Đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ biển Đông - Tây Nam Bộ

Luận văn thạc sĩ đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông - Tây Nam Bộ qua mô hình chuyển hóa năng lượng.

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học

2019

69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu vùng biển Đông Tây Nam Bộ và nguồn lợi cá nổi nhỏ

Vùng biển Đông – Tây Nam Bộ là một trong những khu vực biển quan trọng của Việt Nam, sở hữu nguồn lợi thủy sản phong phú và đa dạng. Khu vực này nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, với điều kiện khí tượng thủy văn đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của các quần xã sinh vật biển. Cá nổi nhỏ là một trong những nguồn lợi chính, bao gồm các loài như cá cơm, cá trích, cá mốc và các loài tương tự. Các loài này đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn biển và là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho con người. Việc đánh giá trữ lượng cá nổi nhỏ một cách khoa học là cần thiết để đảm bảo khai thác bền vững và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia.

1.1. Đặc điểm địa lý và điều kiện khí tượng thủy văn

Vùng biển Đông – Tây Nam Bộ có vị trí địa lý chiến lược, với độ sâu trung bình phù hợp cho sự sống của các loài cá nổi. Điều kiện thủy văn được ảnh hưởng mạnh mẽ bởi gió mùa, tạo ra hai mùa khác biệt: mùa gió Tây Nam (tháng 5-9) và mùa gió Đông Bắc (tháng 10-4). Hoàn lưu nước biển phức tạp, với sự hỗn hợp giữa nước từ các sông và nước biển mặn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của phù du và cá nổi nhỏ.

1.2. Phân bố và đặc điểm sinh thái cá nổi nhỏ

Cá nổi nhỏ phân bố không đều trong vùng, tập trung cao ở những khu vực giàu dinh dưỡng. Chúng sống ở các tầng nước khác nhau tùy theo thời vụ và điều kiện môi trường. Nguồn lợi này chịu ảnh hưởng lớn từ năng suất sinh học của các bậc dinh dưỡng thấp hơn, đặc biệt là phù du thực vật và động vật, cung cấp thức ăn chủ yếu cho chúng.

II. Phương pháp chuyển hóa năng lượng trong đánh giá trữ lượng

Phương pháp chuyển hóa năng lượng là một công cụ khoa học hiện đại và hiệu quả để đánh giá trữ lượng cá nổi nhỏ. Phương pháp này dựa trên nguyên lý chuỗi thức ăn biển, trong đó năng lượng được chuyển hóa qua các bậc dinh dưỡng từ thực vật phù du đến động vật phù du và cuối cùng đến cá nổi nhỏ. Bằng cách xác định năng suất sinh học ở mỗi bậc dinh dưỡng và hiệu suất sinh thái chuyển năng lượng, các nhà khoa học có thể tính toán được khả năng khai thác bền vững của nguồn lợi. Mô hình này cho phép dự báo chính xác sinh khối và năng suất cá nổi nhỏ dựa trên các dữ liệu thực đo từ thiên nhiên.

2.1. Mô hình tựa cạnh tranh và năng suất sinh học

Mô hình này mô phỏng quá trình cạnh tranh và chuyển hóa năng lượng trong quần xã sinh vật biển. Năng suất sinh học được tính toán dựa trên sinh khối hiện có và tốc độ tăng trưởng của các sinh vật. Dữ liệu về bức xạ quang hợp, độ sâu ánh sáng xâm nhập, và nồng độ dinh dưỡng trong cột nước là các yếu tố đầu vào quan trọng.

2.2. Hiệu suất sinh thái và chuyển đổi năng lượng

Hiệu suất sinh thái thể hiện tỷ lệ năng lượng được sử dụng để tăng trưởng so với tổng năng lượng tiêu thụ. Từ sản xuất sơ cấp của thực vật phù du đến sản xuất thứ cấp của động vật phù du, hiệu suất này thường dao động từ 10-20%. Việc xác định chính xác các hiệu suất này là chìa khóa để tính toán trữ lượng cá nổi nhỏ một cách đáng tin cậy.

