Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận" do nghiên cứu sinh Lê Thị Cẩm Vân thực hiện (ngành Ngôn ngữ học, mã số 9229020), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp và PGS.TS. Trương Thị Nhàn tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thời gian là đối tượng nghiên cứu liên ngành giữa Triết học, Vật lý học và Ngôn ngữ học. Trong ngôn ngữ học thế giới, các bình diện thời gian đã được tiếp cận từ hệ thống ngữ pháp (thì, thể, tình thái - TAM), lý thuyết Ẩn dụ ý niệm (Lakoff & Johnson, 1980), Lý thuyết Ý niệm từ vựng và Mô hình tri nhận (Evans, 2009) đến Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian (Bender & Beller, 2014). Ở Việt Nam, vấn đề thời gian chủ yếu được tiếp cận qua các bình diện ngữ nghĩa - ngữ pháp, từ vựng theo Cấu trúc luận hoặc Ngữ pháp chức năng. Việc vận dụng Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian để phân tích tiếng Việt vẫn còn là khoảng trống chưa được thực hiện. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc tiếp thu mô hình Khung quy chiếu thời gian của Bender và cộng sự, ứng dụng vào kiểm chứng trên cứ liệu tiếng Việt – một ngôn ngữ đơn lập, không biến hình và có cơ tầng văn hóa phương Đông. Ngoài ra, luận án xử lý vấn đề chuyển khung ngữ nghĩa và đồ chiếu cấu trúc vị từ - tham tố từ không gian sang thời gian, vốn là bình diện chưa được chú ý đầy đủ trong các nghiên cứu ẩn dụ thời gian trước đây.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là vận dụng và kiểm nghiệm giá trị của Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian trên cứ liệu tiếng Việt, đồng thời làm rõ cách người Việt tri nhận và quy chiếu thời gian theo quan điểm Ngôn ngữ học tri nhận.
Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng thuật lý thuyết về khung quy chiếu thời gian trong ngôn ngữ học tri nhận.
- Miêu tả và phân tích các đặc điểm của dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt.
- Phân tích các loại hình và biến thể của khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt.
- Phân tích sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt.
- Phân tích sự tri nhận và biểu đạt quy chiếu thời gian qua các từ có nghĩa gốc chỉ không gian trong tiếng Việt (nghiên cứu trường hợp: lùi, qua, sang, tới, đến).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi và phương tiện quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào dòng thời gian tinh thần; hệ thống các khung quy chiếu thời gian; cơ chế đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang thời gian; sự tri nhận và biểu đạt thời gian qua nhóm từ ngữ vốn có nghĩa gốc chỉ không gian (trước, sau, trên, dưới, lên, xuống, lùi, qua, sang, tới, đến). Luận án chưa đi sâu khảo sát nhóm đại từ và nhóm tính từ chỉ thời gian.
- Phạm vi ngữ liệu: Ngữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập từ kho ngữ liệu tiếng Việt trực tuyến https://s.net/corpus/ (tập hợp bài viết từ các báo điện tử uy tín như Tuổi Trẻ). Tác giả tiến hành khảo sát 50 trang hiển thị đầu tiên cho mỗi từ khóa (20 ngữ liệu/trang, tương đương chọn mẫu từ 1000 ngữ liệu cho mỗi từ khóa) ở chế độ "Cũ nhất trước" (tạo lập từ năm 2000 trở lại đây) nhằm bảo đảm tính ổn định và kiểm chứng được. Nguồn ngữ liệu bổ trợ bao gồm: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009), Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, 1999), Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam – Tục ngữ, Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh & Hoài Chân, 2015), Truyện Kiều (Nguyễn Du, 2015) và khối liệu trên Sketch Engine.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu quy chiếu thời gian trong ngôn ngữ học thế giới được phát triển qua nhiều giai đoạn và trường phái:
- Cơ sở không gian của tri nhận thời gian: Clark (1973), Traugott (1978), Haspelmath (1997), Casasanto và cộng sự (2010) đặt nền tảng cho việc chứng minh con người tư duy và từ vựng hóa thời gian thông qua trải nghiệm không gian. Lakoff và Johnson (1980) khái quát hóa hệ thống ẩn dụ ý niệm "Thời gian trôi là sự vận động trong không gian" với hai phân nhánh: phối cảnh Cái tôi (Ego) chuyển động và Thời gian chuyển động.
