Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của chúng (So sánh với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Bùi Thị Mỹ Linh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Dũng, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 62220240), bảo vệ năm 2022 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, nhóm từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) là đối tượng khảo sát quen thuộc nhưng phần lớn các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận theo khuynh hướng ngữ nghĩa học truyền thống. Các nghiên cứu vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận thường tập trung sâu vào ẩn dụ ý niệm (ADYN) hơn hoán dụ ý niệm (HDYN), hoặc chỉ khảo sát đối chiếu tiếng Hàn với tiếng Anh, tiếng Trung và giới hạn ở một vài từ ngữ chỉ BPCTN riêng lẻ qua các thể loại diễn ngôn nhất định.

Về mặt loại hình học, tiếng Hàn là ngôn ngữ chắp dính trong khi tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, song hai cộng đồng ngôn ngữ lại chia sẻ nhiều giá trị văn hóa phương Đông tương đồng. Bên cạnh đó, quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hàn Quốc phát triển nhanh chóng: năm 1994 Việt Nam mới có một cơ sở đào tạo tiếng Hàn đầu tiên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2019 đã mở rộng lên 33 cơ sở giáo dục bậc đại học và cao đẳng trên toàn quốc (Nguyễn Thị Hiền, 2019). Do đó, việc nghiên cứu toàn diện nhóm từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận (bao quát cả ADYN và HDYN) trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt đáp ứng yêu cầu cấp thiết về mặt lý thuyết và ứng dụng thực tiễn dạy học, dịch thuật.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục đích nghiên cứu chính:

  1. Tìm hiểu số lượng, mức độ xuất hiện, khuynh hướng kết hợp của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn; từ đó tìm hiểu điểm giống nhau và khác nhau ở các phương diện này trên nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  2. Tìm hiểu những mô hình ADYN và HDYN trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn; từ đó tìm hiểu điểm giống nhau và khác nhau trong các mô hình này trên nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  3. Đưa ra những căn cứ lý giải mang tính khoa học để lý giải cho các mô hình ADYN và HDYN cũng như những điểm giống và khác nhau trong cách tri nhận của hai dân tộc.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tác giả đề ra 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo sát, thống kê số lượng, tần số, cách thức xuất hiện của các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  2. Xác lập các mô hình ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định vị và ẩn dụ bản thể trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  3. Xác lập các mô hình hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận, mô hình sự kiện, mô hình phạm trù và thuộc tính trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  4. Phân loại và thống kê từng miền nguồn, miền đích, miền thực thể, miền phương tiện trong các mô hình ADYN và HDYN trên nguồn dữ liệu thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và so sánh đối chiếu với nguồn dữ liệu tương đương trong tiếng Việt.
  5. Đưa ra các căn cứ khoa học về văn hóa, phương thức sinh hoạt, quan điểm về giới của người Hàn và người Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong các đơn vị thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt. Những từ ngữ chỉ BPCTN nhưng không xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ không thuộc đối tượng khảo sát.
  • Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ các đơn vị thành ngữ, tục ngữ thu thập từ các bộ từ điển thành ngữ, tục ngữ chính thống của tiếng Hàn và tiếng Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu đi trước

Khung lý thuyết nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận được thiết lập qua các công trình của Lakoff & Johnson (1980), Lakoff & Turner (1989), Kövecses & Radden (1998), Barcelona (2003), Kövecses (2010). Các tác giả đã chỉ ra các mô hình tri nhận kinh điển liên quan đến BPCTN như TỨC GIẬN LÀ CHẤT LỎNG, BPCTN LÀ VẬT CHỨA, BPCTN THAY CHO CON NGƯỜI.

Ning Yu (2009) khi phân tích ý niệm "tâm (xin)" trong tiếng Hán đối chiếu với phương Tây đã chỉ ra quan điểm nhất nguyên (monism) của phương Đông coi "tâm" đại diện cho cả cảm xúc lẫn lý trí, trong khi phương Tây theo quan điểm nhị nguyên (dualism) phân định "heart" (cảm xúc) và "head" (lý trí).

