Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Dẫn nhập Trong chương này, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc phân tích quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận. Phần trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu gồm các nội dung: tình hình nghiên cứu tri nhận dòng thời gian tinh thần, tình hình nghiên cứu xác lập lý thuyết khung quy chiếu thời gian, tình hình nghiên cứu sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang khung quy chiếu thời gian, tình hình nghiên cứu vấn đề thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận. Những khái lược văn liệu này là cơ sở cho việc xác lập câu hỏi nghiên cứu cũng như các nội dung phân tích tạo nên đóng góp của luận án.
Phần trình bày các vấn đề lý luận tập trung vào các nội dung: 1. Các vấn đề lý thuyết về thời gian, bao gồm: các biến thể của ý niệm thời gian, các thuộc tính của thời gian, phối cảnh Ego chuyển động và Thời gian chuyển động, các mối quan hệ thời gian, mũi tên thời gian, dòng thời gian tinh thần; 2. Các vấn đề lý thuyết về khung quy chiếu, bao gồm: khái niệm khung quy chiếu và khung quy chiếu thời gian, lý thuyết Khung quy chiếu không gian của Levinson, lý thuyết Khung quy chiếu thời gian do Bender và cộng sự đề xuất; 3. Khái niệm khung và phạm trù toả tia.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở phạm vi ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên cứu tri nhận dòng thời gian tinh thần trong các ngôn ngữ tự nhiên Dòng thời gian tinh thần (mental timeline), gọi tắt là dòng thời gian, là nền tảng trên đó xác lập các hệ quy chiếu thời gian.
Mọi sự tình thời gian đều được người bản ngữ tri nhận là phân bố trên dòng thời gian tinh thần này. Cho đến nay, dòng thời gian tinh thần được nghiên cứu trên hai cấp độ: cấp độ ngôn ngữ và cấp độ tinh thần, với hai hướng: phân tích cứ liệu ngôn ngữ và phân tích thực nghiệm. Ở cấp độ ngôn ngữ, phổ biến là dòng thời gian được tri nhận theo lối ẩn dụ phân bố theo trục ngang, trục trước – sau, với trước chỉ tương lai, sau chỉ quá khứ hoặc trước chỉ quá khứ sau chỉ tương lai (Ulrich & Maienborn, 2010; Bender & Beller, 2014); ngoài ra, ít phổ biến hơn là dòng thời gian được tri nhận theo phương thẳng đứng, trục trên – dưới với trên chỉ quá khứ, dưới chỉ tương lai, chẳng hạn trong tiếng Quan Thoại (Traugott, 1978; Yu, 2012). Ở cấp độ tinh thần, các phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng dòng thời gian được tri nhận phổ biến trong các cộng đồng ngôn ngữ là phân bố theo trục ngang, trục trái – phải với quá khứ ở bên trái, tương lai ở bên phải, hướng của dòng thời gian là từ trái sang phải (Weger & Pratt, 2008); sự tri nhận này được cho là có sự tác động 7 của lối viết và đọc chữ từ trái qua phải (Fuhrman et al., 2011); theo đó, có sự tương ứng phổ biến trái/sau – phải/trước giữa cấp độ ý niệm và cấp độ ngôn ngữ trong tri nhận thời gian.
Với các cộng đồng đọc và viết chữ từ phải sang trái, chẳng hạn người nói tiếng Ả Rập, tiếng Hebrew, dòng thời gian được tri nhận theo lối ngược lại, từ phải sang trái (Fuhrman & Boroditsky, 2010). Sự đồ chiếu ẩn dụ từ không gian lên thời gian do vậy diễn ra ở cấp độ ý niệm, trong thế giới tinh thần hơn là ở cấp độ ngôn ngữ (Ulrich & Maienborn, 2010). Các công trình thực nghiệm cũng khẳng định sự tồn tại của dòng thời gian theo phương thẳng đứng, trục trên – dưới, điển hình là trong tiếng Quan Thoại (Fuhrman et al. Dòng thời gian chưa từng được các nhà Việt ngữ học đặt thành đối tượng nghiên cứu.
