Luận văn Thạc sĩ: Tính toán lan truyền nước dằn tàu vùng biển Bắc Bộ

Luận văn nghiên cứu tính thế tương tác nguyên tử hiệu dụng phi điều hòa và cumulant bậc cao cho tinh thể cấu trúc bcc theo phương pháp cổ điển.

Chuyên ngành

Hải dương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của nước dằn tàu

Nước dằn tàu là nước biển được các tàu thuyền hút vào khoang để duy trì sự ổn định, cân bằng và an toàn khi vận hành. Đây là một hoạt động không thể tránh khỏi trong ngành vận tải biển hiện đại. Tuy nhiên, nước dằn tàu chứa các chất ô nhiễm, vi sinh vật và sinh vật sống từ vùng biển nơi nó được hút, có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường biển khi xả tại các vùng biển khác. Nghiên cứu về lan truyền nước dằn tàu vùng biển Bắc Bộ giúp hiểu rõ hơn về quy trình lây lan và ảnh hưởng của nó đến hệ sinh thái biển, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Định nghĩa nước dằn tàu

Nước dằn tàu (Ballast Water) được hút vào khoang dằn của tàu để cân bằng trọng lượng và giữ ổn định tàu. Theo thống kê, một tàu container có thể dằn từ 1.000 đến 5.000 tấn nước tùy theo quy mô. Nước này chứa đầy các chất hữu cơ, hóa chất độc hại, vi khuẩn và các loài sinh vật nhuyễn thể, tạo thành một môi trường phức tạp cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.

1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu lan truyền

Việc mô phỏng lan truyền nước dằn tàu giúp dự báo phạm vi ảnh hưởng, tốc độ lây lan và nồng độ ô nhiễm trong khu vực. Đối với vùng biển Bắc Bộ với cảng Hải Phòng là cảng biển lớn, việc này vô cùng thiết yếu để bảo vệ tài nguyên sinh vật, duy trì sự cân bằng sinh thái và tuân thủ các quy chuẩn quốc tế.

II. Đặc điểm địa lý và điều kiện hải văn vùng biển Bắc Bộ

Vùng biển Bắc Bộ nằm ở phía bắc Việt Nam, bao gồm các khu vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa với đặc điểm địa hình phức tạp gồm các rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn. Khu vực này chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố khí hậu theo mùa, đặc biệt là gió mùa đông bắc và tây nam. Điều kiện hải văn ở đây được đặc trưng bởi dòng chảy tương đối phức tạp, do tác động của dòng chảy Gió Mùa, địa hình đáy biển và ảnh hưởng của các sông lớn. Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lan truyền và phân tán nước dằn tàu trong khu vực.

2.1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình

Vùng biển Bắc Bộ có vị trí chiến l略địch quan trọng với cảng Hải Phòng là cảng quốc tế hàng đầu. Khu vực này có địa hình phức tạp với các rạn san hô phân bố ở vùng ngoài khơi, thảm cỏ biển dày đặc và rừng ngập mặn ven bờ. Những hệ sinh thái này rất nhạy cảm với ô nhiễm từ nước dằn tàu.

2.2. Điều kiện khí hậu và dòng chảy

Khu vực chịu tác động của hai mùa gió chính: mùa gió đông bắc (tháng 10-3) và mùa gió tây nam (tháng 4-9). Dòng chảy tầng mặt thay đổi theo mùa, từ hướng bắc xuống nam trong mùa đông bắc, và hướng ngược lại vào mùa gió tây nam. Những yếu tố này quyết định hướng lan truyền của nước dằn tàu.

III. Phương pháp mô hình tính toán lan truyền

Luận văn sử dụng mô hình MIKE 21 FM (Flexible Mesh) - một công cụ mô phỏng số tiên tiến để tính toán quá trình lan truyền nước dằn tàu ở vùng biển Bắc Bộ. Mô hình này kết hợp các phương trình động lực học và phương trình vận chuyển chất để mô phỏng sự phân tán của các chất ô nhiễm. Quá trình thiết lập mô hình bao gồm xây dựng lưới tính tam giác (Triangular mesh), nhập dữ liệu đầu vào như dòng chảy, nhiệt độ, độ mặn, và các tham số của nước dằn tàu. Mô hình được chạy theo nhiều kịch bản khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau đến quá trình lan truyền.

