Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chất lượng giảng viên Chương 2. Cơ sở khoa học về chất lượng giảng viên ngành kinh tế các trường đại học công l p Chương 3. Thực trạng chất lượng giảng viên ngành kinh tế các trường đại học công l p trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 4.
Giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên ngành kinh tế các trường đại học công l p trên địa bàn thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƢỢNG GIẢNG VIÊN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chất lƣợng giảng viên 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các nghiên cứu về CLGV nói chung, CLGVNKT nói riêng mặc dù không còn là chủ đề mới nhưng cũng chưa bao giờ mất đi tính thời sự do tầm quan trọng, sự đa dạng trong quan điểm, cách nhìn nh n của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, và chính sự v n động, phát triển liên tục của nội hàm vấn đề này.
GV là NNL chuyên môn đảm nh n vi c giảng dạy, đào tạo ở b c ĐH, cao đẳng (CĐ). CLGV có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo của các trường ĐH, CĐ, nghĩa là ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng NNL xã hội. Chính vì v y, kể từ lần đầu tiên được Benjamin Franklin đề c p đến tại Đại học Harvard năm 1772 [84] cho đến nay, những vấn đề về CLGV đã được nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới quan tâm nghiên cứu. Đánh giá về vai trò của GV, sự cần thiết phải nâng cao CLGV, trong các nghiên cứu của mình, Phillip G.Altbach (2003), Maurice Kogan và Ulrich Teichler (2007), Akira Arimoto (2013) cùng có chung quan điểm cho rằng giảng dạy được xem như một nghề, GV là người truyền thụ các kiến thức tinh hoa của nhân loại, đong thời là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dan SV lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo.
Bên cạnh đó, GV còn là nhà GD, người định hướng nghề nghi p cho SV trong tương lai, góp phần trực tiếp, tích cực vào vi c hình thành và phát triển nhân cách cho SV [1], [42], [51]. Kim Mather et al. (2005), Maxie Andrea (2006), Marin Simona (2013), Donde Snehal, Kamble Dinesh F. Mulder et al.
Đo lường, đánh giá CLGV, theo Alexander (2000), Berliner (2005), là vấn đề phức tạp bởi sự khác bi t về văn hoá và sự định tính trong nh n thức. Burnett và 11 Meacham (2002) cho rằng CLGV có thể được xác định trên nhiều khía cạnh khác nhau, song dù dưới góc độ nào thì cũng phải bao gom các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ tiêu được sử dụng để xác định chất lượng và cách giải thích những tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ tiêu đó trong các ngữ cảnh cụ thể. Verloop và Lowyck (2003) lại dùng 4 nhóm tiêu chuẩn để đánh giá CLGV, bao gom: sự cân bằng, các kỹ năng, cách hành động và trưởng thành (balanced, in command of specific skills, wise, and mature). Søreide (2006) tiếp tục ý tưởng về 4 nhóm tiêu chuẩn đánh giá CLGV, song đưa ra cách phân loại các tiêu chuẩn khác với Verloop và Lowyck.
Cụ thể 4 nhóm tiêu chuẩn theo Søreide lần lượt là: sự t n tình, nhân ái; sự sáng tạo, đổi mới; chuyên nghi p; và GV điển hình (the caring, kind; the creative, innovative; the professional; and the typical teacher) [83]. Fenstermacher và Richardson (2005) lại đưa ra quan điểm khác, phân chia GV thành 2 nhóm: GV tốt và GV thành công. Theo Arnon và Reichel (2007), kiến thức chuyên môn và nhân cách thích hợp là hai đặc điểm chính của GV lý tưởng. Van Gennip và Vrieze (2008) cho rằng vi c giảng dạy tốt bao gom nội dung kiến thức và tính cách của GV phù hợp với mục tiêu của GD và do đó, mục tiêu GD khác nhau sẽ có những tiêu chuẩn đánh giá CLGV khác nhau.
Không những v y, theo họ, mỗi lĩnh vực giảng dạy cần có những tiêu chuẩn đánh giá CLGV đặc thù, phù hợp. Cụ thể hóa quan điểm này, Uỷ ban Quốc gia về Tiêu chuẩn Giảng dạy Chuyên nghi p của Hoa Kỳ (NBPTS) đã xây dựng 26 bộ tiêu chuẩn giảng dạy cho các lĩnh vực giảng dạy khác nhau [92]. Theo NBPTS, hoạt động giảng dạy của GV trình độ cao cần đảm bảo 4 tiêu chuẩn, bao gom: (i) GV đảm bảo những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho quá trình học t p của SV; (ii) Tạo môi trường, điều ki n thu n lợi cho quá trình học t p của SV; (iii) Thúc đẩy SV học t p và nghiên cứu khoa học (NCKH); (iv) Hỗ trợ cho SV trong quá trình học t p, nghiên cứu. Nghiên cứu gần đây của Werner Engelbrecht, Piet Ankiewicz (2016) đã xây dựng một bộ 8 tiêu chí đánh giá CLGV, bao gom: (i) kiến thức về trường học, (ii) kiến thức về kỷ lu t, (iii) kiến thức sư phạm, (iv) kỹ năng, thái độ và giá trị, (v) kiến thức về chuyên môn (ngành học, môn học), (vi) kinh nghi m lý thuyết, (vii) kinh nghi m thực tiễn, và (viii) kinh nghi m phản xạ nghề nghi p của GV [118].