- Dòng thời gian tinh thần (Mental Timeline): Weger và Pratt (2008), Fuhrman và Boroditsky (2010), Ulrich và Maienborn (2010), Fuhrman và cộng sự (2011) nghiên cứu dòng thời gian tinh thần ở cấp độ ngôn ngữ và thực nghiệm tâm lý học thần kinh, chỉ ra sự phân bố của thời gian trên trục ngang (trái - phải, trước - sau) và trục đứng (trên - dưới, như trong tiếng Quan Thoại) chịu ảnh hưởng bởi chiều hướng đọc, viết và quy ước văn hóa.
- Xác lập Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian:
- Hệ thống 2 khung quy chiếu: Moore (2004, 2006, 2011, 2014) dựa trên ngữ liệu tiếng Anh, tiếng Wolof, tiếng Nhật và tiếng Aymara để đề xuất Khung quy chiếu dựa vào Ego (Ego-perspective) và Khung quy chiếu dựa vào trường (Field-perspective), gắn với ẩn dụ Lối đi. Núñez và Sweetser (2006) đề xuất Ẩn dụ điểm quy chiếu Ego và Ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian; qua phân tích tiếng Aymara, họ phát hiện mô hình tĩnh đặc thù với Quá khứ ở phía trước và Tương lai ở phía sau.
- Hệ thống 3 khung quy chiếu: Kranjec (2006) đề xuất ba bộ khung thời gian: trực chỉ, nội tại và ngoại tại (dựa trên khái niệm "thời gian tự thân"). Zinken (2010) kết hợp chuỗi thời gian A và chuỗi thời gian B của triết học với mô hình của Levinson để chia thành khung nội tại, tương đối và tuyệt đối. Tenbrink (2011) phân loại khung thời gian nội tại, tương đối và tuyệt đối trong tương quan với tình huống tĩnh và tình huống động. Evans (2009, 2013, 2019) xây dựng khung quy chiếu trực chỉ (thì tuyệt đối), khung quy chiếu chuỗi (thì tương đối) và khung quy chiếu ngoại tại (Ma trận thời gian). Bender và cộng sự (Bender et al., 2010; Bender & Beller, 2014) hoàn thiện hệ thống gồm khung quy chiếu nội tại (gồm biến thể trực chỉ và chuỗi nối tiếp), khung quy chiếu tương đối (gồm biến thể phản chiếu và biến thể chuyển dịch) và khung quy chiếu tuyệt đối.
- Hệ thống 4 khung quy chiếu: Yu (2012) nghiên cứu tiếng Quan Thoại, phân chia thành khung thời gian trực chỉ, khung con người trực chỉ, khung thời gian xếp chuỗi và khung con người xếp chuỗi.
| Tác giả |
Khung quy chiếu lấy mốc Ego |
Khung quy chiếu lấy mốc sự tình trong chuỗi |
Khung quy chiếu lấy mốc nằm trong trường thời gian tổng thể |
Khung quy chiếu có sự chuyển dịch hệ tọa độ sang Nền |
| Moore |
Khung quy chiếu dựa vào Ego |
Khung quy chiếu dựa vào trường |
(Không tách biệt) |
(Không tách biệt) |
| Núñez & Sweetser |
Ẩn dụ điểm quy chiếu Ego |
Ẩn dụ điểm quy chiếu Thời gian |
(Không tách biệt) |
(Không tách biệt) |
| Yu |
Khung thời gian trực chỉ / Khung con người trực chỉ |
Khung thời gian xếp chuỗi / Khung con người xếp chuỗi |
(Không tách biệt) |
(Không tách biệt) |
| Kranjec |
Bộ khung thời gian trực chỉ |
Bộ khung thời gian nội tại |
Bộ khung thời gian ngoại tại |
(Không tách biệt) |
| Zinken |
Khung quy chiếu nội tại (hệ tọa độ trùng Nền) |
Khung quy chiếu nội tại |
Khung quy chiếu tuyệt đối |
Khung quy chiếu tương đối (hệ tọa độ: Người quan sát) |
| Tenbrink |
Khung quy chiếu nội tại (tình huống tĩnh, động) |
