Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu biến động bãi do tác động của công trình giảm sóng, tạo bồi cho khu vực Hải Hậu - Nam Định" do nghiên cứu sinh Doãn Tiến Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Hồng Thái và PGS. Trương Văn Bốn, chuyên ngành Hải dương học (mã số: 62440227), bảo vệ tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (Hà Nội, 2015).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hiện tượng xói lở bờ biển tại Việt Nam do sự kết hợp giữa tác động trực tiếp của sóng vào bờ và quá trình xâm thực bãi biển chiếm tỷ trọng đáng kể, gây thiệt hại nghiêm trọng đến hệ thống công trình phòng chống thiên tai và dân sinh. Dọc bờ biển Việt Nam, nhiều công trình giảm sóng, tạo bồi và đê kè bảo vệ bờ đã được xây dựng như tại Đê biển đường 14 Cát Hải (Hải Phòng), Giao Thủy và Hải Hậu (Nam Định), Eo Bầu - cửa Thuận An (Thừa Thiên Huế), Cửa Tùng (Quảng Trị), Nha Trang, Vũng Tàu, Gò Công Đông (Tiền Giang). Tuy nhiên, nhiều công trình đã bộc lộ nhược điểm, không phát huy tác dụng chỉnh trị, gây tác động bất lợi tới môi trường xung quanh hoặc tự mất ổn định dẫn đến hư hỏng.
Văn bản luận án chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sự hư hỏng của các công trình bảo vệ bờ biển trước đây:
- Xây dựng công trình không đúng với bản chất chế độ động lực tại khu vực (ví dụ: dùng mỏ hàn biển ở nơi có hướng truyền sóng vuông góc với bờ như Thừa Thiên Huế, Cát Hải; chiều dài mỏ hàn quá ngắn như ở Nhật Lệ, Quảng Phúc chỉ dài 30 m chưa ra tới vùng sóng vỡ; cao trình đỉnh quá thấp so với mực nước triều trung bình).
- Thiết kế sai mục đích (sử dụng kết cấu ống buy trên đệm đá hộc ở nơi sóng to bờ dốc; kích thước mặt bằng mỏ hàn chữ T chưa tuân thủ tiêu chuẩn 14TCN130-2002; cánh mỏ hàn ngắn dùng ống buy gây hiệu ứng sóng đứng xói chân).
- Thi công xây dựng chưa đảm bảo kỹ thuật (bệ đá rời bị sạt sệ, thi công lấn từ bờ ra làm xói sâu phần mũi).
- Thời gian phục vụ kéo dài mà không được duy tu, sửa chữa kịp thời.
Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là: Việc nghiên cứu, tính toán diễn biến các trường thủy thạch động lực và dự báo biến động bãi bờ sau khi xây dựng công trình chỉnh trị ở Việt Nam nhìn chung chưa được thực hiện kỹ lưỡng; đa số công trình vẫn dựa vào chỉ dẫn và kinh nghiệm nước ngoài. Đối với khu vực trọng điểm Hải Hậu, chưa có giải pháp và phương án tổng thể nào được đề xuất nhằm ổn định bờ bãi; các công trình đã xây dựng chỉ mang tính thử nghiệm cục bộ; cơ sở khoa học về cơ chế và nguyên nhân gây biến động bãi bờ còn thiếu tính đồng bộ.
Vùng bờ biển Hải Hậu kéo dài từ cửa sông Sò đến cửa sông Ninh Cơ có tuyến đê biển dài 33,32 km, là đoạn bờ xói lở nghiêm trọng nhất ven bờ châu thổ sông Hồng với chiều dài xói lở 17,2 km, tốc độ xói lở trung bình 14,5 m/năm (lớn nhất đạt 20,5 m/năm). Từ năm 1962 đến năm 2000, tổng chiều dài đê biển bị phá hoại hoặc vỡ hoàn toàn là 11,9 km. Cơn bão Damrey (tháng 9/2005) kéo dài 14 giờ đã gây xói lở 8,122 km đê kè (Hải Thịnh III, Cồn Tàu - Hải Hòa, Táo Khoai - Hạ Trại, Kiên Chính, Hải Thịnh II, Xuân Hà, Phúc Hải) và làm vỡ hoàn toàn hơn 1,0 km đê đoạn Hải Triều sang Hải Hòa.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác lập 3 mục tiêu cụ thể:
- Bước đầu xác định được một số quy luật biến động đường bờ, bãi biển dưới tác động của chế độ động lực ven bờ. Phân tích dựa trên số liệu thực đo về biến động bãi, bờ biển và biến động các cửa sông làm ảnh hưởng tới ổn định đường bờ khu vực Hải Hậu.