III. Kết quả đánh giá sinh khối và năng suất cá nổi nhỏ

Nghiên cứu ứng dụng mô hình chuyển hóa năng lượng vùng biển Đông – Tây Nam Bộ cho thấy sinh khối cá nổi nhỏ biến động theo các mùa trong năm. Giá trị trung bình sinh khối đạt cao nhất vào mùa mưa khi nguồn dinh dưỡng dồi dào, đặc biệt ở những khu vực cửa sông. Năng suất cá nổi nhỏ được tính từ tốc độ tăng trưởng của các quần thể, với giá trị hàng ngày được chuyển đổi thành giá trị hàng năm. Kết quả cho thấy khả năng khai thác khác nhau giữa các khu vực, phụ thuộc vào tính chất sinh thái địa phương và điều kiện thủy văn.

3.1. Biến động sinh khối theo các tháng và khu vực

Sinh khối cá nổi nhỏ không phân bố đều trong không gian và thời gian. Vùng cửa sông và ven bờ có sinh khối cao hơn do nguồn dinh dưỡng phong phú. Tháng 8-9 (cuối mùa gió Tây Nam) thường ghi nhận sinh khối cao, trong khi tháng 3-4 (cuối mùa gió Đông Bắc) có sinh khối thấp hơn. Sự khác biệt này phản ánh tính thời vụ mạnh mẽ của hệ sinh thái biển.

3.2. Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác bền vững

Trữ lượng nguồn lợi cá nổi nhỏ ước tính dựa trên sinh khối hiện có và hiệu suất sinh thái. Tổng trữ lượng vùng biển đạt khoảng hàng trăm nghìn tấn, với khả năng khai thác cho phép khoảng 30-40% trữ lượng hàng năm để đảm bảo bền vững. Các khu vực khác nhau có mức khai thác tối đa khác nhau, cần quản lý riêng biệt.

IV. Ứng dụng và bài học cho quản lý bền vững nguồn lợi

Kết quả đánh giá trữ lượng cá nổi nhỏ bằng phương pháp chuyển hóa năng lượng cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý và khai thác bền vững. So sánh với các phương pháp truyền thống, phương pháp này có ưu điểm trong việc tính đến các yếu tố sinh thái toàn bộ của hệ thống. Hiện trạng khai thác ở nhiều khu vực vùng biển Đông – Tây Nam Bộ vẫn vượt quá khả năng khai thác cho phép, gây suy thoái nguồn lợi. Áp dụng kết quả nghiên cứu này vào chính sách quản lý hải dương là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường biển cho các thế hệ tương lai.

4.1. So sánh khai thác thực tế với khả năng cho phép

Dữ liệu hiện trạng khai thác qua các năm cho thấy mức khai thác vượt quá khả năng bền vững ở nhiều khu vực. Khả năng khai thác cho phép được tính từ trữ lượng, nhưng sản lượng khai thác thực tế thường cao hơn 1,5-2 lần. Điều này cho thấy nhu cầu cấp bách phải áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn.

4.2. Đề xuất chiến lược quản lý và khai thác bền vững

Để đảm bảo khai thác bền vững, cần thiết lập hệ thống giám sát thường xuyên trữ lượng cá nổi nhỏ và áp dụng kế hoạch quản lý theo khả năng khai thác cho phép từng khu vực. Cần tăng cường nghiên cứu, nâng cao nhận thức cộng đồng, và xây dựng chính sách khuyến khích khai thác có chọn lọc.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và phu lục, nội dung được trình bày ở 3 chương sau: Chƣơng 1: Tổng quan nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ và các phương pháp đánh giá trữ lượng. Chƣơng 2: Phương pháp chuyển hóa năng lượng và nguồn số liệu sử dụng trong đánh giá trữ lượng cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ. Chƣơng 3: Đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGUỒN LỢI CÁ NỔI NHỎ VÙNG BIỂN ĐÔNG – TÂY NAM BỘ VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRỮ LƢỢNG 1.