12 Như v y, có thể thấy mặc dù đã có sự thống nhất trong các nghiên cứu ngoài nước khẳng định vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ GV cũng như sự cần thiết nâng cao CLGV trong bối cảnh hi n nay song do CLGV còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau nên cách thức đo lường, đánh giá và các tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá CLGV cũng rất khác nhau. Các tiêu chuẩn/tiêu chí đánh giá này có thể đối l p hoặc bổ sung cho nhau song nhìn chung đều thể hi n quan điểm của các nhà nghiên cứu coi CLGV là một cấu trúc đa chiều, cần được đo lường bằng một h thống các tiêu chuẩn/tiêu chí/chỉ tiêu phù hợp. Về cách tiếp cận, phương pháp và kết quả nghiên cứu, các tác giả trên thế giới đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, song tựu chung lại thường t p trung vào nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLGV; xây dựng và đo lường các tiêu chí đánh giá CLGV và các vấn đề liên quan tới CLGV thông qua khảo sát, thu th p ý kiến của các đối tượng hữu quan. trên cơ sở đó đưa ra h thống các giải pháp nhằm nâng cao CLGV.
Nghiên cứu của Chadwick Priscilla (1995) chỉ ra rằng: Chất lượng giảng dạy của GV (một tiêu chí quan trọng phản ảnh CLGV) bị ảnh hưởng nhiều bởi sự phát triển của khoa học công ngh và ý thức, khả năng học t p hay tiếp thu kiến thức của SV [84]. Kết quả nghiên cứu của David H. Monk lại cho thấy đặc điểm vùng miền, sự hài lòng của GV với môi trường làm vi c, thu nh p hay khả năng học t p của SV là các nhân tố chính ảnh hưởng tới CLGV [86]. Vì v y, để nâng cao CLGV, cần đào tạo nâng cao trình độ (sau ĐH) cho lực lượng GV cũng như phát triển đội ngũ nhân viên trong các nhà trường.
Tương tự, nghiên cứu của Limor Hatsor (2012) cũng t p trung xác định mối liên h giữa sự phát triển của khoa học công ngh , tỷ l SV/GV và CLGV [99]. Laurie Lomas (2004) đưa ra kết lu n: Để nâng cao CLGV, các trường ĐH định hướng giảng dạy hoặc định hướng nghiên cứu, chuyển giao công ngh đều cần chú trọng vào: (i) sự phù hợp giữa GV, chương trình đào tạo với trình độ, khả năng học t p của học viên; (ii) tư duy đổi mới của người lãnh đạo; (iii) NNL có trình độ, kỹ năng tốt trong quá trình lao động, đặc bi t là kỹ năng quản lý NNL; (iv) áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng phù hợp như Quản lý chất lượng toàn di n (TQM) hay Quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn Châu Âu (EFQM); (v) hoàn thi n cấu trúc và văn hóa tổ chức. 13 Voss Roediger, Gruber Thorsten (2006) sử dụng cách tiếp c n chuỗi giá trị và kỹ thu t thang đo để điều tra chất lượng dịch vụ trong GDĐH. Kết quả nghiên cứu cho thấy những phẩm chất cần có của GV từ quan điểm của SV là: (i) am hiểu, nhi t tình, tiếp c n được và thân thi n; (ii) có kỹ năng giao tiếp, giảng dạy đầy đủ và có thể lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp nhất từ nhiều công cụ giảng dạy [117].
Như v y, mặc dù tiếp c n từ các góc độ khác nhau song hầu hết các nghiên cứu ngoài nước đều chỉ ra rằng CLGV bị chi phối và ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và phạm vi nghiên cứu. Một số nhân tố được nhiều nghiên cứu đề c p tới là: sự phát triển của khoa học công ngh , mức thu nh p, sự thỏa mãn của GV trong công vi c, chính sách quản lý của nhà nước hay các hoạt động quản trị trong nhà trường… Do v y để nâng cao CLGV, các CQQLNN, các trường ĐH cần xây dựng các tiêu chuẩn nghề nghi p cụ thể phù hợp với điều ki n thực tế, đong thời có những chính sách, bi n pháp tạo động lực thúc đẩy GV nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghi p, nhi t huyết, yêu nghề, gắn bó với công vi c và sự nghi p đào tạo… 1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Là quốc gia đang phát triển, nên đối với Vi t Nam vấn đề thực hi n các mục tiêu chiến lược về GD, nâng cao chất lượng NNL có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc bi t là trong bối cảnh những tiến bộ khoa học kỹ thu t (KHKT) và công ngh ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống như hi n nay. Nâng cao CLGV, trong đó có GVNKT chính là một điều ki n tiên quyết để thực hi n được các mục tiêu chiến lược về con người đó.
Đánh giá về vai trò của đội ngũ cán bộ, GV trong thời kỳ mới, Nguyễn Phú Trọng (2003) trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ đã khẳng định: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có đội ngũ GV trong thời kỳ đẩy mạnh công nghi p hóa (CNH) – hi n đại hóa (HĐH) đất nước có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của Vi t Nam [67]. Tán đong quan điểm về vai trò của GV trong các trường ĐH, Phan Thủy Chi (2008) cho rằng: GV tham gia đào tạo nguon lực con người, tạo ra lực lượng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu của xã hội.