3.1. Mô hình MIKE 21 FM và thành phần chính

Mô hình MIKE 21 FM là phần mềm mô phỏng số được phát triển bởi DHI, có khả năng mô phỏng các quá trình thuỷ động lực học phức tạp. Mô hình bao gồm các module: tính toán dòng chảy 2D, mô phỏng vận chuyển chất (Transport), cho phép tính toán nồng độ và phạm vi lan truyền chất ô nhiễm trong không gian và thời gian.

3.2. Các kịch bản mô phỏng

Luận văn thiết lập 6 kịch bản chính: 3 kịch bản mùa gió đông bắc3 kịch bản mùa gió tây nam với các điều kiện xả nước dằn tàu khác nhau ở cảng Hải Phòng. Mỗi kịch bản được mô phỏng trong 30 ngày liên tục, cho phép quan sát sự thay đổi nồng độ vật chất và phạm vi lan truyền theo thời gian.

IV. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa ứng dụng

Kết quả mô phỏng lan truyền nước dằn tàu cho thấy quá trình phân tán diễn ra khác nhau tùy theo mùa gió. Trong mùa gió đông bắc, nước dằn tàu phân tán theo hướng từ bắc xuống nam, trong khi mùa gió tây nam thì hướng ngược lại. Nồng độ vật chất giảm dần theo thời gian do quá trình phân tán, pha loãng và tương tác với môi trường nước biển. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tiêu chuẩn và quy định quản lý nước dằn tàu, bảo vệ hệ sinh thái biển Bắc Bộ khỏi các tác động tiêu cực của hoạt động vận tải biển.

4.1. Kết quả mô phỏng trường dòng chảy

Kết quả cho thấy dòng chảy vịnh Bắc Bộ tuân theo quy luật tự nhiên được ảnh hưởng bởi gió mùa. Mô hình MIKE 21 FM tái hiện chính xác các đặc trưng này, tạo nền tảng tin cậy để tính toán quá trình lan truyền nước dằn tàu trong các điều kiện thực tế khác nhau, từ đó đảm bảo độ chính xác cao của các dự báo.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và quản lý môi trường

Kết quả nghiên cứu giúp các cơ quan quản lý cảng biển, Cảnh sát biển và các tổ chức bảo vệ môi trường xây dựng kế hoạch quản lý nước dằn tàu hiệu quả. Các dữ liệu về phạm vi và nồng độ ô nhiễm giúp đánh giá rủi ro, đưa ra các biện pháp phòng ngừa như quy định địa điểm xả, thời gian tối ưu và những công nghệ xử lý nước dằn tàu tiên tiến.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu: Giới thiệu sơ lƣợc về mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn. Chƣơng 1: Tổng quan về nƣớc dằn tàu và khu vực vịnh bắc bộ 3. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Chƣơng 3: Các kết quả tính toán 5.

Kết luận 3 Chƣơng 1. TỔNG QUAN ĐỐI TƢỢNG VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu 1. Nƣớc dằn tàu (Ballast Water) Thuật ngữ “Ballast” thƣờng đƣợc dùng để chỉ bất cứ vật nặng nào đặt trong tàu mà thấp hơn trọng tâm.

“Ballast” cung cấp cho thân tàu sự ổn định và đảm bảo tàu có độ sâu hợp lý khi ở trong nƣớc để hoạt động có hiệu quả và hoạt động của chân vịt cũng đạt đƣợc hiệu quả. “Ballast” giúp cho tàu thuyền ổn định hơn và di chuyển an toàn hơn. Điều chỉnh “Ballast” của tàu bằng cách thêm vào hoặc bỏ đi những vật liệu nhƣ cát, sỏi, đá, và nƣớc. Dằn tàu đặc biệt quan trọng ở những tàu mang ít hay không mang hàng hóa.