Giới thiệu vùng biển Đông – Tây Nam Bộ 1. Vị trí địa lý Theo phân chia của ngành Thủy sản về ngư trường, biển Việt Nam được chia thành 5 vùng: vịnh Bắc Bộ (I), Trung Bộ (II), Đông Nam Bộ (III), Tây Nam Bộ (IV) và vùng xa bờ (V). Vùng biển Đông - Tây Nam Bộ (vùng III và IV) thuộc khu vực biển phía nam Việt Nam có giới hạn từ 1020 đến 1110E, 60 đến 11.50N được thể hiện ở hình 1.1: Vị trí địa lý vùng biển Đông – Tây Nam Bộ Đây là vùng biển tương đối ấm, có nhiều ngư trường rộng, nguồn lợi hải sản phong phú, có nhiều điều kiện để phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Vùng biển này có đáy là vùng thềm lục địa mở khá rộng ở phần phía trước châu 3 thổ sông Cửu Long nên chịu ảnh hưởng của lượng nước ngọt rất lớn từ lục địa đổ ra.

Điều kiện khí tượng, thủy văn Đặc điểm chung của khí hậu khu vực Đông - Tây Nam Bộ là nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm, mùa mưa về cơ bản là mùa hè, mùa khô chủ yếu là các tháng giữa và cuối mùa đông. Nếu như khí hậu duyên hải Trung Bộ thể hiện nhiều nét dị thường thì khí hậu Đông - Tây Nam Bộ lại mang đầy đủ những nét điển hình của miền nhiệt đới gió mùa. Song do có vị trí ở những vĩ độ thấp, khá gần xích đạo nên khí hậu nơi đây còn thể hiện ít nhiều đặc điểm của chế độ khí hậu cận xích đạo, nhất là chế độ nhiệt [18]. Nhiệt độ không khí: Trị số phổ biến về nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 26,5 – 27,5oC, tháng nóng nhất khoảng 34 – 35oC (tháng 4), nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 38 – 40oC, tháng lạnh nhất là 24 – 26 oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 14 – 18oC.

Tháng 1 là tháng có nhiệt độ thấp nhất, có khả năng giảm xuống 14 – 15oC trên đại bộ phận đồng bằng, 16 – 17oC ở ven biển. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất vào khoảng 3 – 3,5oC. Thời kì nhiệt độ dao động ngày đêm mạnh nhất là các tháng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 4), biên độ có thể đạt tới 10 – 12 oC trên đại bộ phận đồng bằng và 6 – 8oC ở gần biển. Thời kì nhiệt độ dao động ngày đêm thấp nhất là các tháng mùa mưa với biên độ khoảng 7 – 8oC ở đồng bằng và 5oC ở ven biển.

Mây, nắng, bốc hơi: Trị số phổ biến của lượng mây trung bình năm vào khoảng 7/10. Thời kì nhiều mây trùng với mùa mưa - ẩm (từ tháng 5 đến tháng 11) có lượng mây 7 – 8/10. Hai tháng nhiều mây nhất là tháng 7 và 9 với lượng mây vượt quá 8/10. Hai tháng có lượng mây thấp nhất là tháng 2 và 3 với lượng mây chỉ khoảng 4 -5/10.

Trị số phổ biến của lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm là 150 -170 Kcal/cm2. Số giờ nắng trung bình năm là 2400 – 3000 giờ. Suốt 4 tháng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 4) có trên 200 giờ nắng mỗi tháng và không có tháng nào dưới 100 giờ. Tháng nhiều nắng nhất là tháng 3, trung bình quan sát được 220 – 250 giờ.