- Tính toán trên mô hình toán và mô phỏng trên mô hình vật lý để làm rõ về quá trình tương tác sóng - công trình và tác động của công trình đến quá trình diễn biến hình thái ven bờ tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất được giải pháp chỉnh trị phù hợp phục vụ phòng chống thiên tai, nhằm ổn định vùng bờ biển nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của sóng biển và ảnh hưởng của công trình giảm sóng, tạo bồi đến sự biến động bãi, bờ biển khu vực Hải Hậu.
- Phạm vi không gian: Diễn biến bãi, bờ biển trong điều kiện tự nhiên và khi có công trình chỉnh trị tại dải ven biển Hải Hậu, tỉnh Nam Định (từ cửa Ba Lạt, cửa Sò đến cửa Lạch Giang/Ninh Cơ; trọng điểm Hải Hòa - Hải Triều); phạm vi tính toán thủy thạch động lực miền lớn mở rộng từ Bạch Long Vĩ đến Cồn Cỏ.
- Phạm vi thời gian và tư liệu: Phân tích chuỗi số liệu khí tượng hải văn từ năm 1960 đến 2013; dữ liệu địa hình mặt cắt bãi 3 thời kỳ (1985-1990, 1990-1995, 2005-2010); ảnh viễn thám giai đoạn 1989-2011; mô phỏng dự báo biến động đường bờ giai đoạn 2009-2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả hệ thống hóa các hướng tiếp cận chính trên thế giới về động lực học bờ biển và công trình chỉnh trị:
- Hướng tiếp cận lý thuyết và mô hình giải tích: Bakker (1968, 1970) xây dựng lý thuyết hai đường bờ (two-line theory) mô phỏng biến đổi bãi xung quanh mỏ hàn, tích hợp khúc xạ, nhiễu xạ và vận chuyển bùn cát; Hulsbergen (1976) kiểm tra và làm rõ mô hình này. Kriebel và Dean (1985), Larson và Kraus (1989), Kraus (1991) phát triển giả thuyết vận chuyển bùn cát vuông góc với bờ phụ thuộc vào độ lệch của tỷ lệ tiêu tán năng lượng từ trạng thái cân bằng.
- Hướng tiếp cận thực nghiệm và phân tích dữ liệu hiện trường: Tanaka phân loại biến dạng bãi biển lân cận các bến cảng tại Nhật Bản, xác định chiều sâu xói lớn nhất quanh đầu đê chắn sóng xấp xỉ chiều cao sóng có ý nghĩa lớn nhất $(H_{1/3})_{\max}$ trong 15 ngày trước đó và xói mạnh nhất tại độ sâu nước $3,0 \div 5,0\text{ m}$. Sayao (1991) và Dean (1985) thiết lập tiêu chuẩn ổn định bãi nuôi nhân tạo. Horikawa thiết lập tiêu chuẩn đường bờ tiến/lùi theo biểu thức:
$$\frac{H_0}{L_0} \le C_s (\tan\beta)^{-0.27} \left(\frac{d}{L_0}\right)^{0.67}$$
với điều kiện đường bờ lùi lại khi $C_s \le 18$. Irie và cộng sự nghiên cứu xói do sóng đứng dựa trên tỷ số $U_b/w$ ($U_b/w > 10$ gây xói kiểu L; $U_b/w < 10$ gây xói kiểu N).
- Các sách chuyên khảo kinh điển: Richard Soulsby (1997) với "Dynamics of Marine Sands"; Krystian W. Pilarczyk và Ryszard B. Zeidler (1996) với "Offshore Breakwaters and Shore Evolution Control"; B. Mutlu Sumer và Jorgen Fredsoe (2002) với "The Mechanics of Scour in the Marine Environment".