Tại Hàn Quốc, các nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận phát triển từ thập niên 1980 và sôi động từ những năm 2000:

  • Lim Ji-rong (2008) hệ thống hóa khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu tiếng Hàn, chỉ ra các hướng mở rộng nghĩa ẩn dụ (đầu $\rightarrow$ não, trí tuệ; mắt $\rightarrow$ ánh nhìn, sự quan tâm; mũi $\rightarrow$ cố chấp; miệng $\rightarrow$ lời nói; bàn tay $\rightarrow$ giúp đỡ; vai $\rightarrow$ trách nhiệm; ngực/tim $\rightarrow$ tấm lòng, suy nghĩ) và hoán dụ (đầu $\rightarrow$ người chịu trách nhiệm; mắt $\rightarrow$ khả năng phán đoán; cổ $\rightarrow$ chức trách, sĩ khí; lưng/tay/chân $\rightarrow$ mối quan hệ).
  • Kim Hyang-suk (2001) khảo sát ADYN cảm xúc (buồn, giận, sợ hãi, yêu thương, ghen ghét) trong thành ngữ tiếng Hàn.
  • Choi Ji-hoon (2007) khảo sát 982 thành ngữ tiếng Hàn chứa từ ngữ chỉ BPCTN, phân tích ADYN vật chứa, định vị, bản thể và một số mô hình HDYN sự kiện, biến đổi sinh lý.
  • Jin-jeong (2008) nghiên cứu 20 từ ngữ chỉ nội tạng trong 130 thành ngữ tiếng Hàn, phân tích ẩn dụ vật chứa, định vị và hoán dụ bộ phận thay cho toàn thể.
  • Các công trình đối chiếu tiếng Hàn với ngôn ngữ khác gồm: Jin Jeong-jeong (2011, tiếng Nhật), Cho Chan-suk (2002), Hyang Mi-seo (2012, tiếng Anh), Lee Jae-shin (2017, tiếng Trung), Rou Seung-yoan & Kim Keum-hyun (2015, tiếng Mã Lai). Riêng so sánh Hàn - Việt có luận văn của Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2013) giới hạn ở ADYN cảm xúc với dung lượng ngữ liệu hẹp (154 thành ngữ tiếng Hàn và 53 thành ngữ tiếng Việt).
  • Khảo sát trên hệ thống Riss.kr (tính đến ngày 13/01/2022) cho thấy trong các nghiên cứu so sánh đối chiếu về ADYN và HDYN của tiếng Hàn, hướng đối chiếu với tiếng Trung chiếm 63%, với tiếng Anh chiếm 24%, trong khi đối chiếu với tiếng Việt chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Tại Việt Nam, các công trình tiêu biểu gồm:

  • Nguyễn Ngọc Vũ (2008) nghiên cứu thành ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Trịnh Sâm (2014) khảo sát ý niệm "tim" và nguyên lý nhất nguyên đa vị trong tiếng Việt (5 bộ phận bụng, dạ, gan, lòng, ruột đều biểu đạt tình cảm, lý trí).
  • Liễu Thị Thanh Nhàn (2018) khảo sát tục ngữ và ca dao tiếng Việt - tiếng Hán.
  • Trần Thị Hiền (2018) khảo sát các ý niệm cảm xúc giận và buồn qua từ ngữ chỉ BPCTN.
  • Các nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Phương (2009), Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nguyễn Văn Hải (2016), Nguyễn Thị Hiền (2017).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  1. Chưa có công trình nào so sánh tổng hợp từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ và tục ngữ tiếng Hàn với tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận.
  2. Chưa có công trình nào khảo sát trên nguồn ngữ liệu tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong sự đối chiếu Hàn - Việt.
  3. Các công trình trước đây khảo sát dung lượng ngữ liệu hạn chế (công trình lớn nhất đạt 982 đơn vị) và thường thiên lệch về ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ vật chứa, xem nhẹ hoặc bỏ qua các mô hình hoán dụ ý niệm cũng như chưa khảo sát toàn diện về số lượng, tần số và cách thức kết hợp của từ ngữ chỉ BPCTN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Quan niệm truyền thống và quan niệm tri nhận về ẩn dụ, hoán dụ:
    • Ngôn ngữ học truyền thống: Ẩn dụ và hoán dụ là phương thức chuyển tên gọi; ẩn dụ dựa trên quan hệ tương đồng (similarity), hoán dụ dựa trên quan hệ tương cận (contiguity/proximity). Aristotle phân chia 4 loại chuyển đổi tên gọi; F. de Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói dẫn đến sự phân chia ẩn dụ/hoán dụ sống (lời nói) và ẩn dụ/hoán dụ chết (ngôn ngữ).
    • Ngôn ngữ học tri nhận: Ẩn dụ và hoán dụ là công cụ tư duy và phương thức tri nhận thế giới. Ẩn dụ diễn ra giữa hai miền ý niệm (miền nguồn - source domain và miền đích - target domain) theo cơ chế ánh xạ (mapping). Hoán dụ diễn ra trong cùng một miền ý niệm hay mô hình tri nhận lý tưởng (ICM) giữa thực thể phương tiện (vehicle entity) và thực thể mục tiêu (target entity).
Tiêu chí phân biệt Ẩn dụ ý niệm (ADYN) Hoán dụ ý niệm (HDYN)
Phạm vi miền ý niệm Diễn ra trong hai miền ý niệm / ICM khác nhau Diễn ra trong cùng một miền ý niệm / ICM
Chức năng chính Dùng quan niệm về thực thể này để hiểu thực thể khác Chức năng quy chiếu, dùng thực thể này thay cho thực thể khác
Mối quan hệ Quan hệ "là-cái này (is-a)" Quan hệ "thay thế (stand-for)"
Cơ chế liên kết Tương đồng giữa miền nguồn và miền đích Tương cận / tiếp giáp giữa phương tiện và mục tiêu
  • Phân loại ADYN: Luận án áp dụng cách phân loại theo chức năng của Lakoff & Johnson (1980) và Kövecses (2010), gồm:
    • Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphors): Cấu trúc hóa ý niệm này qua ý niệm khác.
    • Ẩn dụ định vị (orientational metaphors): Tổ chức hệ thống ý niệm theo định hướng không gian (thẳng đứng: lên - xuống, trên - dưới; nằm ngang: trước - sau, trong - ngoài).
    • Ẩn dụ bản thể (ontological metaphors): Gồm ẩn dụ thực thể và ẩn dụ vật chứa (container metaphors).
  • Phân loại HDYN: Áp dụng mô hình chỉnh thể và bộ phận (Whole and Part ICM) của Kövecses & Radden (1998), triển khai qua 3 mô hình cụ thể:
    • Mô hình toàn thể và bộ phận (thing and part ICM).
    • Mô hình sự kiện (event ICM).
    • Mô hình phạm trù và thuộc tính (category and property ICM).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Thu thập, phân loại và định lượng số lượng từ ngữ chỉ BPCTN, tần số xuất hiện, cách thức kết hợp (độc lập, tổ hợp lặp, tổ hợp không lặp) trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt.
  2. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Xác lập các mô hình tri nhận ADYN và HDYN, phân tích cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích, miền phương tiện và miền mục tiêu, gắn liền với các yếu tố văn hóa - xã hội.
  3. Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu hệ thống số liệu, các mô hình tri nhận và phương thức ý niệm hóa giữa tiếng Hàn và tiếng Việt nhằm làm rõ các nét tương đồng và dị biệt văn hóa - tri nhận.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tư liệu tiếng Hàn: Thu thập từ 4 nguồn chính:
    1. Từ điển Quốc ngữ mới DongA bản thứ 5 (2009).
    2. Đại từ điển tục ngữ tiếng Hàn (2015).
    3. Từ điển thành ngữ (1996).
    4. Trang điện tử chính thức Korean.kr của Viện Ngôn ngữ Quốc gia (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc).
  • Tư liệu tiếng Việt: Thu thập từ 4 nguồn chính:
    1. Đại từ điển tiếng Việt (2011).
    2. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2018).
    3. Thành ngữ tiếng Việt (1978).
    4. Từ điển tục ngữ tiếng Việt (2010).
  • Quy mô ngữ liệu khảo sát: Tổng cộng thu thập được 2.346 đơn vị thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và 1.623 đơn vị thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (được biên soạn thành tập phụ lục dày 290 trang).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 1 trình bày lịch sử phát triển lý thuyết về ẩn dụ và hoán dụ từ góc độ tu từ học truyền thống sang ngôn ngữ học tri nhận hiện đại. Tác giả làm rõ bản chất của quá trình ánh xạ ý niệm, xác định ranh giới và mối quan hệ giao thoa giữa ADYN và HDYN.

