CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Án dụ và hoán dụ từ ngôn ngữ học truyền thống đến ngôn ngữ học tri nhận 1. Án dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống Trong ngôn ngữ học truyền thông, an dụ và hoán dụ đều là cách thức chuyền đổi tên gọi giữa hai sự vật. Nếu giữa hai sự vật đó có mỗi quan hệ tương đồng (similarity) thi day là ân dụ.
Còn nếu giữa hai sự vật đó có mỗi quan hệ tương cận (proximitv/ contiguity) thì day là hoán dụ. Nói rõ hơn trong khi an dụ là cách thức chuyển đỗi tên gọi giữa hai sự vật tương dong A và B dựa trên sự so sánh ngầm thì hoán dụ là sự chuyên đôi tên gọi dựa vào sự liên tưởng về tính tương cận. Ba thé kỷ trước Công nguyên, Aristotle cho rằng an dụ là việc gọi sự vật này bằng một cái tên vốn ding dé gọi một sự vật khác; sự chuyên đôi tên gọi như thé la từ (a) giống (genus) sang loài (species)?; hoặc (b) loài sang giống; hoặc (c) loài sang loài; hoặc (d) dựa trên cơ sở tương tự (analogy) (Barnes, 1984, tr.4999), Chỉ có loại cuối (đ) là cái mà ngày nay ta gọi là ân dụ; còn ba loại đầu (a, b và c) là hoán dụ: ma hai trong số đó (a và b) là cai dung (synecdoche), tức là một loại hoán dụ. Chúng tôi dan ví dy của chính Aristotle qua bản dịch tiếng Anh của Barnes (1984).
1) Here stands my ship. (Thuyén của tôi dang ở đây.) 2) Truly fen thousand good deeds has Ulysses wrought. (Thật ra Ulysses đã lam nên hang chục ngàn sự việc vinh quang.) 3) Drawing the life with the bronze. (Vét cạn linh hôn bang lưỡi gươm đồng.) 4) sunset of life (tuôi xế chiều) Ở vi dụ (1) “stands (dieng)” ding đẻ chỉ một phan qua trình của nó là thả neo và đây là cách thức hoán dụ dùng toàn thé dé chi bộ phận.
Ở vi dụ (2) dùng một con số có vẻ rat cụ thé “ten thousand (hàng chục ngàn) ” để hàm ý đến con số nhiều quá * Theo quan điểm logic học thi giống là một tập hợp có thé phân chia được thành các lớp con vả các lớp con này chính là loài. 14 đêm không hết chính là vô van, tức là vô vàn sự việc vinh quang va đó là cách thức hoán du dang bộ phan đề chỉ toàn thé. Ở ví dụ (3) “drawing the life (vét cạn linh hồn)” dùng đề chỉ việc tước đi mạng sống của ai đó và đây là cách thức hoán dụ bộ phận thay cho bộ phận. O vi dụ (4) “sunset (xế chiều)” von dé chi thời gian gan cuỗi của một ngày được dùng một cách ân dụ dé chỉ thời gian gần cuối của một đời người.
Cần lưu ý Aristotle bàn an du (bao ham cả hoán dụ) trong khuôn khô của nghệ thuật văn chương. Ông nhắn mạnh “việc dùng một ấn dụ hay là chuyện không thể bắt chước được người khác; đó là dau hiệu của tài năng bởi vì nó cho thay trực cảm về sự giống nhau giữa những sự vật khác nhau ” (Barnes, 1984, tr. Quan niệm ân dụ của Aristotle có tác động rất lớn trong suốt lịch sử tu từ học ở phương Tây. Việc Aristotle xử lý hoán dụ như một loại an dụ còn được giới ngôn ngữ học chấp nhận cho đến cudi những năm 1950 trước khi Jakobson cho rằng an dụ và hoán dụ là hai phương thức riêng biệt dựa trên hai nguyên tắc đối lập nhau (Lodge, 1977, tr.