- Phát triển mô hình số: Kraus (1983) phân loại 4 nhóm mô hình số (mô hình một đường bờ, nhiều đường bờ, ba chiều và mô hình tỷ lệ lớn). Madsen và Grant (1976), Perlin (1979), Perlin và Dean (1987) xây dựng mô hình biến động đáy sau đê phá sóng. Winter (1993) thử nghiệm mô hình UNIBEST-TC kết hợp công thức Daemen (1991). Hanson (1987) phát triển mô hình GENESIS mô phỏng biến đổi đường bờ dài hạn dựa trên tác động sóng, dòng dọc bờ và công trình xa bờ (được chuẩn hóa bởi Dean - Rosati, 1992).
- Nghiên cứu trên mô hình vật lý và mỏ hàn chữ T: J. Brebner (1972, Viện Thủy lực Delft), P. Gulene và J. A. Dracup xác định sóng vỡ và độ dốc ban đầu là nhân tố chi phối mặt cắt cân bằng. Viện VNIG (Nga) nghiên cứu quan hệ chiều dài công trình $L_B$ và khoảng cách tới bờ $Y_B$. Dean - Rosati (1992) thực hiện 250 kịch bản mô hình vật lý đê phá sóng. Các nghiên cứu mỏ hàn chữ T của Matthaw (1934), Frech (1949), Ishihara và Sawaragi (1968), Sato và Tanaka (1974), Berenguer và Enriquez (1988), Olsen và Bodge (1991).
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Các chương trình điều tra cơ bản thực địa: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam chủ trì các dự án ĐTCB biến động hình thái ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ (1999-2004), Theo dõi xói lở ven biển Hải Hậu (2005-2010), ĐTCB xói lở ven biển Phú Yên (2003-2006).
- Các nghiên cứu ứng dụng mô hình số trị: Vũ Thanh Ca và Nguyễn Quốc Trinh (2007) xác định sóng cao trên 0,75 m mới gây vận chuyển cát đáng kể và xói lở Nam Định do thiếu hụt bùn cát dọc bờ. Trịnh Việt An và nnk (2008) ứng dụng LITPACK tại Thuận An - Hòa Duân. Nguyễn Thọ Sáo và nnk (2010) ứng dụng MIKE 21 tại Cửa Tùng. Nguyễn Khắc Nghĩa và nnk (2005, 2010) tính toán suất vận chuyển bùn cát dọc bờ Hải Hậu, ứng dụng SBEACH và phương trình mặt cắt cân bằng Dean (1977) tại Cát Hải và Cảnh Dương. Phạm Thành Nam, H. Oumeraci, M. Larson và H. Hanson (2011) áp dụng sơ đồ giải Euler-WENO cho phương trình bảo toàn trầm tích. Trương Văn Bốn và nnk (2012) kết hợp MIKE FM và GENESIS tại Cửa Lấp - Cửa Lộc An. Vũ Minh Cát và Vũ Minh Anh mô phỏng MIKE 21/3 Couple FM tại Lạch Huyện. Nguyễn Mạnh Hùng (2010, 2011) xuất bản chuyên khảo "Biến động bờ biển và cửa sông Việt Nam", kết hợp SWAN, STWAVE, ADCIRC, CMS-M2D và LUND-CIRP. Thorsten Albers, Nicole von Lieberman và cộng sự (2011) kết hợp mô hình vật lý và mô hình toán (SWAN, RMA-Kalypso, GENESIS) tại Vĩnh Tân (Sóc Trăng).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về sự thiếu hụt nghiên cứu thực nghiệm mô hình vật lý kết hợp mô hình số trị chuyên sâu đối với đê ngầm giảm sóng tại bờ biển bùn cát ven châu thổ sông Hồng. Luận án tích hợp đồng bộ số liệu thực đo nhiều thời kỳ để xác định mặt cắt bãi đặc trưng, phân tích cơ chế suy giảm sóng qua đê ngầm trên máng sóng vật lý, từ đó cung cấp tham số đầu vào cho mô hình toán nhằm thiết lập giải pháp chỉnh trị tổng thể cho Hải Hậu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Định luật tương tự Froude trong mô hình vật lý sóng:
Mô hình sóng trong máng được thiết kế là mô hình chính thái với tỷ lệ hình học $\lambda_L = \lambda_h = a = 20$.