Chương này tổng kết 4 cách phân loại ẩn dụ của Kövecses (2010) (theo tính quy ước, tính chất, mức độ tổng quát, chức năng) và lựa chọn phân loại theo chức năng (cấu trúc, định vị, bản thể) làm khung phân tích cho ngữ liệu luận án. Về hoán dụ, tác giả trình bày mô hình chỉnh thể và bộ phận của Kövecses & Radden (1998), từ đó lựa chọn 3 mô hình thao tác: toàn thể - bộ phận, sự kiện, phạm trù - thuộc tính để làm cơ sở phân tích thực nghiệm ở các chương sau.

Chương 2: Số lượng, tần số và cách thức xuất hiện của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn (So sánh với tiếng Việt)

Chương 2 thực hiện khảo sát định lượng toàn diện trên hệ thống từ điển và ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ của hai ngôn ngữ:

  1. Khảo sát số lượng từ ngữ chỉ BPCTN:
    • Trong Từ điển Quốc ngữ mới DongA (2009) có 457 từ ngữ chỉ BPCTN tiếng Hàn; trong Từ điển tiếng Việt (2018) có 222 từ ngữ chỉ BPCTN.
    • Số lượng từ ngữ chỉ BPCTN thực tế đi vào thành ngữ, tục ngữ: tiếng Hàn có 192 từ (đạt tỷ lệ 42% trong tổng số 457 từ), tiếng Việt có 110 từ (đạt tỷ lệ 50% trong tổng số 222 từ).
    • Phân bố từ ngữ chỉ BPCTN theo các nhóm giải phẫu:
Nhóm bộ phận cơ thể Tiếng Hàn (Số từ) Tiếng Việt (Số từ)
Nhóm đầu 93 38
Nhóm bụng 42 24
Nhóm tứ chi 30 21
Nhóm khác 27 27
Tổng cộng 192 110
  1. Khảo sát tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ BPCTN:
    • Tổng tần số xuất hiện trong ngữ liệu: tiếng Hàn đạt 2.614 lượt (trong 2.346 câu), tiếng Việt đạt 2.564 lượt (trong 1.623 câu).
Ngôn ngữ Nhóm đầu Nhóm bụng Nhóm tứ chi Nhóm khác Tổng tần số
Tiếng Hàn 1.564 364 423 263 2.614
Tiếng Việt 1.258 472 544 290 2.564
  • Các từ có tần số cao nhất trong tiếng Hàn: 눈 (mắt) xuất hiện 222 lần; 입 (miệng) xuất hiện 206 lần; 손 (bàn tay) xuất hiện 175 lần. Có 52 từ ngữ chỉ xuất hiện 1 lần.
  • Các từ có tần số cao nhất trong tiếng Việt: "tay" xuất hiện 254 lần; "mặt" xuất hiện 243 lần; "chân/chơn" xuất hiện 168 lần; "mắt/con mắt" xuất hiện 168 lần. Có 24 từ ngữ chỉ xuất hiện 1 lần.
  1. Cách thức xuất hiện của từ ngữ chỉ BPCTN:
Ngôn ngữ Xuất hiện độc lập Xuất hiện trong tổ hợp Tổng số đơn vị
Tiếng Hàn 2.115 (90%) 231 (10%) 2.346
Tiếng Việt 732 (45%) 891 (55%) 1.623
  • Xuất hiện độc lập: Tiếng Hàn có 171 từ ngữ xuất hiện độc lập (nhóm đầu chiếm 49%, nhóm bụng 20%, tứ chi 17%, khác 14%; dẫn đầu là 눈 với 192 câu, 입 175 câu, 손 142 câu). Tiếng Việt có 72 từ ngữ xuất hiện độc lập (nhóm đầu chiếm 38%, nhóm bụng 23%, tứ chi 21%, khác 18%; dẫn đầu là "mặt" với 115 câu, "tay" 88 câu, "mắt/con mắt" 71 câu).
  • Tổ hợp lặp:
    • Lặp 1 từ: Tiếng Hàn có 38 câu với 16 từ (kết cấu 배 - 배 nhiều nhất với 9 câu, 입 - 입 5 câu, 코 - 코 3 câu). Tiếng Việt có 146 câu với 23 từ, phân thành 2 dạng: lặp cùng từ (100 câu: "tay - tay" 25 câu, "mắt - mắt" 15 câu, "chân - chân" 15 câu, "mặt - mặt" 12 câu) và lặp từ đồng nghĩa (46 câu: "mồm - miệng" 18 câu, "lòng - ruột" 11 câu, "bụng - dạ" 10 câu, "cốt - xương" 5 câu).
    • Lặp toàn bộ 2 từ: Tiếng Hàn có 5 từ trong 3 câu; tiếng Việt có 9 từ trong 7 câu ("tay - miệng" 3 câu, "da - lông", "lưng - bụng", "tay - ruột", "đầu - mặt").
    • Lặp một phần: Tiếng Hàn có 5 từ trong 3 câu; tiếng Việt có 9 từ trong 5 câu.
  • Tổ hợp đôi không lặp: Tiếng Hàn có 191 câu (kết hợp cùng nhóm có 128 câu: nhóm bụng chiếm 38%, nhóm đầu 34%, tứ chi 21%, khác 7%). Tiếng Việt có 721 câu (gấp gần 4 lần tiếng Hàn; kết hợp cùng nhóm có 421 câu: nhóm đầu chiếm 47%, nhóm bụng 30%, tứ chi 13%, khác 10%).