Luận án sẽ làm rõ điều này ở mục 2.2 chương 2 khi đi vào phân tích dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt.2 Tình hình nghiên cứu xác lập lý thuyết khung quy chiếu thời gian Lý thuyết về khung quy chiếu thời gian được xác lập bởi các nhà Tri nhận luận trong vòng hai thập niên gần đây. Số lượng ngôn ngữ được miêu tả, phân tích thực tế là chưa nhiều so với toàn bộ các ngôn ngữ hiện có trên thế giới. Cho đến nay lý thuyết về khung quy chiếu thời gian vẫn chưa đi đến sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Từ các công trình được công bố, xét về số lượng khung quy chiếu, chúng tôi nhận thấy có ba trường hợp: 1.
Hệ thống khung quy chiếu gồm hai loại; 2. Hệ thống khung quy chiếu gồm ba loại; 3. Hệ thống khung quy chiếu gồm bốn loại. Thực chất, sự khác biệt về số lượng khung quy chiếu giữa các trường hợp xuất phát từ hai nguyên do: 1.
khác nhau về các mốc quy chiếu được xác định; 2. có hay không sự chuyển dịch hệ toạ độ (xin xem sự khác biệt này ở bảng 1. Thuộc trường hợp một có các tác giả như Moore (2004, 2006, 2011, 2014), Núñez và Sweetser (2006). Hệ thống khung quy chiếu do các tác giả này xác lập chỉ gồm hai khung quy chiếu.
Mỗi khung có mốc quy chiếu riêng. Khung quy chiếu dựa vào Ego lấy Ego làm mốc quy chiếu, mang tính trực chỉ. Khung quy chiếu này bao gồm hai phối cảnh: phối cảnh Ego chuyển động và phối cảnh Thời gian chuyển động. thứ ba là đang đến gần (chúng ta) ‘Thứ ba gần đến rồi.
tháng sáu là vẫn ở phía trước (của tôi) ‘Vẫn chưa tới tháng sáu.’ 8 Trong ví dụ (1) trên, thời gian được hình dung là đang chuyển động về phía người quan sát Ego, Ego do vậy là mốc quy chiếu, Ego được hiện thực hoá bằng biểu thức us hoặc được hiểu hàm ẩn. Ngược lại ở ví dụ (2), người quan sát Ego di chuyển về phía trước trong dòng thời gian. Mốc quy chiếu là Ego. “Tháng sáu” được xác định ở phía trước là trong quy chiếu với Ego.
Ego được biểu đạt bằng biểu thức me hoặc được hiểu hàm ẩn. Khung quy chiếu dựa vào trường phản ánh quan hệ thời gian giữa các sự tình trong chuỗi, trong đó có một sự tình được chọn làm mốc quy chiếu. Khung quy chiếu này do vậy không liên quan đến trung tâm trực chỉ, Ego và sự hiện diện chủ quan của nó là tuỳ ý và không quan yếu. Khung quy chiếu dựa vào trường phản chiếu ẩn dụ CHUỖI NHƯ LÀ CÁC VỊ TRÍ TRÊN LỐI ĐI (SEQUENCE AS A POSITION ON THE PATH).
Ví dụ: (3) Summer follows spring. mùa hè theo sau mùa xuân ‘Sau mùa xuân là mùa hè.’ Trong ví dụ trên, phối cảnh thời gian được sử dụng là Thời gian chuyển động. Sự tình thời gian “spring” (mùa xuân) được chọn làm mốc quy chiếu. Nó kết hợp với sự tình “summer” (mùa hè) tạo thành chuỗi nối tiếp các sự tình trong dòng thời gian.
