CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luân án có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho nghiên cứu sinh (NCS) hệ thống hóa được những vấn đề có tính lý luận chung về năng lực giảng viên và NCNL giảng viên trong các trường đại học nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, thông qua nghiên cứu tổng quan NCS sẽ làm rõ được những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ làm định hướng cho nghiên cứu của mình. Trong quá trình tiếp cận các công trình nghiên cứu trước đây, NCS tiến hành khái quát hoá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án theo 2 nhóm sau: - Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu về năng lực của giáo viên nói chung.
- Thứ hai, nhóm các nghiên cứu để nâng cao năng lực giảng viên trong các trường đại học. Các nghiên cứu về năng lực của giáo viên nói chung Cùng với xu thế phát triển mô hình năng lực trong quản trị nhân sự tất cả lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội thì ngành giáo dục cũng có những nghiên cứu và quan điểm về năng lực giáo viên trong các cơ sở giáo dục nhằm ngày một nâng cao chất lượng đào tạo. Nguồn nhân lực trong các tổ chức giáo dục nói chung là người giáo viên. Đây là nguồn nhân lực có cùng chung đặc điểm là người lao động nhưng họ có đặc điểm riêng nên việc xác định năng lực giáo viên là việc dựa vào năng lực chung nhưng lại cần chú ý đến những đặc trưng riêng của nghề nghiệp.
Nghiên cứu của Petrovxki chỉ ra rằng năng lực là một thành tố cấu tạo nên nhân cách. Năng lực luôn gắn liền với những yêu cầu đặt ra của một hoạt động nhất định. Đối với mỗi công việc, bên cạnh năng lực chung, năng lực cần thiết cho mọi lĩnh vực khác nhau, đều đòi hỏi ở mỗi cá nhân thực hiện nhiệm vụ có những năng lực riêng, mang tính đặc thù, gắn liền với yêu cầu riêng của một hoạt động xác định. Petrovxki nghiên cứu năng lực sư phạm và cho rằng: “Năng lực sư phạm là một tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lý của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được kết quả cao trong việc dạy học và giáo dục” [56].
Theo đó, sự phát triển của các năng 8 lực sư phạm gắn liền một cách hữu cơ với việc nắm các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm, với tư cách là những cấu thành nhân cách đảm bảo cho hoạt động của người giảng viên thu được kết quả. Dựa trên kết quả nghiên cứu hoạt động dạy học ở người giáo viên, Petrovxki đã chia năng lực sư phạm của họ thành các nhóm: nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực thiết kế, nhóm năng lực tri giác, nhóm năng lực truyền đạt, nhóm năng lực giao tiếp, nhóm năng lực tổ chức. Các năng lực này không chỉ là điều kiện để hoạt động sư phạm đạt được hiệu quả cao mà còn là kết quả của hoạt động đó. Tuy nhiên, cách phân chia của Petrovxki chưa thực sự thuyết phục bởi lẽ ngay trong nhóm năng lực dạy học đã bao gồm năng lực thiết kế, giao tiếp,… Nghiên cứu của Weinert cũng cho rằng: “Năng lực là một thành tố cấu tạo nên nhân cách.
Năng lực được hình thành và hoàn thiện trong hoạt động (học tập, lao động, nghề nghiệp). Năng lực có mối quan hệ biện chứng với tri thức, kỹ năng, kĩ xảo. Có kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo trong một hoạt động nào đó là điều kiện phát triển năng lực trong lĩnh vực ấy, ngược lại, năng lực thúc đẩy quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kĩ xảo diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn…” [82]. Tác giả Weinert nhận định năng lực giáo viên gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân.
Như vậy, có thể thấy mô hình cấu trúc của Weinert thiếu thành tố tri thức và xem “khả năng” như một thành tố của năng lực bên cạnh “kĩ năng” là không thuyết phục. Theo nghiên cứu của Gônôbôlin thì: “Để làm tốt nghề nghiệp sư phạm, người làm nghề sư phạm phải có năng lực sư phạm. Năng lực nghề nghiệp của cá nhân là điều kiện, phương tiện để thực hiện hoá xu hướng nghề nghiêp. Năng lực sư phạm của giảng viên là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao.
Năng lực được bộc lộ trong hoạt động và gắn với một số kỹ năng tương ứng” [42]. Như vậy, để đào tạo năng lực sư phạm cho giảng viên cần rèn luyện những kỹ năng giáo dục, dạy học cần thiết. Năng lực sư phạm cũng như mọi năng lực khác chỉ tổn tại trong sự vận động phát triển chúng không thể nẩy nở ngoài sự hoạt động và phụ thuộc vào tính chất của hoạt động đó. Gônôbôlin cho rằng một người giảng viên muốn có kết quả tốt trong hoạt động giảng dạy thì cần phải có các năng lực sau [42]: - Năng lực truyền đạt tài liệu học tập cho học viên một cách dễ hiểu; - Năng lực hiểu được như cầu của học viên; 9 - Năng lực thu hút học viên; - Năng lực thuyết phục mọi người; - Năng lực tổ chức (bao gồm các kĩ năng lãnh đạo tập thể, hướng dẫn đúng đắn việc học tập,…); - Năng lực ứng xử sư phạm; - Năng lực dự đoán trước các tình huống và kết quả công tác của mình; - Năng lực sáng tạo trong công tác; - Năng lực nắm vững tài liệu phục vụ công tác giảng dạy.