Khung quy chiếu tuyệt đối (sêri B) |
Khung quy chiếu tuyệt đối |
Khung quy chiếu tương đối (tình huống động) |
| Evans |
Khung quy chiếu trực chỉ (Thì tuyệt đối) |
Khung quy chiếu chuỗi (Thì tương đối) |
Khung quy chiếu ngoại tại (Ma trận thời gian) |
(Không xử lý biến thể) |
| Bender & cộng sự |
Khung quy chiếu nội tại (Biến thể trực chỉ) |
Khung quy chiếu nội tại (Biến thể chuỗi nối tiếp) |
Khung quy chiếu tuyệt đối |
Khung quy chiếu tương đối (Biến thể phản chiếu, chuyển dịch) |
Tình hình nghiên cứu trong nước và khoảng trống luận án giải quyết
Tại Việt Nam, các công trình ngữ pháp truyền thống và ngữ dụng học khảo sát phạm trù thời gian qua từ loại (danh từ chỉ thời gian, phó từ thời thể đã, đang, sẽ, vừa, mới), hoặc qua cấu trúc trường nghĩa biểu hiện. Các nghiên cứu theo hướng Ngôn ngữ học tri nhận bước đầu tiếp cận ẩn dụ thời gian qua không gian (Nguyễn Hòa, 2007; Lý Toàn Thắng, 2005; Nguyễn Văn Hiệp, 2018), nhưng chưa xây dựng mô hình hệ thống khung quy chiếu thời gian hoàn chỉnh và chưa khảo sát dòng thời gian tinh thần của người Việt. Luận án lựa chọn mô hình của Bender và cộng sự (2014) làm khung tham chiếu chính để phân tích tiếng Việt, bổ sung các cứ liệu và làm rõ những điểm bất đối xứng trong quá trình đồ chiếu từ không gian sang thời gian.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ
- Các biến thể của ý niệm thời gian và thuộc tính thời gian: Luận án tiếp thu phân loại của Galton (2011) và Bender & Beller (2014) về ba biến thể ý niệm thời gian:
- Tuyến tính (Linear): Dựa trên trải nghiệm tiến trình không thể đảo ngược của các sự kiện, biểu hiện qua dòng thời gian tinh thần.
- Tuần hoàn (Cyclic): Dựa trên các thời đoạn định kỳ, lặp lại khép kín (như chu kỳ ngày đêm, bốn mùa, 12 con giáp).
- Tỏa tia (Radial / Ego-centered): Lấy thời điểm hiện tại của chủ thể làm tâm điểm, mức độ rõ ràng của ký ức về quá khứ và dự đoán về tương lai giảm dần theo khoảng cách xa dần tâm điểm (biểu hiện qua chuỗi từ khẩu ngữ: hôm qua - hôm kia - hôm kìa; ngày mai - ngày kia - ngày kìa).
- Bốn thuộc tính của thời gian (Galton, 2011): Tính mở rộng (extension), tính tuyến tính (linearity), tính định hướng (directionality) và tính thời khắc (transience).
| Biến thể ý niệm |
Lược đồ biểu diễn |
Nền tảng trải nghiệm |
| Tuyến tính |
Đường thẳng vô tận một chiều |
Trải qua thời gian, tiến trình sự kiện không đảo ngược |
| Tuần hoàn |
Vòng tròn khép kín |
Thời đoạn định kỳ, chu kỳ mùa màng, thiên nhiên lặp lại |
| Tỏa tia |
Hai tia đối xứng từ một tâm điểm |
Ký ức quá khứ và dự đoán tương lai giảm dần độ chi tiết theo khoảng cách |
- Phối cảnh thời gian: Sự phân biệt giữa hai phối cảnh bổ sung cho nhau:
- Ego chuyển động (Moving Ego): Người quan sát di chuyển dọc theo dòng thời gian tiến về phía các sự kiện tương lai (ví dụ: Chúng ta đang tiến gần đến Tết).
- Thời gian chuyển động (Moving Time): Người quan sát đứng yên, thời gian chuyển động từ tương lai lướt qua người quan sát và trôi về quá khứ (ví dụ: Tết sắp đến rồi).