Về sau Moore (2011, 2014) có điều chỉnh thuật ngữ. Hai khung quy chiếu trên được ông gọi tên lần lượt là khung quy chiếu cấu hình lối đi phối cảnh Ego (Ego- perspective path-configured frame of reference) và khung quy chiếu cấu hình lối đi phối cảnh dựa vào trường (Field-perspective path-configured frame of reference). Cách giải thích của Moore (2011, 2014) có mở rộng theo hướng phân tích sự đồ chiếu từ các khung quy chiếu không gian sang các khung quy chiếu thời gian song về căn bản giống với quan niệm phân loại ban đầu của ông. Moore xây dựng lý thuyết trên cơ sở phân tích cứ liệu tiếng Anh, tiếng Wolof (ở Niger-Congo, vùng Tây Phi), tiếng Nhật và tiếng Aymara (ở Jaqi, Nam Mỹ).
Cũng phân chia khung quy chiếu thời gian thành hai loại là Núñez và Sweetser (2006). Núñez và Sweetser định danh hai khung quy chiếu dưới tên gọi ẩn dụ điểm quy chiếu Ego (Ego-Reference-point metaphor) và ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian (Time-Reference-point metaphor)1. Ẩn dụ điểm quy chiếu Ego lấy Ego làm điểm quy chiếu, với hai phối cảnh là Ego chuyển động và Thời gian chuyển động, như ở trường hợp ví dụ (1) và ví dụ (2) ở trên. Ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian biểu đạt chuỗi các sự tình và sử dụng một trong các sự tình làm điểm quy chiếu, như trường hợp ví dụ (3) ở trên.
Như vậy, thực chất quan niệm của Núñez, Sweetser (2006) và 1 Thuật ngữ điểm quy chiếu trong quan niệm của Núñez và Sweetser (2006) giống với thuật ngữ mốc quy chiếu trong quan niệm của Moore (2004, 2006, 2011, 2014). Yu (2012), như luận án sẽ trình bày dưới đây, cũng dùng thuật ngữ điểm quy chiếu. 9 quan niệm của Moore (2004, 2006, 2011, 2014) là giống nhau, chỉ khác biệt ở dán nhãn thuật ngữ. Tuy nhiên, khác với Moore, Núñez và Sweetser không xem xét vấn đề trong tương quan với khung quy chiếu không gian.
Phát hiện mang tính đóng góp của họ là các mối quan hệ thời gian ở ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian có tính nội tại (xét trong chuỗi) với sự tình sớm hơn ở “phía trước” sự tình muộn hơn. Ngoài ra Núñez và Sweetser cũng nhấn mạnh rằng sự đối lập giữa mô hình điểm quy chiếu Ego và mô hình điểm quy chiếu Thời gian là cơ bản hơn so với sự phân biệt giữa Ego chuyển động và Thời gian chuyển động, tức cái quan yếu để phân loại khung quy chiếu là điểm quy chiếu chứ không phải là phối cảnh thời gian. Hai hệ thống phân loại vừa trình bày ở trên đã đề cập đến hai trường hợp phổ biến trong quy chiếu thời gian là trường hợp lấy Ego làm mốc quy chiếu và trường hợp lấy một sự tình thời gian trong chuỗi làm mốc quy chiếu, giới hạn ở các quan hệ thời gian gồm hai thành tố (mốc quy chiếu và sự tình được quy chiếu). Tuy nhiên thực tế quan sát cứ liệu trên nhiều ngôn ngữ cho thấy tồn tại cả các quan hệ thời gian gồm ba thành tố (Kranjec, 2006; Bender et al., 2010; Zinken, 2010; Tenbrink, 2011; Bender & Beller, 2014; Evans, 2009, 2013, 2019).
Mặt khác hai hệ thống phân loại này chưa phân biệt giữa mốc quy chiếu với gốc của hệ toạ độ, là sự phân biệt có hiệu lực và quan yếu ở các quan hệ thời gian gồm ba thành tố. Thuộc trường hợp thứ hai có các tác giả như Kranjec (2006), Zinken (2010), Bender và cộng sự (Bender et al., 2010; Bender & Beller, 2014), Tenbrink (2011), Evans (2009, 2013, 2019). Khác với các tác giả ở trường hợp đầu, các tác giả ở nhóm này xác lập hệ thống khung quy chiếu gồm ba loại.