Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận" do nghiên cứu sinh Nguyễn Khánh Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Anh Cường, bảo vệ năm 2024.

Văn bản luận án xác định tính cấp thiết xuất phát từ vị trí của đời sống văn hóa trong việc phản ánh hoạt động con người nhằm sáng tạo ra các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Dân tộc Chăm tại tỉnh Ninh Thuận là cư dân bản địa lâu đời, hậu duệ của vương quốc Chămpa cổ, sở hữu hệ thống trình diễn dân gian phong phú và là cộng đồng duy nhất trong 54 dân tộc tại Việt Nam có lễ hội dành riêng cho múa. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận múa Chăm một cách gián tiếp khi khảo sát tôn giáo, tín ngưỡng hay lễ hội; múa Chăm chưa được đặt làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp để phân tích và tổng kết về mặt lý luận văn hóa học. Đồng thời, dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa và hoạt động du lịch, múa Chăm đang vận động, chuyển hóa chức năng từ không gian thiêng sang không gian sinh hoạt, biểu diễn dịch vụ, đặt ra yêu cầu cần giải mã sự biến đổi chức năng này một cách hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận, qua đó xác định các chức năng của múa trong đời sống văn hóa truyền thống, nhận diện sự biến đổi và bổ sung các chức năng mới trong bối cảnh đương đại.

Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và lý thuyết nghiên cứu làm nền tảng tiếp cận đối tượng.
  3. Khái quát về người Chăm ở Việt Nam và đặc điểm địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
  4. Nghiên cứu, phân tích các chức năng của múa Chăm trong đời sống văn hóa truyền thống và đương đại của cư dân Ninh Thuận.
  5. Bàn luận những vấn đề đặt ra từ sự thay đổi chức năng của múa Chăm.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 03 câu hỏi:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Múa Chăm trong đời sống văn hóa truyền thống của cư dân Ninh Thuận được thể hiện như thế nào và chức năng của nó ra sao?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận hiện nay được thể hiện thông qua sự thay đổi/bổ sung mới chức năng như thế nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Có những vấn đề gì cần bàn luận liên quan đến sự thay đổi/bổ sung mới chức năng của múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận hiện nay?

Tương ứng với các câu hỏi trên, 03 giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng:

  • Giả thuyết nghiên cứu 1: Múa Chăm trong đời sống văn hóa truyền thống của cư dân Ninh Thuận được thể hiện qua nguồn gốc, lịch sử, hình thái, thành tố, đặc điểm; các chức năng trong đời sống tâm linh và sinh hoạt gồm: chức năng giáo dục, chức năng tâm linh, chức năng nhận thức, chức năng giải trí, chức năng cố kết cộng đồng.
  • Giả thuyết nghiên cứu 2: Múa Chăm trong đời sống văn hóa đương đại thể hiện sự thay đổi chức năng ở phương diện tâm linh và sinh hoạt; đồng thời xuất hiện các chức năng mới gắn với tổ chức sự kiện, hoạt động du lịch, phong trào văn nghệ quần chúng, và hoạt động biên đạo, biểu diễn, đào tạo chuyên nghiệp.
  • Giả thuyết nghiên cứu 3: Sự thay đổi và bổ sung chức năng chịu sự chi phối của các yếu tố kinh tế - xã hội, mang lại những tác động tích cực lẫn tiêu cực, đặt ra yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn nguyên gốc và thích ứng phát triển.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chức năng của múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian: Tỉnh Ninh Thuận, tập trung khảo sát sâu 04 trường hợp: làng Hữu Đức (Palei Hamu Tanran, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước - khu vực đền Po Nagar), làng Thành Ý (Palei Tabeng, xã Thành Hải, TP. Phan Rang - Tháp Chàm - khu vực tháp Po Klong Garai), làng Hậu Sanh (Palei Thuen, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước - khu vực tháp Porome), làng Bàu Trúc (Palei Hamu Craok, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước); khảo sát bổ trợ tại làng Bỉnh Nghĩa (Palei Bal Riya, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc).
  • Về thời gian: Khảo cứu tư liệu lịch sử cho giai đoạn truyền thống; tiến hành điều tra, khảo sát thực địa giai đoạn từ năm 2018 đến thời điểm nghiên cứu (giai đoạn Ninh Thuận triển khai Nghị quyết số 115/NQ-CP và các quy hoạch văn hóa mới).
  • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nghệ thuật múa của nhóm Chăm Ahier (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo) do đây là nhóm chiếm số đông và thực hành văn hóa lâu đời; chủ thể thực hành trực tiếp là người Chăm và chủ thể tham gia, thụ hưởng là cộng đồng người Chăm cùng người Kinh trên địa bàn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án phân chia tình hình nghiên cứu thành 03 nhóm công trình chính:

Nhóm thứ nhất: Các công trình về đời sống văn hóa và đời sống văn hóa Chăm. Ở giác độ lý luận và thực tiễn đời sống văn hóa, luận án điểm lại các công trình của Hoàng Vinh (1999, 2006), Nguyễn Hữu Thức (2005, 2009), Đinh Thị Vân Chi (2015), Văn Đức Thanh (2016), Hà Huy Bích và cộng sự (1984), Nguyễn Văn Hy (1985), Nguyễn Hùng Khu (2012), Nguyễn Thị Hương và Vũ Thị Phương Hậu (2016), Nguyễn Minh Quang (2017). Về đời sống văn hóa Chăm, công trình tiêu biểu được ghi nhận là "Đời sống văn hoá và xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh" của Phú Văn Hẳn (2005), phân tích sự thích ứng và biến đổi văn hóa của cư dân Chăm trong môi trường đô thị.

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm ở Việt Nam và Ninh Thuận. Tác giả điểm lại nghiên cứu của Ngô Văn Doanh ("Văn hoá Chămpa", "Văn hoá cổ Chămpa") về lịch sử, tôn giáo, kiến trúc và âm múa; Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991, "Văn hoá Chăm") mô tả nguồn gốc, cơ cấu xã hội; Nguyễn Văn Kự (2007) khảo sát hệ thống hình ảnh di sản, điêu khắc Chăm; Sakaya / Trương Văn Món (2010, "Văn hóa Chăm – nghiên cứu và phê bình") phân tích nghệ thuật biểu diễn; Trung tâm UNESCO nghiên cứu và bảo tồn văn hóa Chăm (2013); Phan Quốc Anh, Phú Văn Hẳn, Bùi Đức Hùng, Võ Công Nguyện (2016, "40 năm nghiên cứu văn hoá Chăm"); Inra Jaka (2017, "Hành trình văn hoá Chăm") khảo cứu ca múa nhạc và các điệu múa lễ; Đổng Thành Danh (2021) nghiên cứu biểu tượng và cấu trúc thực hành văn hóa; Inrasara (1999) đề cập biến đổi chữ viết và nghề dệt; Hội Dân tộc học – Nhân học TP.HCM (2014); Phan Văn Dốp, Phan Quốc Anh, Nguyễn Thị Thu (2014, "Văn hóa phi vật thể người Chăm Ninh Thuận") thống kê các hình thái múa; Lê Xuân Lợi, Sử Văn Ngọc, Thập Liên Trưởng, Nguyễn Ứng (2022) khảo cứu các nghi lễ như Ramâwan, Katé, đâm trâu núi Đá Trắng; Võ Văn Hòe, Trần Hồng, Hồ Tấn Tuấn (2015) phân tích sự giao thoa nghệ thuật múa dân gian Việt - Chăm.

Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu trực tiếp về nghệ thuật múa Chăm.