- Các mối quan hệ thời gian và Khung quy chiếu: Luận án kế thừa định nghĩa của Talmy (2000) và hệ thống tham số của Levinson (2003/2004) để xác định khung quy chiếu:
- $F$ (Figure - Hình): Thực thể được định vị.
- $G$ (Ground - Nền): Mốc quy chiếu giúp định vị $F$.
- $V$ (Viewpoint - Điểm nhìn): Vị trí và hướng nhìn của người quan sát.
- $X$ (Gốc hệ tọa độ): Điểm gốc để xác lập trục quy chiếu ($X_1$: hệ tọa độ sơ cấp; $X_2$: hệ tọa độ thứ cấp).
- Lý thuyết Khung ngữ nghĩa và Phạm trù tỏa tia: Ứng dụng khung ngữ nghĩa của Fillmore và phạm trù tỏa tia của Lakoff (1987) nhằm phân tích sự mở rộng nghĩa từ không gian cụ thể sang thời gian trừu tượng của các vị từ vận động.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận: Kết hợp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính giữ vai trò chủ đạo.
- Phương pháp nội quan (Introspection): Phương pháp trọng tâm của Ngôn ngữ học tri nhận, dùng để phân tích ngữ nghĩa, cấu trúc tri nhận và phối cảnh ý niệm của người bản ngữ trong các biểu thức quy chiếu.
- Phương pháp miêu tả phối hợp các thủ pháp:
- Thủ pháp thống kê: Khảo sát tần số tương đối, xác lập ngữ cảnh phân bố và thiên hướng sử dụng của từ ngữ trên kho ngữ liệu điện tử.
- Thủ pháp phân loại và hệ thống hóa: Phân chia các biểu thức quy chiếu theo từng loại hình khung quy chiếu và từng mô hình đồ chiếu.
- Thủ pháp phân tích vị từ - tham tố: Miêu tả cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và tiểu cú chứa từ quy chiếu có nguồn gốc không gian.
- Thủ pháp so sánh đối chiếu: So sánh cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian trong tiếng Việt; đối chiếu đặc điểm quy chiếu của tiếng Việt với các ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Quan Thoại, tiếng Aymara).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ văn liệu nghiên cứu về dòng thời gian tinh thần, lý thuyết khung quy chiếu không gian và thời gian trên thế giới cùng các nghiên cứu thời gian trong tiếng Việt. Tác giả phân tích chi tiết các mô hình phân loại của Moore, Núñez & Sweetser, Yu, Kranjec, Zinken, Tenbrink, Evans và Bender & Beller. Chương này xác lập các khái niệm công cụ nền tảng: biến thể ý niệm thời gian (tuyến tính, tuần hoàn, tỏa tia), 4 thuộc tính thời gian của Galton, sự phân biệt phối cảnh Ego chuyển động và Thời gian chuyển động, khái niệm mũi tên thời gian và các tham số Hình ($F$), Nền ($G$), Điểm nhìn ($V$), Gốc tọa độ ($X$) theo khung lý thuyết Levinson - Talmy.
Chương 2: Các khung quy chiếu thời gian và sự đồ chiếu từ các khung quy chiếu không gian sang các khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung trọng tâm về cấu trúc quy chiếu thời gian trong tiếng Việt:
- Dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt: Được nhận thức phân bố trên trục ngang (trục trước - sau) là chủ đạo, kết hợp với trục thẳng đứng (trên - dưới) và trục ngang phụ (trái - phải). Hướng vận động của dòng thời gian đi từ quá khứ đến tương lai (mũi tên thời gian), trong đó TRƯỚC vừa có thể chỉ quá khứ (trong quan hệ chuỗi: trước đây, thời gian trước), vừa có thể chỉ tương lai (trong phối cảnh Ego hướng về phía trước: phía trước là tương lai).
- Hệ thống khung quy chiếu thời gian trong tiếng Việt:
- Khung quy chiếu thời gian tuyệt đối: Thời gian được tri nhận như một trường tổng thể/ma trận ngoại tại độc lập với người quan sát (Thời gian thấm thoắt thoi đưa; Vào lúc 7 giờ; Trong tháng 6).