Thời kì tương đối ít nắng là vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình chỉ 120 – 160 giờ mỗi tháng. Hai tháng ít nắng nhất là tháng 7 và tháng 9 với số giờ nắng chừng 5 110 – 120 giờ. Về tài nguyên bức xạ (nắng), đây là vùng tương đương với Nam Trung Bộ và hơn hẳn các khu vực phía bắc [18]. Nắng nhiều nên bốc hơi mạnh.

Độ bốc hơi cả năm trên toàn vùng đạt 1000 – 1100 mm. Ở ven biển, độ bốc hơi giảm xuống còn 800 – 900 mm. Thời kì bốc hơi mạnh nhất là tháng 2, 3, 4, độ bốc hơi trong những tháng này đạt tới 120 – 150 mm/tháng (cực đại là tháng 3). Tháng bốc hơi ít nhất là những tháng giữa và cuối mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 12), mỗi tháng chỉ khoảng 50 – 70 mm.

Tháng bốc hơi ít nhất là tháng 9 (dưới 50 mm). Lượng mưa: Trị số phổ biến về lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 – 2000 mm. Lượng mưa ngày lớn nhất khoảng 150 – 350 mm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, nhiều nhất vào tháng 7, 9, 10 (cực đại là tháng 9).

Cả mùa mưa có 4 – 6 tháng mưa trên 200 mm/tháng. Cả mùa khô có 4 – 5 tháng mưa dưới 50 mm/tháng. Độ ẩm: Trị số phổ biến về độ ẩm tương đối trung bình năm là 82 – 84%. Ở sát ven biển tăng lên từ 83 - 85%.

Thời kì ẩm cao trùng với mùa mưa, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Tháng ẩm nhất là tháng 9 với độ ẩm 86 – 87%. Thời kì khô trùng với mùa ít mưa (trừ tháng 12 có độ ẩm trung bình trên dưới 80%). Trong 4 tháng còn lại từ tháng 1 đến tháng 4, độ ẩm trung bình giảm xuống dưới 77 – 78%, riêng ven biển xấp xỉ 80%.

Tháng khô nhất là tháng 3 có độ ẩm khoảng 75%. Về tài nguyên mưa ẩm, Đông - Tây Nam Bộ được đánh giá tương đương Tây Nguyên, cao hơn Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và kém hơn các khu vực thuộc Bắc Bộ. Gió: Vùng biển Đông - Tây Nam Bộ hàng năm chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Trị số phổ biến về tốc độ gió trung bình năm là 1,5 – 3,5 m/s, tốc độ gió lớn nhất là 20 – 35 m/s.

Gió đổi chiều rõ rệt theo mùa và có hướng thịnh hành phù hợp với hướng gió mùa chung toàn khu vực (hình 1. Hướng gió thịnh hành trong mùa đông là đông bắc chiếm tần suất 30 – 50%, ngoài ra hướng đông cũng có tần suất khá lớn khoảng 20 – 30%, còn lại là hướng đông nam. Trong mùa hè, hướng gió thịnh hành là tây nam với tần suất 60 – 70%, gió tây cũng chiếm tần suất đáng kể khoảng 15 – 30%. 6 Tháng chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông (tháng 9) gió hướng tây nam, tây chiếm ưu thế 25 – 30%.

Tháng chuyển tiếp từ đông sang hè (tháng 4) gió hướng đông thịnh hành với tần suất xấp xỉ 40% [18].2: Bản đồ trường ứng suất gió trung bình tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải) (dyn/cm2)[5] Dòng chảy: Ảnh hưởng của các trường thủy động lực Biển Đông lên vùng biển nghiên cứu trong mùa gió Đông Bắc là rất đáng kể so với mùa gió Tây Nam. Mùa gió tây nam, dòng chảy ở bắc vịnh Thái Lan có hướng tây bắc – đông nam tới gần mũi Cà Mau, đưa một lượng nước vào vùng biển Đông Nam Bộ (hình 1. Điều này ngược lại với mùa gió đông bắc (mùa khô), chịu ảnh hưởng của dòng chảy bắc Biển Đông đi xuống [17].3: Hoàn lưu nước vùng biển Đông - Tây Nam Bộ (Nguồn: Wyrtki, 1961) 7 Nước trồi: Vào mùa gió Tây Nam, biển Nam Trung Bộ xuất hiện vùng nước trồi với phạm vi hoạt động rộng, tồn tại ở độ sâu khá lớn. Nước trồi lan rộng xuống vùng biển Đông Nam Bộ và xuất hiện chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9 đưa muối dinh dưỡng từ dưới sâu lên các tầng trên tạo điều kiện cho thực vật phù du phát triển.