Khi tàu đầy hàng hóa, sự ổn định của tàu chủ yếu đƣợc thực hiện bởi hàng hóa. Khi tàu không có hàng hóa hoặc ít hàng hóa, do sức nổi làm sự bất ổn định của tàu tăng lên. Dằn tàu là hình thức giúp thêm trọng lƣợng vào phần thấp hơn của tàu, làm tăng trạng thái ổn định bằng cách kéo trọng tâm xuống thấp hơn tâm đẩy nổi của sức nổi [21]. Trƣớc đây, các thủy thủ đã sử dụng dây xích và những vật liệu nặng khác nhƣ cát và các tảng đá để dằn tàu.

Từ sau 1870 ngƣời ta bắt đầu thay thế các vật liệu trên bằng nƣớc, bởi vì chất lỏng sử dụng để dằn tàu thuận lợi hơn sử dụng chất rắn. Đến nay, thuật ngữ “nƣớc dằn tàu” đã đƣợc tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) chính thức định nghĩa nhƣ sau: “nƣớc dằn tàu” là nƣớc đƣợc bơm lên tàu để điều chỉnh độ chúi, độ nghiêng, chiều chìm, ổn định của tàu [24]. Nhƣ đã nói trên, tàu viễn dƣơng chỉ mang ít hay không có hàng hóa khi di chuyển trên biển, vì vậy ngay khi bắt đầu cuộc hành trình, tàu viễn dƣơng sẽ lấy một lƣợng lớn nƣớc nhằm giúp tàu có thể chìm sâu hơn dƣới nƣớc hay đến một vị trí an toàn hơn trong nƣớc. Cuối cuộc hành trình, tàu sẽ bơm nƣớc dằn tàu này vào một cảng mới hay vùng ven biển trƣớc khi bốc hàng hóa.

Nƣớc dằn tàu cũng đƣợc đổi hay bơm ra cho mục đích khác, bao gồm điều chỉnh tàu theo đúng hƣớng, cải thiện tính an toàn khi đi trên biển, gia tăng hiệu quả lực đẩy, hạn chế sốc cho thân tàu. Các quá trình nêu trên liên quan đến hoạt động lấy hay xả nƣớc dằn tàu của đƣợc khái quát trong hình 1 (nguồn: CRISO Austrialia, 2008) [24]. Quy trình bơm, xả nước dằn tàu của tàu thuyền [15]. Thực tế hiện nay việc sử dụng nƣớc để dằn là điều cần thiết để đảm bảo hoạt động an toàn của tàu.

Sức chứa nƣớc dằn tàu phụ thuộc vào loại tàu, tải trọng và khối lƣợng hàng trên tàu đƣợc thể hiện ở bảng 1. Lƣợng nƣớc này thƣờng chiếm từ 30-40% trọng tải của tàu. Trên thế giới hiện có khoảng trên 85.000 tàu hoạt động và tƣơng đƣơng với khoảng 3 đến 5 tỷ tấn nƣớc dằn vận chuyển bằng tàu biển hàng năm [21]. Khả năng dằn của một số loại tàu biển [15] Trạng thái nƣớc dằn tàu Tải trọng Thông Phần Chất đầy Phần trăm Loại tàu (DWT) thƣờng trăm tải (Tấn) tải trọng (Tấn) trọng (%) (%) Tàu chở xô hàng rời 250.000 45 Tàu chở xô hàng rời 150.000 45 Tàu chở xô hàng rời 70.000 57 Tàu chở xô hàng rời 35.000 30 - Tàu hàng tổng hợp 17.000 35 - Tàu hàng tổng hợp 8.000 38 - Tàu khách 3.000 33 - Việc sử dụng nƣớc để dằn tàu đã tác động đáng kể đến đa dạng sinh học, môi trƣờng cũng nhƣ cuộc sống của con ngƣời ở nhiều nơi trên thế giới.

