi trường sư phạm, hoạt động ngoại khóa, đồng thời chỉ ra hệ lụy tiêu cực của nạn bắt nạt học đường. Các kết quả và đề xuất trong luận án mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thiết thực cho công tác giáo dục gia đình, tư vấn học đường và xây dựng chính sách bảo vệ trẻ em.