- Khung quy chiếu thời gian nội tại: Gồm biến thể trực chỉ (lấy hiện tại của Ego làm Nền: Sang năm, Tuần tới) và biến thể chuỗi nối tiếp (xác định quan hệ sớm hơn/muộn hơn giữa các sự tình: Thứ Hai đến trước thứ Ba). Đặc biệt, luận án bổ sung các sự tình diễn ra tại thời điểm nói vào khung quy chiếu nội tại trực chỉ.
- Khung quy chiếu thời gian tương đối: Biểu đạt quan hệ thời gian tam tố ($F, G, V$). Luận án phân tích hai biến thể chính: biến thể chuyển dịch và biến thể phản chiếu, chỉ ra các kịch cảnh thời gian tĩnh và động (Dời lịch họp lên trước hai ngày; Lùi thời hạn lại một tuần).
- Sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang khung quy chiếu thời gian: Phân tích cơ chế chuyển di các trục tọa độ từ miền nguồn không gian sang miền đích thời gian. Luận án khẳng định sự đồ chiếu mang tính chọn lọc: có những bình diện cấu trúc không gian không được đồ chiếu sang thời gian (tính đa chiều, khả năng đảo chiều vận động trong không gian bị triệt tiêu khi sang miền thời gian một chiều).
Chương 3: Sự tri nhận và biểu đạt quy chiếu thời gian qua không gian trong tiếng Việt: Nghiên cứu trường hợp lùi, qua, sang, tới, đến
Chương 3 triển khai nghiên cứu trường hợp chuyên sâu trên 5 vị từ vận động không gian được chuyển di chức năng chỉ thời gian:
- Nghiên cứu trường hợp từ lùi: Trong không gian, lùi biểu thị sự chuyển động thụt lùi về phía sau của một thực thể ngược với hướng mặt tự nhiên. Khi chuyển sang miền thời gian, lùi tham gia vào hai mô hình phối cảnh: (1) Lùi về quá khứ (Chiến tranh đã lùi xa; Lùi về năm 2019) theo điểm nhìn Ego hoặc chuỗi sự kiện; (2) Lùi về tương lai (Lùi thời điểm phóng vệ tinh lại một ngày; Lùi lịch họp sang tuần sau) khi có sự tác động chuyển dịch một mốc sự kiện sang thời điểm muộn hơn trên trục thời gian.
- Nghiên cứu trường hợp từ qua và sang: Cả hai đều biểu đạt sự chuyển động vượt qua ranh giới trong không gian. Khi biểu đạt thời gian: qua nhấn mạnh vào tính chất kết thúc, trôi qua của một khoảng thời gian (Thế kỷ 20 đi qua; Qua tết); sang biểu đạt sự chuyển tiếp từ phân đoạn thời gian này sang phân đoạn thời gian kế tiếp (Xuân sang; Sang năm; Chuyển sang thứ Sáu).
- Nghiên cứu trường hợp từ tới và đến: Trong không gian, tới và đến biểu thị sự di chuyển đạt tới đích. Trong miền thời gian, chúng biểu đạt phối cảnh Thời gian chuyển động hướng về mốc hiện tại của Ego (Mùa đông đã tới; Tết đã đến gần) hoặc phối cảnh Ego chuyển động tiếp cận một thời điểm trong tương lai (Từ nay tới cuối năm; Từ đây đến sáng). Luận án tổng hợp bảng so sánh chi tiết về khả năng kết hợp ngữ pháp, cấu trúc vị từ - tham tố và khả năng tham gia vào các khung quy chiếu trực chỉ của nhóm từ này.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Giới thiệu và kiểm nghiệm lý thuyết mới: Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên giới thiệu Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian (theo mô hình của Bender & Beller) vào Việt Nam, kiểm nghiệm thành công giá trị giải thích của lý thuyết này trên ngữ liệu tiếng Việt.
- Miêu tả dòng thời gian tinh thần: Luận án là công trình đầu tiên miêu tả cấu trúc, trục định hướng và sự phân bố quá khứ - tương lai của dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận.