Phương trình tương tự sức cản từ lưu tốc dòng dọc bờ do sóng:
$$U^2 = \frac{5}{8}\frac{g H_{Sb} n_b m \sin\alpha_b \sin 2\alpha_b}{D_b f}$$
Điều kiện tương tự Froude quy định: $\lambda_u = \lambda_h^{1/2}$; $\lambda_C = \lambda_{Ts} = \lambda_{Ls}^{1/2} = \lambda_h^{1/2} = \lambda_u$.
Điều kiện tương tự lực quán tính và lực nhớt yêu cầu số Reynolds sóng theo A. Ophiserop:
$$Re = \frac{U_{\max} H_s}{\nu} \ge 2000$$
trong đó:
$$U_{\max} = \frac{\pi H_s}{T_s} \coth\left(\frac{2\pi h}{L_s}\right); \quad T_s = \sqrt{\frac{2\pi L_s}{g \coth\left(\frac{2\pi h}{L_s}\right)}}$$
Các điều kiện tương tự khúc xạ ($\lambda_{\alpha_1} = \lambda_{\alpha_2} = 1$), nhiễu xạ ($\lambda_{kQ} = 1, \lambda_r = \lambda_l = \lambda_{Ls}$), phản xạ ($\lambda_{Ls} = \lambda_l$) và sóng vỡ ($\lambda_{Hs} = \lambda_{Ls} = \lambda_h$) được tuân thủ.
| Đại lượng vật lý |
Ký hiệu và công thức tỷ lệ |
Giá trị tỷ lệ mô hình / nguyên hình ($a = 20$) |
| Độ dài, độ cao sóng ($m$) |
$\lambda_L = \lambda_h = a$ |
$20$ |
| Thời gian, chu kỳ ($s$) |
$\lambda_T = \sqrt{a}$ |
$4,472$ |
| Tần số ($Hz$) |
$\lambda_f = 1/\sqrt{a}$ |
$0,2236$ |
| Trọng lượng ($kg$) |
$\lambda_P = a^3$ |
$8000$ |
| Diện tích ($m^2$) |
$\lambda_s = a^2$ |
$400$ |
| Thể tích ($m^3$) |
$\lambda_V = a^3$ |
$8000$ |
| Áp lực ($mBar$) |
$\lambda_p = a$ |
$20$ |
| Lưu lượng ($m^3/s$) |
$\lambda_Q = a^{2,5}$ |
$1788,854$ |
| Vận tốc ($m/s$) |
$\lambda_v = \sqrt{a}$ |
$4,472$ |
- Mô hình toán học:
- Mô hình biến đổi đường bờ GENESIS: Tính toán biến động đường bờ dài hạn dưới tác động của trường sóng, dòng bùn cát dọc bờ và tương tác với các công trình phá sóng, mỏ hàn.
- Bộ mô hình MIKE 21 FM: Mô phỏng 2 chiều các trường sóng ven bờ (SW), dòng chảy thủy triều và dòng chảy do sóng (HD), vận chuyển bùn cát và bồi xói đáy biển (ST, MT) tại khu vực ven bờ và chân công trình.
Nguồn tư liệu và dữ liệu thực nghiệm
- Dữ liệu địa hình, địa chất, viễn thám: Dữ liệu mặt cắt bãi Hải Hậu qua 3 giai đoạn (1985-1990, 1990-1995, 2005-2010; đo định kỳ tháng 4 và tháng 10-11); Hải đồ tỷ lệ 1/100.000 các năm 1982, 1997; Bình đồ đo đạc 2005-2010; Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 các năm 1912, 1927, 1935, 1965; Ảnh vệ tinh Spot, Landsat, Radarsat các năm 1989, 1994, 1995, 2001, 2005, 2007, 2011; Bản đồ địa chất công trình và trầm tích tầng mặt ven biển Nam Định.
- Dữ liệu khí tượng hải văn: Chuỗi số liệu gió tại Bạch Long Vĩ (1980-2013, 33 năm), Văn Lý (1976-1996 và tháng 7/2010), Cồn Cỏ (1990-2010, 20 năm); Số liệu mực nước tại Hòn Dáu (1960-2013, 53 năm), Ba Lạt, Phú Lễ và trạm Hải Hậu (2004-2007, 2006-2010); Số liệu sóng trạm Hòn Dáu (1980-2005, 25 năm) và sóng thực đo Hải Hậu các năm 2004, 2006, 2010, 2011; Dữ liệu bùn cát từ Chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển (2004-2011).