Nam 1916, trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, F. de Saussure, nhà ngôn ngữ học Thụy Si, phân tách hoạt động ngôn ngữ ra làm hai, lời nói và ngôn ngữ: 1) lời nói tức là cái thuộc về từng cá nhân; 2) ngôn ngữ tức là cái thuộc về cộng đồng. Như thế, theo một cách logic, ân dụ và hoán dụ cũng được chia ra làm hai: 1) Án dụ. hoán dụ lời nói lả loại an dụ, hoán dụ của từng cả nhân, còn gọi là ân dụ, hoán dụ sông (alive metaphor, metonymy).
Đây chính là loại ân du, hoán dụ mà Aristotle bàn đến; 2) An dụ, hoán dụ ngôn ngữ, còn gọi là an dụ, hoán dụ chết (dead metaphor, metonymy). Đây chính là loại ân dụ, hoán dụ ma Aristotle không chủ ý. Việc tách biệt rõ ràng ân dụ, hoán dy lời nói và an dụ, hoán dụ ngôn ngữ rất quan trọng. Bởi lẽ nó cho phép chúng ta hiểu được cơ chế nao giúp sáng tạo nên những ân dụ, hoán dụ văn chương.50) có dé cập “một trong những khám phá giật mình của việc nghiên cứu ngôn ngữ văn chương do các nhà ngôn ngữ học trí nhận tiễn hành là việc thừa nhận ngôn ngữ văn chương hau hết dựa trên an dụ ý niệm quy tước, thông thong”.
Nhu vậy theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống ẩn du vả hoán dụ lả một hiện tượng ngôn ngữ, là cách chuyên nghĩa của tir vựng. Hoan dụ có thời kỳ không 15 được xem là một phương thức tách biệt mà thuộc về an dụ. Trong khuôn khô nghệ thuật văn chương, việc sử dụng an dụ, hoán dụ đặc sắc được xem như một tài năng. An dụ và hoán dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận Quan niệm truyền thống về ân dụ, hoán dụ như thé hầu như được giữ nguyên cho đến khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời, đặc biệt là với công trình Metaphors We Live By của Lakoff & Johnson xuất bản vào năm 1980.
Nhan dé cuốn sách khiến cho độc giả có thé nghĩ rằng công trình chi ban về ADYN. Thực ra, công trình bao quát toàn bộ các luận điểm về ngôn ngữ hoc tri nhận nói chung và ADYN, HDYN nói riêng, mặc dù dung lượng bàn về ADYN có phan vượt trội hơn so với các phân khác. Các tác giả chứng minh ân dụ và hoán dụ không chi là chuyện ngôn ngữ học như quan điểm truyền thống nhìn nhận. Họ phân tích và đưa ra những chứng cứ mạnh mẽ dé khang định đó là những công cụ tri nhận.
tức là phương cách dé con người nhận thức thế giới. Trong ngôn ngữ học tri nhận, an dụ và hoán dụ là một qua trình tri nhận. Nếu quá trình tri nhận diễn ra trong hai miền ý niệm theo cơ chế tương đông thi day là an dụ. Còn nếu quá trình tri nhận chi diễn ra trong một miễn ý niệm đồng nhất theo cơ chế tiếp giáp/ tương cận thì đấy là hoán dụ.
Hai miền ý niệm của quá trình trí nhận an dụ được gọi la miền nguồn (source domain) và miễn đích (target domain). Trong đó miền ý niệm chứa những biéu thức an dụ giúp hiểu miền ý niệm khác được gọi là miền nguồn, còn miền ý niệm được hiểu dựa trên miền nguôn được gọi là miền đích. Từ “hiểu” dé mô tả mỗi quan hệ giữa miễn nguồn va miễn đích trong quá trình an dụ là một tập hợp các thuộc tính tương ứng có hệ thống giữa miền nguồn và miền đích. Và những thuộc tính tương ứng nảy được gọi là ánh xạ (mapping).