Chương 3: Ẩn dụ ý niệm của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn (So sánh với tiếng Việt)

Chương 3 đi sâu phân tích ngữ nghĩa và các mô hình ánh xạ tri nhận ADYN qua 3 nhóm mô hình lớn:

  1. Ẩn dụ cấu trúc: Phân tích các ánh xạ biến các BPCTN thành các thực thể cụ thể thuộc đời sống vật chất:
    • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ HÀNG HÓA
    • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ MÓN ĂN
    • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VŨ KHÍ
    • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ VẬT CHIẾU SÁNG
    • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI LÀ TRỤC QUAY TRONG ĐỘNG CƠ
  2. Ẩn dụ định vị: Khảo sát các ý niệm hóa định hướng không gian gắn với trạng thái tâm lý, vị thế xã hội:
    • HƯỚNG THẲNG ĐỨNG (Lên - xuống, trên - dưới, cao - thấp).
    • HƯỚNG NẰM NGANG (Trước - sau, trong - ngoài, gần - xa, trái - phải).
  3. Ẩn dụ bản thể:
    • Ẩn dụ vật chứa: Phân tích cơ thể và các bộ phận như những vật chứa dung nạp các đối tượng cụ thể và trừu tượng:
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA THỨC ĂN
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA THAI NHI
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA CẢM XÚC
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA TÍNH CÁCH
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA LỜI NÓI
      • BPCTN LÀ VẬT CHỨA KIẾN THỨC
    • Ẩn dụ thực thể: Khảo sát các mô hình ý niệm hóa các trạng thái tinh thần vô hình thành vật thể cụ thể:
      • THAM VỌNG LÀ MỘT THỰC THỂ
      • TRÁCH NHIỆM LÀ VẬT NẶNG ĐÈ TRÊN VAI
      • NỖI BUỒN, SỰ LO LẮNG LÀ VẬT ĐÈ NẶNG
      • CẢM XÚC TIÊU CỰC LÀ THỨ GÂY ĐAU ĐỚN
      • CẢM XÚC LÀ MỘT NGỌN LỬA
      • CẢM XÚC LÀ NƯỚC