- Thiết bị thí nghiệm mô hình vật lý: Hệ thống máng tạo sóng Flanders tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực học sông biển (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam). Kích thước máng dài 40 m, rộng 2 m, cao 1,8 m; máy tạo sóng kiểu piston truyền động điện - thủy lực, kích thước bảng sóng $1,98\text{ m} \times 2\text{ m}$, tạo phổ sóng Pierson-Moskowitz và JONSWAP với $H_s = 1,5 \div 30\text{ cm}$, $T = 0,5 \div 5\text{ s}$; đầu đo sóng điện cực Model Golf-3B (thời gian phản ứng 55 ms, dải đo đến 1200 mm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tổng quan những nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương 1 tổng kết lịch sử nghiên cứu động lực học bờ biển và công trình chỉnh trị từ thế kỷ 19 đến nay. Tác giả phân tích các lý thuyết cơ bản về vận chuyển bùn cát, các công thức thực nghiệm tính toán lan truyền sóng, sóng vỡ, sóng tràn và xói lở chân đê chắn sóng. Phân tích thực trạng các công trình bảo vệ bờ tại Việt Nam (mỏ hàn biển, mỏ hàn chữ T, đê giảm sóng, kè bảo vệ bờ), đánh giá các nguyên nhân thất bại và bất cập kỹ thuật của các công trình đã xây dựng tại Cát Hải, Hội Thống, Cẩm Nhượng, Hải Hậu, Thuận An. Xác lập sự cần thiết phải nghiên cứu tích hợp đa phương pháp cho vùng biển xói lở phức tạp Hải Hậu.
Chương 2 - Lựa chọn và thiết lập phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày cơ sở lý luận và quy trình thiết lập 3 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê phân tích: Thu thập, đồng bộ hóa chuỗi dữ liệu địa hình, hải văn, viễn thám phục vụ xác định biên động lực và kiểm định mô hình.
- Thiết lập mô hình vật lý: Ứng dụng lý thuyết tương tự Froude thiết lập mô hình máng sóng Flanders tỷ lệ 1/20 chính thái; kiểm định đầu đo sóng Golf-3B; thiết lập các kịch bản thí nghiệm tương tác sóng với đê ngầm để xác định hệ số truyền sóng $K_t = H_{st}/H_{si}$ khi thay đổi cao trình đỉnh ($\Delta$), bề rộng đỉnh ($B$) và hệ số mái dốc ($m$).
- Thiết lập mô hình toán: Thiết lập lưới tính và điều kiện biên cho mô hình GENESIS; thiết lập lưới tính phi cấu trúc cho bộ mô hình MIKE 21 FM từ lưới miền lớn (Bạch Long Vĩ - Cồn Cỏ) đến lưới chi tiết ven bờ Hải Hậu (Ba Lạt - Lạch Giang); thực hiện hiệu chỉnh và kiểm định mô hình sóng, dòng chảy và mực nước theo chỉ số Nash và sai số trung bình toàn phương RMSE.
Chương 3 - Nguyên nhân và đặc điểm diễn biến bờ, bãi và mặt cắt ngang bãi vùng ven biển Hải Hậu
Chương 3 tập trung phân tích đặc điểm hình thái và nguyên nhân gây xói lở bờ biển Hải Hậu:
- Diễn biến hình thái vùng cửa sông: Phân tích sự biến đổi của cửa Ba Lạt, cửa Sò và cửa Lạch Giang qua bản đồ lịch sử từ thế kỷ 15, thế kỷ 18 đến thời kỳ cận đại. Cửa Ba Lạt có sự chuyển hướng dòng chảy chính từ nhánh phía Nam (hướng về phía Hải Hậu) sang nhánh phía Đông và Đông Bắc, làm giảm đáng kể lượng bùn cát cung cấp cho dải bờ Hải Hậu.
- Phân tích mặt cắt bãi thực đo: Khảo sát chi tiết diễn biến mặt cắt ngang bãi tại các trắc diện đại diện HH01, HH02, HH03 qua các giai đoạn 1985-1990, 1990-1995, 2005-2010 và theo hai mùa (tháng 4 và tháng 10-11). Thiết lập phương trình giải tích mặt cắt đặc trưng cho từng khu vực và so sánh với dạng mặt cắt cân bằng lý thuyết theo Dean (1977) ($h(y) = A y^{2/3}$).