  • Về múa Chăm tổng quan: Lê Ngọc Canh với "Nghệ thuật múa Chàm" (1982) phân tích mối quan hệ giữa điêu khắc và múa, vai trò của thần Shiva, các hình thái múa; Lê Ngọc Canh và Tô Đông Hải (1995, "Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm"); Lê Ngọc Canh (2003, "Đại cương nghệ thuật múa").
  • Về múa dân gian và giáo trình đào tạo: Lâm Tô Lộc (1979, "Múa dân gian các dân tộc Việt Nam") phân tích điệu múa Vãi chài, múa Quạt, múa Đoa pụ và múa Bóng; Phạm Minh Phương và Vũ Thị Phương Anh (2016, "Giáo trình múa dân gian dân tộc Chăm") chuẩn hóa hệ thống 21 động tác cơ bản phục vụ đào tạo diễn viên chuyên nghiệp.
  • Về múa tín ngưỡng và múa cung đình: Lê Ngọc Canh (1998, "Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam"); Đặng Hùng (1998, "Bước đầu tìm hiểu phục hồi múa cung đình Chăm") đối sánh động tác múa Đạp lửa, Vãi chài với điêu khắc cổ.
  • Về địa bàn Ninh Thuận và điêu khắc: Nguyễn Thị Hội An (luận văn Thạc sĩ) nghiên cứu động tác múa tại Hữu Đức, Đô Vinh, Bàu Trúc; Đinh Thu Hà (2011) khảo cứu hình tượng múa qua điêu khắc; Nguyễn Thúy Nga (2017, luận án Tiến sĩ) xác định 03 phong cách múa qua điêu khắc Chămpa gồm Shiva, Trà Kiệu và Tháp Mắm.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đa phần tiếp cận múa Chăm dưới góc độ miêu tả hình thái động tác hoặc xem múa là một thành tố phụ trong lễ nghi. Chưa có công trình nào vận dụng lý thuyết chức năng để phân tích toàn diện vai trò của múa Chăm trong đời sống văn hóa, đồng thời theo dõi sự dịch chuyển chức năng từ không gian truyền thống sang bối cảnh đương đại tại địa bàn trọng điểm Ninh Thuận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên nền tảng Lý thuyết chức năng (Functionalism), kế thừa quan điểm của Bronisław Malinowski và A.R. Radcliffe-Brown:

  • Quan điểm của B. Malinowski: Văn hóa là một hệ thống cân bằng đáp ứng các nhu cầu cơ bản, nhu cầu xã hội của con người. Tác giả luận án vận dụng quan điểm này để xem múa Chăm như một phương thức thỏa mãn nhu cầu tâm linh, sinh hoạt và kinh tế của cộng đồng Chăm tại Ninh Thuận.
  • Quan điểm của Radcliffe-Brown: Cấu trúc - chức năng xem xã hội như một cơ thể sống, nghiên cứu sự vận hành và mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố đối với chỉnh thể. Luận án ứng dụng để phân tích mối tương quan giữa múa Chăm với cấu trúc làng (palei) và gia đình mẫu hệ (gaoksang).

Các khái niệm công cụ được định nghĩa cụ thể trong văn bản:

  • Múa Chăm: Loại hình nghệ thuật truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa, tín ngưỡng, lịch sử, phản ánh quan niệm thẩm mỹ thông qua ngôn ngữ cơ thể, kết hợp âm nhạc và trang phục Chăm.
  • Múa dân gian Chăm: Hình thái múa do nhân dân sáng tạo, truyền dạy qua nhiều thế hệ, thực hành chủ yếu trong hội hè, nghi lễ, có cấu trúc luật động đơn giản nhưng nghiêm ngặt về phong cách.
  • Múa tín ngưỡng tôn giáo Chăm (múa thiêng): Hình thái múa do các chức sắc, thầy lễ (Ôn Duôn, Ôn Ing, Ôn Kadhar, Muk Rija, Muk Pajâu) thực hiện nhằm giao tiếp với thần linh, gắn liền với các lễ cúng bắt buộc (múa bóng, đạp lửa, thoát y, dâng lễ).
  • Múa Chăm mới: Thể loại múa sáng tạo trong thời kỳ hiện đại dựa trên chất liệu truyền thống, có sự cải biên về luật động, đội hình, phục trang, nội dung phản ánh đời sống mới.
  • Đời sống văn hóa: Bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu con người; luận án giới hạn khảo sát ở 03 khía cạnh: đời sống tâm linh, đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế.
  • Biến đổi và Chức năng: Khảo sát các biến đổi nội sinh, ngoại sinh của múa Chăm; xem xét chức năng theo các đặc tính xã hội, lịch sử, đa nghĩa và phức tạp.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp tiếp cận liên ngành (văn hóa học, nhân học văn hóa, dân tộc học) với các kỹ thuật thu thập và xử lý dữ liệu:

  1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý văn bản, kỷ yếu, báo cáo hành chính của địa phương (Nghị quyết 115/NQ-CP, Kế hoạch 7116/KH-UBND, Kế hoạch 2506/KH-UBND).
  2. Phương pháp hồi cố: Áp dụng phỏng vấn nghệ nhân và thầy lễ để phục dựng lại thông tin các điệu múa trong các nghi lễ đã ngưng trệ nhiều năm, điển hình là Lễ cúng trâu tại núi Đá Trắng của dòng họ Yang Ing (lần tổ chức gần nhất là năm 1997).
  3. Phương pháp khảo sát điền dã: Quan sát tham dự, ghi âm, ghi hình hoạt động trình diễn múa tại các làng Hữu Đức, Thành Ý, Hậu Sanh, Bàu Trúc, Bỉnh Nghĩa.
  4. Phương pháp điều tra xã hội học:
    • Định tính: Phỏng vấn sâu các nhà quản lý Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận, diễn viên Đoàn Nghệ thuật Dân gian Chăm tỉnh, chủ nhiệm đội văn nghệ các xã.
    • Định lượng: Sử dụng 02 mẫu phiếu hỏi với tổng dung lượng 355 phiếu, cơ cấu phân bổ như sau:
Nhóm đối tượng điều tra Địa bàn / Đơn vị khảo sát Số lượng phiếu
Mẫu 01: Người trực tiếp thực hành múa Chăm (55 phiếu) Làng Hữu Đức 10
Làng Thành Ý 10
Làng Hậu Sanh 10
Làng Bàu Trúc 10
Làng Bỉnh Nghĩa 05
Đoàn Nghệ thuật Dân gian Chăm tỉnh Ninh Thuận 10
Mẫu 02: Người hưởng thụ nghệ thuật múa Chăm (300 phiếu) Cư dân người Chăm tại các địa phương (40 phiếu/làng x 5 làng) 200
Cư dân người Kinh sinh sống tại địa bàn (20 phiếu/làng x 5 làng) 100
Tổng cộng 355

Về cơ cấu quê quán của mẫu người hưởng thụ nghệ thuật múa Chăm: 67,3% là cư dân quê gốc Ninh Thuận; 5,3% quê Hà Nội, Phú Thọ, Vũng Tàu; 4,0% quê Phan Thiết; 2,7% lần lượt quê ở Bình Định, Đà Lạt, Thanh Hóa, Yên Bái; 2,0% quê Nam Định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về dân tộc Chăm ở Ninh Thuận

Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu, khung lý thuyết chức năng luận và phân tích bối cảnh địa bàn nghiên cứu. Người Chăm (Urang Campa) thuộc nhóm ngữ tộc Mã Lai - Đa Đảo (Austronesia). Theo Tổng điều tra dân số năm 2019, cả nước có 178.948 người Chăm, trong đó Ninh Thuận tập trung đông nhất với 67.517 người (chiếm 41,6% tổng số người Chăm tại Việt Nam, chiếm 11,43% dân số tỉnh). Người Chăm tại Ninh Thuận gồm các nhóm: Chăm Ahier (ảnh hưởng Bàlamôn giáo), Chăm Awal/Bani (Hồi giáo Chăm hóa), Chăm Islam (Hồi giáo chính thống) và Chăm Jat (tín ngưỡng bản địa thuần túy).

