CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Mối quan hệ giữa linh thần với đời sống tâm linh, tín ngưỡng người Việt 1. Đời sống tín ngưỡng ở Việt Nam Việt Nam là một dân tộc có đời sống văn hóa, đời sống tâm linh, tín ngưỡng lâu đời, đa dạng, phong phú, đặc sắc. Đời sống ấy được biểu hiện thông qua cách nhìn, cách nhận thức của con người về vũ trụ, thế giới, nhân sinh.
Như mọi dân tộc khác, từ xa xưa, người Việt đã hình thành nên một thứ vũ trụ luận cho riêng mình. Điều đó được biểu hiện qua việc thờ cúng totem (vật tổ), vật linh với những dấu vết lưu lại trong nhiều công trình kiến trúc, trong các phong tục, tín ngưỡng, trong các lễ hội, diễn xướng dân gian. Đó là tục thờ chim, tục thờ những loài thủy tộc (rồng, rắn, cá sấu, giao long, ba ba, thuồng luồng, …) của người Việt cổ cũng như ở các cư dân miền núi. Tín ngưỡng cổ nhất của người Việt là hai totem: rồng - chim.
Chúng đã hòa hợp thành biểu tượng cha Rồng - mẹ Tiên (Lạc Long Quân - Âu Cơ), và được xem là totem giáo chung của dân tộc buổi đầu dựng nước. Đời sống tâm linh ấy ăn sâu vào trong tiềm thức cư dân mọi vùng miền và trở thành một năng lực sống qua mọi thời đại. Như vậy, đời sống tâm linh, trước hết, được hiểu là tinh thần, tâm hồn, tình cảm hướng về thế giới siêu thực của một cá nhân hay cộng đồng được bảo lưu qua nhiều thế hệ và có vai trò chi phối đến cuộc sống. Thực ra, để hiểu cho đúng nghĩa của nó, chúng tôi phải tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Tuy cùng xuất phát từ một khái niệm nhưng cách hiểu và lý giải vẫn có nhiều chỗ lệch nhau về cấp độ nhận thức. Theo cách hiểu đơn giản nhất trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) và Từ điển tiếng Việt 2000, tâm linh được hiểu là “tâm hồn, tinh thần”. Trong đó, “tâm hồn” là “ý nghĩ và tình cảm làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người” [66, tr.896] và “tinh thần” là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người” [66; tr. Cách 18 hiểu như vậy thiên về khoa học tâm lý hiện đại mà chưa đề cập đến mặt vô thức, siêu nghiệm của con người trước bí hiểm của thế giới.
Dù sao cách hiểu thế giới tâm linh là thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần, tình cảm của con người cũng không phải sai nhưng chưa đề cập đến chiều sâu, tính đa dạng của nó. Vấn đề này còn được chú giải sâu hơn ở khía cạnh: tâm linh là khả năng phán đoán, biết trước sự việc sẽ xảy đến. Trong Đại từ điển tiếng Việt, tâm linh là “khả năng cảm nhận, đoán định trước các biến cố xảy ra với mình” [98, tr. Tương tự, trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), tâm linh là “khả năng biết trước một số biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [66, tr.
Vậy, trong trường hợp này, tâm linh được hiểu với nghĩa “tiên tri”. Dưới góc độ thế giới quan và vũ trụ quan, tâm linh được hiểu là các hiện tượng gắn với thế giới của người đã khuất. Trong tiếng Anh có hai thuật ngữ đề cập đến vấn đề này. Thuật ngữ spiritism (thuyết thông linh) và spiritualism (thuyết duy linh; việc duy linh).
Thuyết thông linh (spiritism) giả định về một số hiện tượng liên quan đến thế giới siêu nhiên cần sự can thiệp của người chết, người sống có thể liên lạc với người chết qua lực lượng trung gian là thế giới đồng cốt, những ông bóng, bà bóng, những người được tin là có khả năng trò chuyện với người chết. Thuyết duy linh (spiritualism) là niềm tin tôn giáo, triết học về sự tồn tại sau cái chết. Chủ nghĩa duy linh tin rằng có linh hồn, âm hồn, thánh thần, cõi thiêng luôn tồn tại. Như vậy, trong trường hợp này tâm linh được hiểu là niềm tin thiêng liêng vào sự tồn tại bất tử của linh hồn, là khả năng thông linh với linh hồn, hay nói cách khác là mối quan hệ giữa thế giới thực tại và thế giới siêu thực.
Ngoài ra, trong Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh, tâm linh còn được định nghĩa là “cái trí tuệ có trong lòng người” [5, tr. Nếu như con người có trí não để tư duy, phán xét sự việc theo quy luật khách quan của lí trí thì tinh thần, tình cảm, tâm hồn của con người cũng chứa đựng một “trí thông minh”, một “trí tuệ” để cảm nhận những gì diễn ra ngoài quy luật khách quan mà tư duy lí tính không phán đoán được. Với ý nghĩa này, tâm linh có thể hiểu là trí tuệ của tâm hồn. 19 Khái niệm tâm linh còn có thể được xét ở hình thức ngôn từ của chính nó và nhất là từ thực tiễn đời sống tinh thần của con người.