- Nguyên nhân gây mất ổn định bờ bãi Hải Hậu:
- Nguyên nhân tự nhiên: Sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn bùn cát bồi đắp từ sông Hồng do biến động cửa Ba Lạt; tác động mạnh của trường sóng gió mùa Đông Bắc (hướng $45^\circ$) tạo dòng chảy ven bờ có hướng từ Bắc xuống Nam mang bùn cát rời khỏi khu vực; tác động tàn phá của bão và nước dâng do bão trong các điều kiện thời tiết cực đoan.
- Nguyên nhân nhân tạo: Việc xây dựng các hồ chứa thượng nguồn làm giảm tải lượng trầm tích về hạ lưu; các công trình kè bảo vệ cục bộ trước đây làm tăng phản xạ sóng gây xói sâu chân kè.
Chương 4 - Kết quả thí nghiệm trên mô hình vật lý và mô phỏng số trị về các tham số kỹ thuật công trình đê ngầm bảo vệ bờ và diễn biến hình thái khu vực Hải Hậu
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả mô phỏng thực nghiệm và số trị:
- Kết quả thí nghiệm mô hình vật lý:
- Thí nghiệm xác định quan hệ giữa hệ số giảm sóng $K_t$ với độ ngập nước tương đối $d/h$, cao trình đỉnh đê, chu kỳ và độ cao sóng tới.
- Lựa chọn bề rộng đỉnh đê ngầm $B$ và mái dốc $m$ tối ưu nhằm tối đa hóa khả năng tiêu tán năng lượng sóng.
- Kết quả mô phỏng mô hình toán GENESIS:
- Phân tích diễn biến đường bờ khi thay đổi chiều dài đê ngầm ($L = 50\text{ m}, 100\text{ m}, 200\text{ m}$), khoảng cách từ công trình tới đường bờ ($X$) và khoảng hở giữa các đê ($G$).
- Dự báo diễn biến đường bờ tự nhiên và khi có công trình giai đoạn 2009-2020.
- Kết quả mô phỏng MIKE 21 FM:
- Mô phỏng trường sóng, dòng chảy và vận chuyển bùn cát trong điều kiện gió mùa Đông Bắc ($45^\circ$), gió mùa Tây Nam ($135^\circ$), hướng Đông ($90^\circ$) và điều kiện bão Damrey (2005) đối với địa hình tự nhiên và địa hình có công trình.
- Tính toán tổng lượng bùn cát đến và đi trong chu kỳ 20 năm; xác định vùng xói lở cục bộ ở chân công trình.
- Đề xuất giải pháp công trình:
- Đánh giá hiệu quả gây bồi của các bẫy cát biển (BCB) và mỏ hàn chữ T (MCT) đã xây dựng tại hiện trường.
- Đề xuất phương án chỉnh trị tổng thể bảo vệ bờ và tạo bãi khu vực Hải Hòa - Hải Triều: Hệ thống công trình hỗn hợp gồm 5 đê ngầm phá sóng kết hợp với 7 mỏ hàn chữ T, bố trí tại vị trí và khoảng cách xác định nhằm kiểm soát dòng vận chuyển bùn cát và giảm tác động sóng trực tiếp vào chân đê biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
- Về mặt khoa học và lý luận:
- Bước đầu xác định một số quy luật diễn biến bãi, xây dựng được các hàm quan hệ giữa biến động bãi dưới tác động của sóng, dòng chảy ven bờ với các dạng mặt cắt bãi điển hình đối với khu vực nghiên cứu (Hải Hậu).
- Làm rõ cơ sở khoa học về cơ chế thủy thạch động lực và các nguyên nhân chính gây mất ổn định bờ, bãi biển Hải Hậu, đặc biệt là ảnh hưởng của sự dịch chuyển luồng phân lưu cửa sông Ba Lạt và sự thiếu hụt bùn cát dọc bờ.
- Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Dựa trên kết quả mô phỏng kết hợp giữa mô hình vật lý trong máng sóng Flanders và mô hình toán (GENESIS, MIKE 21 FM), đã xác định được các tham số kỹ thuật hình học tối ưu cho công trình đê ngầm phá sóng (cao trình đỉnh, bề rộng đỉnh, độ dốc mái, chiều dài đê, khoảng cách đến bờ và khoảng hở giữa các đê).