Sông ngòi: vùng biển Đông Nam Bộ chịu tác động trực tiếp của hệ thống sông Mê Kông và sông Đồng Nai với đặc điểm bờ biển thấp với rừng ngập mặn bị chia cắt bởi vô số các lạch triều [10]. Đây cũng là một trong những nguồn cung cấp lượng chất hữu cơ cho vùng biển nghiên cứu. Độ muối: nhìn chung duy trì ở mức cao trong cả năm (thấp hơn độ muối biển Trung Bộ). Mùa mưa (tháng 5 – 10), độ muối dao động mạnh, trung bình tầng mặt từ 30 - 33‰.

Ở vùng biển này thể hiện sự phân tầng hai lớp nước: vùng nước nông cửa sông có độ muối thấp, ở tầng nước mặt chảy ra khỏi vùng biển trong khi đó lớp nước có độ muối cao, lạnh hơn chảy từ Biển Đông vào ở các tầng sâu. Vào thời kì mùa khô, nước biển từ Biển Đông đổ vào, thời kì mùa mưa theo chiều ngược lại.4: Độ muối nước biển tầng mặt tháng 1 (trái) và tháng 7 (phải)[10] 8 Tóm lại, vùng biển Đông - Tây Nam Bộ có khí hậu nóng ẩm quanh năm, mưa đủ, nắng nhiều, lại ít có thiên tai. Đó là những điểm ưu trội hơn hẳn các vùng biển khác ở miền Nam Việt Nam về điều kiện tự nhiên. Khái quát về nguồn lợi cá nổi nhỏ vùng biển Đông – Tây Nam Bộ Như đã nêu trên, biển Việt Nam được chia thành 5 vùng.

Hoạt động khai thác hải sản trong các vùng này được phân chia thành nghề cá ven bờ và nghề cá xa bờ dựa vào độ sâu ngư trường ở mỗi vùng biển, trong đó ranh giới phân chia được xác định là đường đẳng sâu 50m ở vùng biển Trung Bộ và 30m ở các vùng biển còn lại (trừ vùng xa bờ). Thời gian khai thác cũng được phân chia thành 2 vụ: vụ cá nam (tháng 4 đến tháng 9) và vụ các bắc (tháng 10 đến tháng 3 năm sau) tương ứng với 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc[20]. Dựa theo điều kiện cư trú, có thể chia cá biển Việt Nam thành 4 nhóm: cá tầng trên (cá nổi), cá tầng gần đáy, cá đáy và cá sống trong rạn san hô. Nhóm cá nổi có khoảng 260 loài, chiếm 15% tổng số loài cá trong toàn vùng biển Việt Nam [8].

Đây là các loài sống ở các tầng nước bên trên và sống tập trung thành đàn. Những ngày nắng ấm và thời tiết thuận lợi chúng thường nổi sát mặt nước, đôi khi còn nổi cả mõm hoặc vây lưng lên khỏi mặt nước để thở hoặc bắt mồi. Cùng với sự di cư theo phương ngang của một số loài cá nổicòn có sự di chuyển thẳng đứngtừ tầng mặt xuống tầng sâu và ngược lại liên quan chủ yếu đến cường độ ánh sang tự nhiên [8].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