Khi tàu lấy hàng sẽ xả nƣớc dằn, cùng theo đó là hàng nghìn sinh vật ngoại lai, chủ yếu là thực vật phù du, động vật phù du, động vật không xƣơng sống. Các loài sinh vật xâm nhập vào môi trƣờng mới sẽ đe dọa hoặc gây ảnh hƣởng rất lớn đến hệ sinh thái ven biển và hệ sinh thái nƣớc ngọt. Bên cạnh đó, thiết kế phức tạp của két đựng nƣớc dằn cũng có thể dẫn đến một lƣợng lớn trầm tích lắng đọng trong các bể dằn tàu. Điều này có thể tạo ra một nơi sinh sản và phát triển của các vi khuẩn và một số loài sinh vật nhất định.

Quá trình lắng đọng và tích luỹ của nhiều đợt chứa nƣớc và chứa nhiều loại nƣớc ở các khu vực địa lý trên thế giới làm cho nguy cơ gây ra các ảnh hƣởng đến hệ sinh thái khi sinh vật xâm hại càng cao. Vì thế, việc vận chuyển nƣớc dằn và các loài xâm hại ở biển dƣờng nhƣ đã trở thành thách thức lớn đối với môi 6 trƣờng. Từ những năm 1970 nhà khoa học đã nhận thức việc xả không kiểm soát nƣớc dằn và cặn lắng từ tàu sẽ dẫn đến việc vận chuyển các thủy sinh vật và các mầm bệnh có hại, gây ra tổn thƣơng tới môi trƣờng, sức khỏe con ngƣời và tài nguyên. Tuy nhiên, vấn đề ảnh hƣởng của các sinh vật độc hại trong nƣớc dằn của tàu mới đƣợc IMO đề cập đến từ năm 1988.

Nhằm làm giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng biển do việc vận chuyển các mầm bệnh và thủy sinh vật có hại thông qua nƣớc dằn, năm 2004, IMO đã thông qua Công ƣớc quốc tế về kiểm soát, quản lý nƣớc dằn và cặn nƣớc dằn (BWM, 2004), Công ƣớc dự kiến sẽ có hiệu lực trong năm 2014-2016. Đặc điểm quản lý nƣớc dằn tàu trong khu vực nghiên cứu Cho đến nay, Việt Nam chƣa có quy định riêng về quản lý nƣớc dằn tàu. Dựa trên Nghị định về quản lý cảng biển và luồng hàng hải số 21/2012/NĐ-CP, ngày 21 tháng 3 năm 2012 [2], có thể tóm tắt việc quản lý nƣớc dằn tàu của Việt Nam nhƣ sau: Thứ nhất, trƣớc khi tàu thuyền dự kiến đến cảng, chủ tàu, ngƣời quản lý, ngƣời khai thác tàu hoặc ngƣời đƣợc ủy quyền phải gửi cho Cảng vụ hàng hải nơi tàu đến mẫu “Khai báo chung” trƣớc khi tàu nhập cảnh [11]. Thứ hai, đối với các tàu không xả nƣớc dằn tàu thì sẽ làm thủ tục nhập cảnh tại phao số “0” hoặc có thể tại cảng nhập cảnh theo thời gian quy định trƣớc khi nhập cảnh.

Thứ ba, đối với các tàu có xả nƣớc dằn tàu bắt buộc phải làm thủ tục khai báo tại phao số “0” và điền vào giấy khai báo kiểm dịch y tế đối với tàu thủy, thuyền cập bến và giấy kê khai các loại nƣớc, thực phẩm trên tàu thủy, thuyền. Nhƣ vậy, việc quản lý, kiểm soát các tàu nhập cảnh vào Việt Nam có liên quan đến nƣớc dằn tàu mới chỉ dựa vào quy trình khai báo và ngay bản thân quy trình khai báo của Việt Nam cũng còn một số điểm không thể kiểm soát đƣợc: Đầu tiên, vấn đề khai báo nƣớc dằn tàu còn dựa vào tính tự giác của ngƣời vận hành tàu. Nhƣng tàu nào khai báo sẽ xả nƣớc dằn tàu mới điền vào mẫu khai 7 báo, chính vì vậy ta không thể kiểm soát đƣợc tính trung thực khi khai báo nƣớc dằn tàu của các tàu. Hơn nữa, hiện nay chúng ta cũng chƣa có bất kỳ quy định hay phƣơng pháp nào để kiểm tra những tàu không khai báo nƣớc dằn tàu nhƣng lại xả nƣớc dằn tàu tại cảng nhập cảnh.