- Đề xuất giải pháp chỉnh trị tổng thể bằng hệ thống công trình hỗn hợp (5 đê ngầm phá sóng kết hợp 7 mỏ hàn chữ T) cho dải bờ trọng điểm Hải Hòa - Hải Triều, phục vụ trực tiếp cho công tác thiết kế, quy hoạch bảo vệ đê biển Hải Hậu và làm cơ sở tham khảo cho các vùng bờ biển có điều kiện tương tự ở Bắc Bộ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Kiến nghị áp dụng phương án bố trí hệ thống công trình hỗn hợp đê ngầm phá sóng kết hợp mỏ hàn chữ T cho khu vực xói lở xung yếu Hải Hòa - Hải Triều.
- Cần tuân thủ chặt chẽ các thông số kỹ thuật đã tính toán về cao trình đỉnh, bề rộng và mái dốc nhằm đảm bảo hệ số truyền sóng $K_t$ đạt yêu cầu gây bồi và hạn chế xói chân công trình.
- Trong quá trình thi công và quản lý, cần có kế hoạch duy tu, quan trắc định kỳ diễn biến bồi xói đáy biển xung quanh công trình để kịp thời xử lý các hố xói cục bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên các nội dung trình bày trong văn bản luận án:
- Hạn chế:
- Mô hình vật lý thực nghiệm trong máng sóng Flanders là mô hình 2D, tập trung xác định quá trình suy giảm sóng và tương tác thủy lực sóng - công trình, chưa thực hiện được mô hình vật lý 3D với đáy động bùn cát do khó khăn kỹ thuật trong việc thỏa mãn đồng thời các tiêu chuẩn tương tự hạt và độ nhám đáy.
- Chuỗi số liệu đo đạc mặt cắt bãi và hải văn ngoài hiện trường dù kéo dài qua nhiều năm nhưng ở một số giai đoạn lịch sử còn ngắt quãng, thiếu tính đồng bộ liên tục qua từng mùa trong năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu mô phỏng 3D trên mô hình vật lý đáy động đối với các tổ hợp công trình phức tạp.
- Tiếp tục tổ chức quan trắc thực địa định kỳ sau khi công trình chỉnh trị được xây dựng trên thực tế để kiểm chứng, hiệu chỉnh các hệ số thực nghiệm của mô hình tính toán.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trong các lĩnh vực sau:
- Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy lợi, đê kè ven biển: Tham khảo trực tiếp quy trình lựa chọn thông số hình học cho đê ngầm giảm sóng (cao trình đỉnh, bề rộng đỉnh, mái dốc $m$, hệ số truyền sóng $K_t$) và bố trí hệ thống mỏ hàn chữ T.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Hải dương học, Thủy lực - Thủy văn công trình: Tham khảo cơ sở lý thuyết mô hình vật lý sóng chính thái theo định luật Froude, phương pháp kết hợp mô hình số trị GENESIS và MIKE 21 FM trong bài toán hình thái bờ biển.
- Cơ quan quản lý đê điều và phòng chống thiên tai tỉnh Nam Định và khu vực ven biển Bắc Bộ: Tham khảo các phân tích nguyên nhân xói lở bờ biển Hải Hậu và phương án chỉnh trị tổng thể phục vụ quy hoạch bảo vệ bờ biển bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến tình trạng xói lở nghiêm trọng tại dải bờ biển Hải Hậu?
Văn bản luận án xác định hai nhóm nguyên nhân chính:
- Nguyên nhân hình thái - bùn cát: Cửa Ba Lạt có sự dịch chuyển nhánh dòng chảy chính sang phía Đông và Đông Bắc, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn cung cấp trầm tích cát về phía Nam (Hải Hậu).
- Nguyên nhân động lực sóng - dòng chảy: Hướng sóng thịnh hành trong gió mùa Đông Bắc ($45^\circ$) tác động xiên góc vào bờ tạo ra dòng chảy ven bờ mạnh vận chuyển bùn cát trôi về phía Nam, gây thiếu hụt cán cân bùn cát tại chỗ; kết hợp với các đợt bão lớn (như bão Damrey 2005) gây sóng lớn và nước dâng phá hủy bãi và thân đê.