Cách phân loại của Gônôbôlin như trên được coi là tương đối đầy đủ, tuy nhiên ông vẫn chưa đề cập đến một loại năng lực khác như năng lực quan sát, năng lực chế biến tài liệu, phẩm chất đạo đức,… Ngoài ra, trong một kết quả nghiên cứu khác của Sở Giáo dục bang New Mexico (Hoa Kỳ), năng lực của người giáo viên được chia làm 3 nhóm [78]: - Nhóm A (các năng lực hướng dẫn): gồm có năng lực giải thích chính xác kiến thức thuộc các lĩnh vực nội dung và chương trình hiện hành; năng lực sử dụng hợp lý các phương pháp và các tài liệu học tập đối với mỗi nội dung giảng dạy; năng lực sử dụng một cách hiệu quả kĩ thuật và quy trình đánh giá sinh viên. - Nhóm B (các năng lực làm việc với sinh viên) gồm có năng lực giao tiếp với sinh viên và nhận được thông tin phản hổi từ họ để trên cơ sở đó nâng cao kiến thức và sự hiểu biết của sinh viên; năng lực hiểu thấu đáo các nguyên tắc về sự phát triển, sự học tập của sinh viên và áp dụng chúng một cách thích hợp; năng lực quản lý quá trình giảng dạy để làm tăng lên những hành vi tích cực của sinh viên và môi trường tâm lý thuận lợi cho việc thúc đẩy sự tham gia tích cực của sinh viên. - Nhóm C (các năng lực nghiên cứu nghề nghiệp) gồm có năng lực sẵn sàng đối với sự kiệm nhiệm và áp dụng những thay đổi; năng lực làm việc với đồng nghiệp, với phụ huynh. Mỗi nhóm năng lực, có 3 cấp độ thể hiện và các tiêu chí tương ứng với mỗi cấp độ được mô tả trong bảng sau [78]: 10 Bảng 1.1: Cấp độ năng lực giải thích chính xác kiến thức thuộc các lĩnh vực nội dung và chương trình hiện hành Cấp độ Tiêu chí Cấp độ 1 Giáo viên sử dụng các chuẩn mực của nội dung và chương trình hiện hành làm cơ sở cho lập kế hoạch hướng dẫn; truyền đạt được nội dung kiến thức và mục tiêu môn học; sự truyền đạt dễ hiểu và chuẩn xác, chữ viết đẹp; sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nội dung kiến thức và lứa tuổi của học viên; thể hiện nội dung kiến thức và thiết lập các mối liên hệ với các môn học khác.
Cấp độ 2 Giáo viên mở rộng chương trình dựa trên cơ sở chuẩn mực của Bang và chương trình hiện hành; truyền đạt nội dung kiến thức, mục tiêu môn học; sự hướng dẫn, các hành động cần làm một cách rõ ràng, chính xác, chi tiết, ngôn ngữ và chữ viết rõ ràng và trong một chuẩn mực được chấp nhận; nhận ra sự lúng túng của học viên đối với những lời hướng dẫn và các tiêu chuẩn thực hiện, đồng thời biết làm cho sự truyền đạt trở lên dễ hiểu hơn; cung cấp nội dung kiến thức phù hợp với nhu cầu của học viên; tạo ra sự gắn kết của kiến thức đang truyền đạt với kiến thức, kinh nghiệm đã có của học viên; thể hiện nội dung kiến thức vững chắc; tìm kiếm các cách thức tích hợp các môn học khác vào chương trình hiện hành khi nào thấy thích hợp. Cấp độ 3 Giáo viên tích cực xây dựng chương trình dựa trên các tiêu chuẩn của Bang và chương trình hiện hành bằng cách cung cấp sự hướng dẫn dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có của học viên và dựa trên những lỗi mà học viên dễ mắc phải; cách hướng dẫn và hành động rõ ràng cho hoạt động giảng dạy; sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết một cách phong phú trong khi giảng dạy; thể hiện nội dung kiến thức rộng và tạo được sự kết nối với các môn học khác; tạo được sự kết nối với bài giảng trước hoặc với các vấn đề khác. Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các websites: www.org Các nghiên cứu tại những trường đại học hàng đầu trên thế giới đã đều thừa nhận rằng để thực hiện tốt chức năng của trường đại học, vấn đề cốt lõi là phải xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực. Nhằm thực hiện tốt chức năng của trường đại học, năng lực của giảng viên cần có là: “năng lực giảng dạy, năng lực chuyên môn 11 và năng lực NCKH”.
Cụ thể như sau [58],[59]: - Năng lực giảng dạy bao gồm các tiêu chí: +) Năng lực về phương pháp giảng dạy: Tiêu chí năng lực này đòi hỏi người giảng viên phải có năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (thảo luận nhóm, giảng dạy bằng tình huống , hướng dẫn làm dự án,.); Năng lực truyền đạt (giảng giải kiến thức dễ hiểu, đặt câu hỏi cho học viên, viết bài giảng và tài liệu học tập,…); Năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (sử dụng PowerPoint, khai thai thông tin trên Internet, các phần mềm máy tính cho hoạt động chuyên môn,.