Khi nói “hoi giận bốc lên ngùn ngut”, “nặng gánh gia đình ”, “dau long” chúng ta đang thực hiện một quy trình tư duy dựa trên các ý niệm: CƠN GIAN LA LUA, TRÁCH NHIEM LA VAT NANG, NOI BUON LA THỨ GAY ĐAU DON. Ở đây miền nguồn lần lượt là LUA, VAT NANG, THU GAY ĐAU ĐỚN và miền đích lan lượt là CON GIẬN, TRÁCH NHIEM, NOI BUON. Chúng ta hiểu được miền đích 16 dựa trên những thuộc tinh tương ứng được ánh xa từ miền nguồn. Hon nữa những thuộc tính của miền nguồn sẽ cụ thé và những thuộc tính của miền đích sẽ trừu tượng hơn.
Không bao giờ là hướng ngược lại, tức những thuộc tính của miễn đích cụ thé hơn và những thuộc tính của miền nguồn trừu tượng hơn. Một miền ý niệm đồng nhất hay là mô hình tri nhận lý tưởng (Idealized cognitive model - ICM) của quá trình tri nhận hoán dụ bao gồm thực thé phương tiện (vehicle entity) và thực thể mục tiêu (target entity). Trong đó thực thể phương tiện là thực thẻ cung cấp khả năng tiếp cận bang tinh thần tới một thực thê khác, còn thực thé mục tiêu là thực thê được cung cấp kha năng tiếp cận bằng tinh than. Khi chúng ta nói “có nhiều gương mặt mới trong tổ chức ”, “đủ tay chơi bai”, "tôi không tán đồng quyết định của nhà trường" thì “gương mặt”, “tay”.
“nhà trường” là thực thé phương tiện thay cho thực thé mục tiêu là “nhân viên trong tổ chức ”, “người chơi”, “lãnh đạo nhà trường `”. Lakoff & Johnson (1980) chứng minh an dụ và hoán dụ tràn ngập trong ngôn ngữ và tư duy hàng ngày của con người bằng cách đưa ra hàng loạt các biêu đạt ngôn ngữ mang tính an dụ và hoán dụ. An dụ và hoán dụ không chỉ tồn tại trong ngôn ngữ ma cả trong tư duy và hành động, giúp con người cụ thé hóa những ý niệm trừu tượng. Như vậy theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, ân dụ và hoán dụ là một quá trình tri nhận, một phương thức tư duy tôn tại trong mọi cách nói năng của con người.
Không chỉ là phương thức tu từ, ân dụ và hoán dụ còn là cách con người tư duy và nhìn nhận thé giới, giúp con người hiểu những van dé trừu trượng bằng cách cụ thẻ hóa chúng thông qua sự ánh xạ giữa một hoặc nhiều miễn ý niệm. So sánh ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm An dụ và hoán dụ đều không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà là một hiện tượng của ý niệm, tư duy, cách con người nhìn nhận thé giới. Ca an du va hoan du đều dién ra một cách tự nhiên trong mọi điển đạt của con người, tức cả hai đều tồn tại xung quanh cuộc sống của con người. Đặc biệt cơ chế tri nhận của cả ân dụ và hoán dụ đều là cơ chế ánh xa.
Mặc dù ân dụ và hoán dụ chia sẻ một số đặc điểm tương đồng nhưng chúng là hai phương thức tri nhận riêng biệt, giữa chúng ton tại những đặc điểm khác nhau. 17 Những điểm khác nhau giữa ân dụ và hoán dụ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập. có thẻ kê đến các công trình của Lakoff & Johnson (1980, tr.36), Lakoff & Turner (1989, tr.103), Kövecses (2010, tr,174-176), có thé hệ thống lại theo bang dưới đây. Điểm khác biệt giữa An dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm Án dụ ý niệm Hoán dụ ý niệm Diễn ra trong hai miền ý niệm/ mô hình | Diễn ra trong một miễn ¥ niệm mô hình tri nhận lý tưởng (ICM).
tri nhận lý tưởng (ICM).