2. Mô hình vật lý trong luận án được thiết kế theo tiêu chuẩn tương tự nào và tỷ lệ hình học là bao nhiêu?
Mô hình vật lý được thiết lập trong máng tạo sóng Flanders theo định luật tương tự Froude, là mô hình chính thái với tỷ lệ hình học theo phương ngang và phương đứng bằng nhau: $\lambda_L = \lambda_h = a = 20$. Tỷ lệ thời gian và chu kỳ sóng là $\lambda_T = \sqrt{a} = 4,472$; tỷ lệ vận tốc là $\lambda_v = \sqrt{a} = 4,472$; tỷ lệ trọng lượng và thể tích là $\lambda_P = \lambda_V = a^3 = 8000$.
3. Tác giả đã sử dụng những bộ số liệu thực địa nào để phục vụ phân tích và kiểm định mô hình?
Luận án sử dụng:
- Dữ liệu mặt cắt bãi biển Hải Hậu tại các mặt cắt HH01, HH02, HH03 qua 3 thời kỳ (1985-1990, 1990-1995, 2005-2010);
- Chuỗi số liệu gió tại trạm Bạch Long Vĩ (1980-2013), Văn Lý (1976-1996, 7/2010), Cồn Cỏ (1990-2010);
- Chuỗi mực nước Hòn Dáu (1960-2013), Ba Lạt, Phú Lễ, Hải Hậu (2004-2010);
- Chuỗi sóng Hòn Dáu (1980-2005) và sóng thực đo Hải Hậu (2004, 2006, 2010, 2011);
- Bản đồ địa hình lịch sử (1912, 1927, 1935, 1965), hải đồ 1/100.000 (1982, 1997) và ảnh vệ tinh Spot, Landsat, Radarsat giai đoạn 1989-2011.
4. Vai trò phối hợp giữa hai mô hình toán GENESIS và MIKE 21 FM trong luận án là gì?
- GENESIS: Được sử dụng để tính toán diễn biến đường bờ dài hạn dưới tác động của các kịch bản sóng và thay đổi các tham số hình học công trình đê ngầm (chiều dài $L$, khoảng cách đến bờ $X$, khoảng hở $G$).
- MIKE 21 FM: Được sử dụng để mô phỏng chi tiết trường sóng, trường dòng chảy ven bờ, diễn biến bồi xói bãi biển 2 chiều và đánh giá nguy cơ xói lở cục bộ ở chân công trình theo từng mùa gió mùa và trong điều kiện bão.
5. Phương án công trình chỉnh trị cụ thể nào được đề xuất cho khu vực trọng điểm Hải Hòa - Hải Triều?
Luận án đề xuất giải pháp chỉnh trị tổng thể bằng hệ thống công trình hỗn hợp bao gồm 5 đê ngầm phá sóng kết hợp với 7 mỏ hàn chữ T tại khu vực Hải Hòa - Hải Triều. Hệ thống này có nhiệm vụ làm suy giảm chiều cao sóng trước khi truyền vào bờ, giữ bùn cát dọc bờ tạo bãi bồi ổn định và bảo vệ an toàn cho tuyến đê biển phía sau.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Doãn Tiến Hà đã giải quyết bài toán biến động bãi bờ do tác động của công trình giảm sóng, tạo bồi tại vùng ven biển Hải Hậu (Nam Định) thông qua việc tích hợp ba phương pháp: phân tích dữ liệu thực đo nhiều thời kỳ, thí nghiệm mô hình vật lý máng sóng Flanders và mô phỏng số trị bằng GENESIS kết hợp MIKE 21 FM. Công trình đã làm rõ cơ chế suy giảm nguồn bùn cát từ cửa Ba Lạt và tác động của trường sóng gió mùa Đông Bắc gây xói lở bờ biển Hải Hậu, đồng thời xác lập các thông số kỹ thuật tối ưu cho đê ngầm phá sóng. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất phương án chỉnh trị tổng thể bằng hệ thống hỗn hợp đê ngầm và mỏ hàn chữ T cho khu vực Hải Hòa - Hải Triều, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác quy hoạch, bảo vệ dải ven biển châu thổ sông Hồng.