Chương 4: Hoán dụ ý niệm của từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn (So sánh với tiếng Việt)

Chương 4 khảo sát hệ thống HDYN theo 3 mô hình tri nhận lý tưởng thuộc chỉnh thể và bộ phận:

  1. Hoán dụ theo mô hình toàn thể và bộ phận:
    • Bộ phận thay cho toàn thể:
      • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CON NGƯỜI
      • BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CÁC BÊN THAM GIA
    • Toàn thể thay cho bộ phận:
      • TOÀN THỂ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO PHẦN BỘ PHẬN THUỘC VỀ NÓ
      • TOÀN THỂ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THAY CHO CHỨC NĂNG
  2. Hoán dụ theo mô hình sự kiện:
    • Tiểu sự kiện nối tiếp thay cho toàn bộ sự kiện:
      • TIỂU NGHI LỄ NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ NGHI LỄ
      • TIỂU HOẠT ĐỘNG NỐI TIẾP THAY CHO TOÀN BỘ HOẠT ĐỘNG
    • Tiểu sự kiện đồng xuất hiện thay cho toàn bộ sự kiện:
      • TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO KẾT QUẢ
      • TIỂU SỰ KIỆN ĐỒNG XUẤT HIỆN THAY CHO HÀNH ĐỘNG
  3. Hoán dụ theo mô hình phạm trù và thuộc tính:
    • PHẠM TRÙ THAY CHO THUỘC TÍNH
    • THUỘC TÍNH THAY CHO PHẠM TRÙ

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án khảo sát các mô hình ADYN và HDYN trên một nguồn dữ liệu bao quát, hoàn chỉnh gồm các từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ và tục ngữ tiếng Hàn đối chiếu với tiếng Việt.
  2. Xác định các đặc trưng ngôn ngữ học tri nhận của hệ thống từ ngữ chỉ BPCTN trong thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc, làm rõ cơ chế ánh xạ ý niệm tương đồng và dị biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ chắp dính và đơn lập.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Thiết lập các mô hình ADYN và HDYN làm cơ sở khoa học để giải thích ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ chỉ BPCTN trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
  2. Cung cấp hệ thống tư liệu thành ngữ, tục ngữ đã được phân loại phục vụ việc biên soạn giáo trình, tài liệu học tập cho người Việt học tiếng Hàn và người Hàn học tiếng Việt.
  3. Phần phụ lục dài 290 trang tập hợp 2.346 đơn vị tiếng Hàn và 1.623 đơn vị tiếng Việt là nguồn ngữ liệu tham khảo cho công tác giảng dạy các học phần tiếng Hàn, tiếng Việt, ngôn ngữ học đối chiếu và ngôn ngữ - văn hóa.
  4. Cung cấp ngữ liệu trực tiếp cho việc biên soạn các cuốn từ điển song ngữ Hàn - Việt và Việt - Hàn chuyên về thành ngữ, tục ngữ và từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn ngữ liệu của luận án hoàn toàn dựa trên các bộ từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt đã xuất bản. Trong quá trình thu thập, việc các từ điển có thể tồn tại những trường hợp phân loại chưa hoàn toàn thỏa đáng giữa thành ngữ và tục ngữ là điều khó tránh khỏi, mặc dù dung lượng mẫu lớn (3.969 đơn vị) giúp hạn chế tối đa sai số phân tích.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu các từ ngữ chỉ BPCTN trên các dạng thức diễn ngôn khác như khẩu ngữ giao tiếp hiện đại, tác phẩm văn học đương đại hoặc các thể loại văn hóa dân gian khác ngoài thành ngữ, tục ngữ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung phân tích kết hợp giữa thống kê định lượng hình thức kết hợp từ với phân tích định tính mô hình tri nhận ADYN và HDYN.
  2. Người nghiên cứu và giảng dạy ngành Hàn Quốc học, Việt Nam học: Sử dụng các luận giải về văn hóa, phương thức sinh hoạt, quan điểm về giới và nhân sinh quan ẩn chứa sau các biểu thức thành ngữ, tục ngữ ở Chương 3 và Chương 4.
  3. Chuyên gia biên dịch và người biên soạn từ điển song ngữ: Khai thác phần phụ lục 290 trang được dịch giải nghĩa đen từng chữ < >, nghĩa đen toàn câu [ ] và nghĩa tương đương ( ) theo quy ước chặt chẽ để phục vụ đối dịch chính xác thành ngữ, tục ngữ Hàn - Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng để khảo sát trong luận án gồm những tài liệu nào?