Điều kiện tự nhiên Ninh Thuận khô hạn, nắng gió gay gắt (bốc hơi gấp 1,16 lần lượng mưa), địa hình núi chiếm 63,2%, đồi bán sơn địa 14,4%, đồng bằng ven biển 22,4%. Khí hậu khắc nghiệt phản ánh trực tiếp vào nghệ thuật múa qua các nghi lễ cầu đảo dập tắt nắng nóng như múa Đạp lửa, múa Ngậm lửa, nghi thức cầu mưa (Palao - Paralao Pasah). Về tổ chức xã hội, người Chăm cư trú ở 22 làng (palei), duy trì chế độ mẫu hệ (gaoksang, po sang, akaok gep), vận hành bằng luật tục (Adat). Về văn hóa vật thể, Ninh Thuận có hệ thống tháp Chăm (Bimong - Kalan) gồm 19 khu với 40 kiến trúc, là không gian thiêng liêng diễn ra các nghi lễ có múa Chăm.

Chương 2: Múa Chăm trong đời sống văn hóa truyền thống của cư dân Ninh Thuận

Chương 2 khảo sát bối cảnh hình thành và diện mạo của múa Chăm truyền thống. Nghệ thuật múa Chăm khởi nguồn từ lao động sản xuất nông nghiệp, tín ngưỡng đa thần vạn vật hữu linh và sự tiếp biến hình tượng thần Shiva múa (Nataraja) trong Ấn Độ giáo. Trong đời sống tâm linh, múa gắn liền với các nghi lễ đền tháp và nghi lễ dòng họ (Rija prong, Rija yâup, Rija haray, Katé, cúng Yuer Yang). Các nhân vật điều hành và thực hành múa lễ là chức sắc tín ngưỡng: Ôn Duôn (chủ lễ dùng trống Baranưng), Ôn Ing, Ôn Kadhar (hát ca ngợi thần linh với đàn Kanhi), Muk Rija và Muk Pajâu (nữ chức sắc phụ trách dâng lễ và múa lễ). Các điệu múa thiêng tiêu biểu gồm: múa bóng, múa âm dương, múa thoát y, múa dâng lễ, múa đạp lửa.

Trong đời sống sinh hoạt, múa Chăm thể hiện tính chất thế tục, bình dị qua các điệu múa đạo cụ: múa quạt, múa khăn, múa đội lu nước (Đoa pụ), múa vãi chài, múa chèo thuyền, múa roi, múa kiếm (carit), múa đực cái (klai klik). Tác giả khái quát 05 chức năng cơ bản của múa Chăm truyền thống:

  1. Chức năng tâm linh: Công cụ giao tiếp, kết nối con người với thần linh và tổ tiên.
  2. Chức năng giáo dục: Trao truyền đạo lý, lịch sử dân tộc và khuôn mẫu ứng xử của cộng đồng.
  3. Chức năng nhận thức: Giúp cộng đồng hiểu biết về môi trường tự nhiên, mùa vụ sản xuất.
  4. Chức năng giải trí: Giải tỏa áp lực tâm lý sau thời gian lao động vất vả.
  5. Chức năng cố kết cộng đồng: Củng cố quan hệ họ hàng, làng bản thông qua việc cùng nhau chuẩn bị và thực hành diễn xướng trong hội hè.

Chương 3: Múa Chăm trong đời sống văn hóa đương đại của cư dân Ninh Thuận

Chương 3 phân tích bối cảnh đổi mới kinh tế - xã hội tác động đến múa Chăm. Dưới sức ép của quá trình đô thị hóa và sự xuất hiện của các chính sách phát triển văn hóa, du lịch, múa Chăm có sự biến đổi rõ rệt trong cả 03 không gian:

  • Đời sống tâm linh hiện nay: Các nghi lễ Katé, Rija vẫn được duy trì nhưng một số nghi thức múa bị thu hẹp thời lượng; xuất hiện xu hướng lược bỏ các động tác mang tính thần bí, kéo múa thiêng ra ngoài khuôn viên tháp để phục vụ công chúng.
  • Đời sống văn hóa hiện nay: Múa Chăm bước lên sân khấu hội diễn quần chúng và nghệ thuật chuyên nghiệp với thể loại "múa Chăm mới". Nhiều tác phẩm biên đạo mới đạt giải thưởng cấp quốc gia: "Thiếu nữ Chăm" (Lê Ngọc Canh), "Khát vọng" (Đặng Hùng), "Khúc biến tấu từ những pho tượng cổ" (Ứng Duy Thịnh), "Những cánh hoa chàm" (Nguyễn Minh Phương), "Âm vang tháp cổ" (Hồng Hà), "Tượng tháp" (HCV năm 1995), "Apsara" (HCV năm 1999), "Khát vọng Chapi" (HCB năm 1999), "Gốm thắm tình người" (HCB năm 2012).
  • Đời sống kinh tế hiện nay: Múa Chăm trở thành sản phẩm du lịch trực tiếp tại làng gốm Bàu Trúc, tháp Po Klong Garai. Đáng chú ý, các nghệ nhân múa Chăm từ Ninh Thuận đã di chuyển đến biểu diễn định kỳ tại các khu di sản ngoại tỉnh như di sản Mỹ Sơn (Quảng Nam) và tháp Bà Ponagar (Nha Trang, Khánh Hòa).

Từ thực tiễn trên, luận án chỉ ra sự chuyển dịch: các chức năng tâm linh và sinh hoạt có xu hướng biến đổi thích nghi; đồng thời xuất hiện các chức năng mới bổ sung gồm chức năng kinh tế - du lịch, chức năng tổ chức sự kiện và chức năng giao lưu, quảng bá văn hóa đối ngoại.

Chương 4: Bàn luận về sự thay đổi chức năng của múa Chăm ở Ninh Thuận trong bối cảnh đương đại

Chương 4 tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm thu được từ 355 phiếu điều tra và phỏng vấn sâu:

Dữ liệu điều tra xã hội học:

  • Tỷ lệ cư dân thích xem múa Chăm (Biểu đồ 4.1) và mức độ tương quan lựa chọn giữa múa Chăm truyền thống và múa biên đạo mới (Biểu đồ 4.2, trang 137).
  • Về địa điểm xem múa (Bảng 4.1): Cư dân chủ yếu xem múa tại sân tháp trong dịp lễ hội Katé, sân vận động làng hoặc tại các điểm du lịch như làng gốm Bàu Trúc.
  • Về nghề nghiệp người biểu diễn múa (Bảng 4.2): Phần lớn người biểu diễn không phải diễn viên chuyên nghiệp mà là nông dân, thợ làm gốm, học sinh, sinh viên tham gia đội văn nghệ phong trào; chỉ một số ít thuộc biên chế Đoàn Nghệ thuật Dân gian Chăm tỉnh.
  • Tương quan độ tuổi của người xem (Bảng 4.3): Nhóm người cao tuổi có xu hướng gắn bó với múa truyền thống trong nghi lễ; thế hệ trẻ ưa thích các tiết mục múa biên đạo mới có tiết tấu nhanh, trang phục cách điệu.
  • Khả năng chi trả kinh phí của cư dân khi xem múa Chăm (Biểu đồ 4.3, trang 139): Phần lớn người dân nông thôn xem miễn phí trong hội làng, trong khi khách du lịch sẵn sàng chi trả chi phí dịch vụ xem biểu diễn.

Những tác động từ sự thay đổi chức năng:

  • Mặt tích cực: Tạo sinh kế, tăng thêm thu nhập cho nghệ nhân qua dịch vụ du lịch; khích lệ thanh thiếu niên Chăm học múa dân tộc; nâng cao nhận thức bảo tồn di sản của cộng đồng; tăng cường sự giao lưu, gắn kết văn hóa giữa người Chăm và người Kinh.
  • Mặt tiêu cực: Môi trường diễn xướng linh thiêng bị thương mại hóa; động tác múa cổ truyền có nguy cơ bị cải biên tùy tiện, pha tạp kỹ thuật hiện đại làm mất bản sắc gốc; việc biểu diễn liên tục phục vụ du khách dễ dẫn đến sự đơn điệu, cơ học, làm phai nhạt ý nghĩa biểu tượng tâm linh của múa thiêng.

Những vấn đề đặt ra: Luận án nêu lên yêu cầu giải quyết hài hòa giữa bảo tồn nguyên dạng các điệu múa thiêng trong nghi lễ và khuyến khích sáng tạo múa Chăm mới phục vụ đời sống đương đại; cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân dân gian và quản lý việc biểu diễn múa Chăm trong hoạt động du lịch.