- Bổ sung và hiệu chỉnh mô hình khung quy chiếu: Luận án bổ sung các sự tình diễn ra đồng thời tại thời điểm nói vào khung quy chiếu nội tại trực chỉ – một trường hợp chưa được các công trình lý thuyết quốc tế trước đó miêu tả đầy đủ. Đồng thời, luận án chỉ ra các mô hình biến thể của khung quy chiếu tương đối tiếng Việt trên cả tình huống tĩnh và động.
- Làm rõ tính chọn lọc của sự đồ chiếu: Luận án chứng minh sự đồ chiếu từ không gian sang thời gian không diễn ra trọn vẹn mà có sự bất đối xứng, chỉ ra cụ thể những cấu trúc không gian không được đồ chiếu sang miền thời gian do đặc tính một chiều của thời gian.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy: Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy chuyên đề Ngôn ngữ học tri nhận, Ngữ nghĩa học, và Ngữ pháp tiếng Việt ở bậc đại học và sau đại học.
- Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ: Cung cấp cơ sở tri nhận giúp giải thích cho người nước ngoài về các cách dùng thời gian phức tạp và lưỡng khả trong tiếng Việt (như tại sao vừa có thể nói lùi về quá khứ, vừa có thể nói lùi lịch sang tương lai; sự phân biệt giữa trước/sau, qua/sang, tới/đến).
- Biên soạn từ điển và dịch thuật: Cung cấp căn cứ ngữ nghĩa tri nhận và cấu trúc tham tố phục vụ việc phân tách nghĩa, miêu tả mục từ trong từ điển tiếng Việt và xử lý dịch thuật các biểu thức thời gian đa nghĩa giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án tập trung khảo sát trọng tâm vào nhóm từ ngữ có nguồn gốc không gian (trước, sau, trên, dưới, lên, xuống, lùi, qua, sang, tới, đến), chưa mở rộng phân tích toàn diện khả năng tham gia quy chiếu thời gian của nhóm đại từ chỉ định (nay, này, đây, đấy, đó, ấy, nọ, kia) và nhóm tính từ đo lường thời gian do giới hạn dung lượng.
- Ngữ liệu phân tích định lượng được giới hạn trên kho ngữ liệu báo chí điện tử (https://s.net/corpus/) và một số tác phẩm văn học, từ điển chọn mẫu, chưa bao quát toàn bộ các phong cách chức năng ngôn ngữ khác (như khẩu ngữ hội thoại tự nhiên quy mô lớn).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu quy chiếu thời gian sang nhóm đại từ không gian - thời gian và các kết hợp thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ tiếng Việt.
- Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học ngôn ngữ (Psycholinguistics) hoặc thực nghiệm cử chỉ (Gesture studies) để kiểm chứng tính hiện thực tâm lý của dòng thời gian tinh thần và các khung quy chiếu ở người bản ngữ tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết Ngôn ngữ học tri nhận, phương pháp phân tích ngữ nghĩa vị từ - tham tố, cơ chế ẩn dụ ý niệm và phương pháp luận nghiên cứu khung quy chiếu.
- Giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL): Sử dụng các mô hình phối cảnh Hình - Nền và lược đồ dòng thời gian tinh thần để thiết kế bài giảng giải thích các hiện tượng ngữ pháp - ngữ nghĩa về thời gian trong tiếng Việt nâng cao.
- Chuyên gia biên soạn từ điển học và dịch giả: Vận dụng các phát hiện về sự chuyển khung ngữ nghĩa của các vị từ lùi, qua, sang, tới, đến để định nghĩa chính xác các nét nghĩa thời gian và lựa chọn phương án dịch tương đương trong đối chiếu ngôn ngữ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt phân bố theo những trục nào?
Luận án xác định dòng thời gian tinh thần trong tiếng Việt phân bố chủ yếu trên trục ngang trước – sau (trong đó trước và sau vừa biểu đạt quan hệ chuỗi sớm hơn/muộn hơn, vừa biểu đạt định hướng tương lai/quá khứ theo phối cảnh người quan sát). Ngoài ra, tiếng Việt còn ghi nhận sự phân bố theo trục thẳng đứng trên – dưới (năm trên, năm dưới, thế hệ trên, đời dưới) và trục ngang phụ trái – phải chịu tác động của quy ước đọc và viết văn bản.