Tiếp theo đó, việc quản lý quy trình khai báo nƣớc dằn tàu chƣa đƣợc chặt chẽ, chỉ điền vào mẫu nƣớc dằn tàu, thông báo cho cảng vụ hàng hải biết giờ, địa điểm sẽ xả nƣớc dằn tàu. Chúng ta không có quy định khu vực nào cho phép các tàu đƣợc phép xả nƣớc. Nhìn chung những quy định khai báo về quản lý nƣớc dằn tàu của Việt Nam khác hẳn các nƣớc trên thế giới và cũng không theo quy định chung nhƣ công ƣớc về kiểm soát nƣớc dằn tàu và cặn lắng của IMO [2], đó là: (1) Yêu cầu trao đổi nƣớc ngoài khơi; (2) Không sử dụng mẫu khai báo nƣớc dằn tàu của IMO; (3) Không yêu cầu thực hiện kế hoạch quản lý nƣớc dằn tàu; (4) Tất cả những quy trình khai báo và cập nhật thông tin của các nƣớc trên thế giới đều đƣợc tiến hành tự động qua chƣơng trình quản lý đƣợc xây dựng sẵn, còn của Việt nam chỉ tiến hành thông báo qua điện thoại, gởi fax. Chính vì vậy, chúng ta không thể kiểm soát đƣợc tình hình bơm/ xả nƣớc dằn tàu tại các cảng cũng nhƣ việc xâm lấn của các sinh vật ngoại lai vì nƣớc dằn tàu là một trong những con đƣờng chính cho sự di chuyển của các sinh vật lạ từ các quốc gia khác vào Việt Nam trong đó có cả các sinh vật gây hại.

Do đó, khả năng dự phòng, chuẩn bị hay xây dựng giải pháp xử lý hợp lý, hiệu quả và kịp thời đang là vấn đề cấp thiết cho Việt Nam trong giai đoạn hiện này. Do quy định quản lý của Việt Nam không yêu cầu các tàu khai báo lƣợng nƣớc dằn, chỉ khi các tàu xả nƣớc dằn tàu mới khai báo lƣợng nƣớc dằn tàu theo tàu. Vì vây, học viên chỉ thu thập đƣợc số liệu về lƣợng tàu nhập cảng qua các năm, không thu thập đƣợc lƣợng nƣớc dằn tàu di chuyển cùng với các tàu vào hệ thống cảng Hải Phòng. Chính vì vậy những kết luận sau chỉ dựa trên số lƣợng tàu nhập cảng vào hệ thống cảng Hải Phòng từ giai đoạn 2005 - 2012 (bảng 2).

Lượng hàng hóa thông qua cảng Hải Phòng giai đoạn 2005-2012 Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Tổng sản lƣợng 10,51 11,15 12,3 13,9 32,5 38,4 43 48,9 (triệu tấn) Sản lƣợng nhập 5,37 5,2 6, 218 7,635 15,6 18,8 20,2 25 (triệu tấn) Container 424,13 464 683,7 808 929,2 1068 1200 1378 (nghìn TEUs) Số lƣợt tàu đến 2.939 Lƣợng nƣớc dằn ƣớc tính 10,06 8,51 10,15 19,78 24,57 33,12 41,67 61,84 (Triệu tấn) Qua bảng số liệu nêu trên cho thấy: Số lƣợng tàu nhập cảnh từ giai đoạn 2005-2012 có khuynh hƣớng tăng, tƣơng đƣơng với lƣợng hàng hóa tăng; đồng thời với việc tải trọng tăng đó là lƣợng nƣớc dằn tàu đi theo cũng tăng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của sinh vật vào hệ thống cảng Hải Phòng. Mặt khác chúng ta lại không có quy định bắt buộc kê khai lƣợng nƣớc dằn tàu đối với tất cả các tàu nên vấn đề quản lý nƣớc dằn tàu lại càng khó khăn hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