Kết quả và những đóng góp mới

Bản luận án tự nêu các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về lý luận: Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên ứng dụng lý thuyết chức năng luận để giải mã nghệ thuật múa Chăm trong tiến trình vận động văn hóa tại Ninh Thuận. Công trình xây dựng được khung phân tích chức năng của múa Chăm qua hai trục thời gian: truyền thống (với 05 chức năng: tâm linh, giáo dục, nhận thức, giải trí, cố kết cộng đồng) và đương đại (sự biến chuyển chức năng cũ và bổ sung chức năng kinh tế, du lịch, sự kiện, đào tạo).
  2. Về thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan thông qua hệ thống số liệu điều tra xã hội học (355 phiếu) tại 05 làng Chăm tiêu biểu và Đoàn Nghệ thuật Dân gian Chăm tỉnh Ninh Thuận. Kết quả khảo sát phản ánh thực trạng hưởng thụ, nhu cầu xem múa, cơ cấu nghề nghiệp của người biểu diễn và sự chuyển dịch không gian múa sang các trung tâm du lịch (Bàu Trúc, Mỹ Sơn, Ponagar).
  3. Khuyến nghị và giải pháp:
    • Các cơ quan quản lý văn hóa nhà nước cần kiểm soát ranh giới giữa múa nghi lễ và múa giải trí du lịch, tránh hiện tượng trần tục hóa các điệu múa thiêng.
    • Xây dựng cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các nghệ nhân truyền dạy múa cổ truyền trong palei Chăm.
    • Khuyến khích các biên đạo múa sáng tác tác phẩm mới dựa trên việc tôn trọng nguyên tắc văn hóa truyền thống (trang phục kín đáo, động tác mềm mại, đúng phong cách Chăm).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn nghiên cứu:

  • Về đối tượng cộng đồng: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu nghệ thuật múa của nhóm Chăm Ahier (Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo), chưa khảo sát sâu và toàn diện nghệ thuật múa của nhóm Chăm Awal/Bani, Chăm Islam hay nhóm Chăm Jat.
  • Về phạm vi địa bàn: Mẫu khảo sát định lượng chỉ giới hạn trong phạm vi tỉnh Ninh Thuận (tại 05 làng), chưa mở rộng so sánh định lượng với cộng đồng Chăm sinh sống tại tỉnh Bình Thuận, An Giang hay TP. Hồ Chí Minh.
  • Về khung thời gian điền dã: Dữ liệu thực nghiệm đương đại tập trung thu thập từ năm 2018 trở lại đây, do đó việc so sánh biến thiên số liệu định lượng với các giai đoạn lịch sử trước năm 2018 chủ yếu dựa trên nguồn tài liệu hồi cố và thống kê thứ cấp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu so sánh nghệ thuật múa giữa các nhóm Chăm Ahier, Chăm Bani và Chăm Islam trên toàn quốc, hoặc nghiên cứu sâu về sự tiếp biến múa Chăm trong không gian sân khấu đương đại quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án mang giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Nghệ thuật học: Tham khảo khung lý thuyết chức năng luận ứng dụng trong nghiên cứu nghệ thuật trình diễn dân gian; tham khảo hệ thống thuật ngữ, khái niệm về múa thiêng, múa dân gian Chăm và bảng thống kê các nghi lễ Chăm truyền thống.
  • Các nhà quản lý văn hóa, hoạch định chính sách tại địa phương: Sử dụng các dữ liệu khảo sát thực tế tại Ninh Thuận để xây dựng kế hoạch bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, quản lý hoạt động du lịch văn hóa gắn với bảo tồn palei Chăm theo tinh thần các Kế hoạch số 7116/KH-UBND và Kế hoạch số 2506/KH-UBND của UBND tỉnh Ninh Thuận.
  • Biên đạo múa, giảng viên đào tạo múa dân tộc: Tham khảo tư liệu về các điệu múa đạo cụ, múa nghi lễ và các quy tắc thẩm mỹ truyền thống nhằm phục vụ sáng tác tác phẩm múa mới và giảng dạy chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định múa Chăm có những chức năng cốt lõi nào trong đời sống truyền thống?
Trong đời sống văn hóa truyền thống, luận án xác định múa Chăm đảm nhiệm 05 chức năng chính: chức năng tâm linh (giao tiếp với thần linh, giải tỏa âu lo), chức năng giáo dục (trao truyền đạo lý và khuôn mẫu ứng xử), chức năng nhận thức (phản ánh chu kỳ tự nhiên, mùa vụ), chức năng giải trí (mua vui, giải tỏa căng thẳng sau lao động) và chức năng cố kết cộng đồng (gắn kết các gia đình mẫu hệ và cư dân trong palei).