2. Sự khác biệt giữa biến thể phản chiếu và biến thể chuyển dịch trong khung quy chiếu thời gian tương đối là gì?
Trong khung quy chiếu thời gian tương đối (quan hệ tam tố $F, G, V$):
- Biến thể chuyển dịch (Translation): Hệ tọa độ của người quan sát $V$ được tịnh tiến giữ nguyên hướng sang mốc Nền $G$.
- Biến thể phản chiếu (Reflection): Trục trước - sau của người quan sát $V$ được lật ngược $180^\circ$ khi đồ chiếu sang mốc Nền $G$, tạo nên cấu trúc đối diện giữa người quan sát và mốc thời gian.
3. Tại sao từ "lùi" trong tiếng Việt vừa có thể chỉ sự dịch chuyển về quá khứ, vừa chỉ sự dịch chuyển về tương lai?
Hiện tượng này xuất phát từ hai mô hình phối cảnh tri nhận khác nhau:
- Khi phối cảnh dựa trên dòng thời gian hướng về quá khứ hoặc sự kiện lùi xa khỏi tầm mắt hiện tại của Ego, lùi mang nghĩa dịch chuyển về quá khứ (Chiến tranh lùi xa; Lùi về năm 2019).
- Khi phối cảnh dựa trên lịch trình kế hoạch bị tác động dịch chuyển so với mốc thời gian ấn định ban đầu ($G$), sự kiện ($F$) bị đẩy dời xa hơn về phía tương lai, người Việt dùng lùi để chỉ việc hoãn lại thời điểm muộn hơn (Lùi lịch họp sang tuần sau; Lùi thời điểm phóng vệ tinh lại một ngày).
4. Vị từ "qua" và "sang" khác nhau như thế nào khi biểu đạt thời gian trong tiếng Việt?
Cả hai từ đều có gốc không gian chỉ sự vượt qua ranh giới, nhưng khi đồ chiếu sang thời gian:
- Qua nhấn mạnh vào trạng thái kết thúc, vượt qua hẳn một mốc/khoảng thời gian để hoàn tất hoặc chuyển sang trạng thái sau đó (Qua tết; Tháng ngày trôi qua).
- Sang nhấn mạnh vào sự chuyển tiếp, bước vào khởi đầu của một phân đoạn thời gian mới trong chuỗi thời gian tuần hoàn hoặc tuyến tính (Xuân sang; Sang năm mới; Chuyển sang thứ Sáu).
5. Khung quy chiếu thời gian tuyệt đối trong tiếng Việt được nhận diện qua những biểu thức nào?
Khung quy chiếu thời gian tuyệt đối nhận diện thời gian như một ma trận tổng thể độc lập với vị trí chủ quan của Ego. Các biểu thức nhận diện gồm: các câu miêu tả dòng chảy tự thân của thời gian (Thời gian trôi mãi mãi; Thời gian thấm thoắt thoi đưa), hoặc các biểu thức định vị sự tình vào các phân đoạn/mốc đo lường cố định của hệ thống lịch pháp và đồng hồ (Vào lúc 7 giờ; Trong tháng 6; Năm 1945).
Kết luận
Luận án "Quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận" của tác giả Lê Thị Cẩm Vân là công trình nghiên cứu chuyên sâu, vận dụng hệ thống Lý thuyết Khung quy chiếu thời gian vào phân tích cứ liệu tiếng Việt. Công trình đã làm rõ cấu trúc của dòng thời gian tinh thần, phân loại và miêu tả chi tiết ba loại khung quy chiếu (tuyệt đối, nội tại, tương đối) cùng các biến thể của chúng trong tiếng Việt. Luận án làm sáng tỏ cơ chế tri nhận và sự chuyển khung ngữ nghĩa từ không gian sang thời gian qua các trường hợp điển hình (lùi, qua, sang, tới, đến), chỉ ra tính chọn lọc và sự bất đối xứng của quá trình đồ chiếu. Các phát hiện của luận án đóng góp nguồn ngữ liệu và luận điểm mới cho lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, đồng thời có giá trị ứng dụng thiết thực trong giảng dạy ngôn ngữ, biên soạn từ điển và dịch thuật.