Ngữ liệu tiếng Hàn được thu thập từ 4 nguồn: Từ điển Quốc ngữ mới DongA bản thứ 5 (2009), Đại từ điển tục ngữ tiếng Hàn (2015), Từ điển thành ngữ (1996) và trang Korean.kr của Viện Ngôn ngữ Quốc gia Hàn Quốc. Ngữ liệu tiếng Việt được thu thập từ: Đại từ điển tiếng Việt (2011), Từ điển tiếng Việt (2018), Thành ngữ tiếng Việt (1978) và Từ điển tục ngữ tiếng Việt (2010).

2. Quy mô từ ngữ chỉ BPCTN và số lượng thành ngữ, tục ngữ được thống kê trong hai ngôn ngữ là bao nhiêu?

Tiếng Hàn có 192 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong 2.346 thành ngữ, tục ngữ với tổng tần số 2.614 lượt. Tiếng Việt có 110 từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện trong 1.623 thành ngữ, tục ngữ với tổng tần số 2.564 lượt.

3. Sự khác biệt nổi bật về cách thức xuất hiện của từ ngữ chỉ BPCTN giữa tiếng Hàn và tiếng Việt là gì?

Trong tiếng Hàn, từ ngữ chỉ BPCTN xuất hiện độc lập chiếm ưu thế tuyệt đối với 90% (2.115 câu), xuất hiện trong tổ hợp chỉ chiếm 10% (231 câu). Ngược lại, trong tiếng Việt, từ ngữ chỉ BPCTN có xu hướng kết hợp linh hoạt trong tổ hợp với 55% (891 câu), xuất hiện độc lập chiếm 45% (732 câu).

4. Những từ ngữ chỉ BPCTN nào có tần số xuất hiện cao nhất trong thành ngữ, tục ngữ của mỗi ngôn ngữ?

Trong tiếng Hàn, các từ có tần số cao nhất thuộc nhóm đầu và tứ chi: 눈 (mắt - 222 lần), 입 (miệng - 206 lần), 손 (bàn tay - 175 lần). Trong tiếng Việt, các từ có tần số cao nhất là "tay" (254 lần), "mặt" (243 lần), "chân/chơn" (168 lần) và "mắt/con mắt" (168 lần).

5. Luận án áp dụng những khung phân loại nào cho ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm?

Luận án phân loại ADYN theo chức năng của Lakoff & Johnson (1980) gồm 3 loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định vị và ẩn dụ bản thể (vật chứa và thực thể). Đối với HDYN, luận án áp dụng mô hình chỉnh thể và bộ phận của Kövecses & Radden (1998), triển khai qua 3 mô hình: toàn thể và bộ phận, sự kiện, phạm trù và thuộc tính.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Mỹ Linh là công trình nghiên cứu hệ thống và quy mô về các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong 2.346 thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn và 1.623 thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận. Thông qua sự kết hợp giữa phương pháp thống kê ngôn ngữ, miêu tả và so sánh đối chiếu, tác giả đã làm sáng tỏ các quy luật phân bố số lượng, tần số, cấu trúc tổ hợp cũng như hệ thống mô hình ánh xạ ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ. Công trình đã làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt trong bức tranh tri nhận thế giới của người Hàn và người Việt dưới sự chi phối của đặc trưng loại hình ngôn ngữ và các yếu tố văn hóa - xã hội. Luận án cùng tập phụ lục ngữ liệu đối chiếu 290 trang đóng góp nguồn tư liệu hữu ích cho nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, giảng dạy ngôn ngữ và thực hành biên dịch Hàn - Việt.