2. Bối cảnh đương đại đã bổ sung những chức năng mới nào cho nghệ thuật múa Chăm?
Trong xã hội đương đại, ngoài sự biến đổi của chức năng tâm linh và sinh hoạt, múa Chăm được bổ sung các chức năng mới gồm: chức năng kinh tế - du lịch (trở thành sản phẩm dịch vụ phục vụ du khách), chức năng gắn với tổ chức sự kiện lễ hội hiện đại, chức năng phục vụ phong trào văn nghệ quần chúng và chức năng biểu diễn, sáng tác, đào tạo chuyên nghiệp.

3. Khảo sát xã hội học của luận án được thực hiện với quy mô và phân bổ mẫu ra sao?
Khảo sát thực hiện bằng bảng hỏi với tổng số 355 phiếu, chia làm 02 mẫu:

  • Mẫu 01 (55 phiếu): Người trực tiếp thực hành múa tại 05 làng (Hữu Đức 10, Thành Ý 10, Hậu Sanh 10, Bàu Trúc 10, Bỉnh Nghĩa 05) và Đoàn Nghệ thuật Dân gian Chăm tỉnh (10 phiếu).
  • Mẫu 02 (300 phiếu): Người hưởng thụ nghệ thuật múa gồm 200 cư dân Chăm (40 phiếu/làng) và 100 cư dân Kinh (20 phiếu/làng).

4. Vì sao tác giả luận án tập trung khảo sát chủ yếu nhóm người Chăm Ahier?
Luận án lựa chọn người Chăm Ahier (Chăm ảnh hưởng đạo Bàlamôn) vì đây là bộ phận chiếm số đông trong cộng đồng người Chăm tại Ninh Thuận, bảo lưu được hệ thống nghi lễ đền tháp phong phú và có văn hóa bản địa truyền thống lâu đời với các hình thái múa nghi lễ còn nguyên vẹn nhất.

5. Phương pháp hồi cố được tác giả ứng dụng cụ thể trong trường hợp nào?
Phương pháp hồi cố được sử dụng để nhận diện các điệu múa trong Lễ cúng trâu tại núi Đá Trắng (cek Yang Patao) của dòng họ Yang Ing. Nghi lễ này có chu kỳ 7 năm tổ chức một lần nhưng do thiếu kinh phí nên từ năm 1997 đến nay chưa thể tái hiện; tác giả đã phỏng vấn sâu các nghệ nhân cao tuổi từng thực hành để ghi chép lại các điệu múa đã ngưng diễn xướng.

Kết luận

Luận án "Múa Chăm trong đời sống văn hóa của cư dân Ninh Thuận" của NCS. Nguyễn Khánh Ngọc là công trình nghiên cứu hệ thống về nghệ thuật múa Chăm dưới góc nhìn văn hóa học và lý thuyết chức năng. Bằng việc kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học thực nghiệm tại 05 làng Chăm tiêu biểu, tác giả đã làm rõ diện mạo, chức năng của múa Chăm trong truyền thống cũng như sự chuyển dịch, thích ứng chức năng của loại hình nghệ thuật này trong nền kinh tế thị trường và hoạt động du lịch đương đại. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật có độ xác thực cao, hỗ trợ công tác quản lý di sản, hoạch định chính sách bảo tồn văn hóa Chăm tại tỉnh Ninh Thuận.