Tâm linh gồm hai chữ “tâm” và “linh”. Chữ “tâm” ở đây được hiểu là “tâm niệm”, nghĩa là “thường xuyên nghĩ tới và tự nhắc mình để ghi nhớ, làm theo”. Có thể hiểu “tâm” trong “tâm linh” là niềm tin. Còn “linh” là “thiêng” trong linh thiêng, thiêng liêng.
Vậy, “tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng”. Tâm linh là một phần quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh thần con người, nó quan trọng với mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Bởi, con người sống trên cõi đời, ngoài sự hiện hữu của thể xác còn tồn tại mặt tâm linh của tâm hồn. Mặt hiện hữu thường được nhận thức bằng lí trí, lí tính còn tâm linh thường gắn với nhận thức cảm tính.
Tâm linh có khuynh hướng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, mông lung, nhưng lại cần thiết cho việc cân bằng đời sống tinh thần con người. Vì, “con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh” [58, tr. Một khía cạnh khác của tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, cao cả mà con người luôn hướng tới, luôn tin tưởng nên nó có giá trị gắn kết cộng đồng trên cơ sở cái thiêng liêng, cao cả ấy. Thế giới tâm linh là vô hình nhưng nó lại được biểu hiện qua những hoạt động hữu hình trong đời sống hằng ngày của con người.
Do vậy, tâm linh có mặt trong đời sống tinh thần, đời sống xã hội và đời sống tôn giáo, tín ngưỡng “không chỉ có Thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lí cũng thiêng liêng không kém” [85, tr. Từ tính chất đa nghĩa, đa trị ấy mà Nguyễn Đăng Duy đã phát biểu về khái niệm tâm linh một cách khá toàn diện: “Tâm linh là cái thiêng liêng, cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng Tôn giáo. Những cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng đọng lại ở những không gian, biểu tượng, hình ảnh, ý niệm thiêng liêng” [16, tr. Biểu hiện của tâm linh trong đời sống tín ngưỡng Rõ ràng, có nhiều cách hiểu về tâm linh.
Song, biểu hiện của nó trong đời sống tín ngưỡng, tinh thần của người Việt thì như thế nào? 20 Có thể nói, đời sống tâm linh của người Việt được biểu hiện ở niềm tin vĩnh cửu của họ vào “cái thiêng”, vào “hoàn cảnh thiêng”, “không gian thiêng”, “thời gian thiêng”. Đó là những hoàn cảnh, những nỗi niềm riêng tây. Đó là không, thời gian của trời, thần, Phật, của thế giới bên kia; của ngày Giỗ, Tết, lễ hội, … Không, thời gian đó là thời điểm thuận lợi giúp con người, lòng người giao hòa cùng đất trời, cùng các thế lực siêu nhiên, các thế lực thiêng liêng. Trong những hoàn cảnh ấy, trong không gian, thời gian tâm linh ấy tâm hồn con người thật sự được giải tỏa.
Con người có thể cầu mong cho mình và người thân những điều tốt lành, có thể cởi bỏ những ưu phiền đeo mang trong lòng. Người Việt có phong tục thắp nén hương lên bàn thờ gia đình, cầu mong tổ tiên, thần hộ mệnh thiêng liêng phù hộ cho gia đình bình yên, mạnh khỏe, ăn nên làm ra vào các ngày rằm, mồng một. Điều đó giúp con người yên tâm thanh thản làm ăn, tâm linh được giải tỏa. Nhu cầu thể hiện niềm tin vào sự thiêng liêng được đáp ứng.
Như vậy, tâm linh là niềm tin vào sự thiêng liêng có ở trong mỗi con người, trong mỗi gia đình, trong khắp cộng đồng. Tâm linh được thể hiện trong nhiều mặt của đời sống tinh thần con người, nhất là trong tín ngưỡng, tôn giáo. Trước đây, khi nói về việc thờ cúng thần, Phật, người ta thường dùng thuật ngữ linh thiêng, kèm theo những khái niệm tối linh, linh ứng, linh nghiệm, những từ này chỉ nói được về một phía thần, Phật (linh thiêng). Chữ tâm linh nói lên được cả hai phía thần, Phật “linh thiêng” và niềm tin của con người vào sự linh thiêng ấy.
Việt Nam là dân tộc có truyền thống nông nghiệp lúa nước rất đặc trưng. Đời sống tâm linh của người Việt thể hiện ở tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, sùng bái con người. Trước những điều “thiêng liêng” con người dùng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái. Đó cũng là nhân tố cơ bản hình thành và chi phối đời sống tâm linh của người Việt.
Tâm linh với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Đời sống tâm linh, tinh thần của người Việt được thể hiện ở quan niệm cho rằng “mọi vật đều có linh hồn”. Đây là hiện tượng mà các nhà dân tộc học gọi là 21 thuyết “vạn vật hữu linh”. Thuyết này ngay từ đầu đã trở thành nhận thức phổ biến trong tiến trình phát triển của văn hóa nhân loại, khi “con người động vật trở thành con người xã hội” [53, tr. Như trên có nói, tín ngưỡng của người Việt bắt đầu từ hiện tượng người Việt cổ thờ thần lửa, thần Mặt trời, thần nước (thủy thần); tục thờ các con vật hiền lành, gần gũi với cuộc sống của người nông dân: trâu, cóc, chim, rắn, cá sấu; thờ những con vật mang ý nghĩa biểu trưng: rùa, rồng.
Xuất phát từ tín ngưỡng thờ vật tổ của một số tộc người sinh sống ở miền núi nước ta, rùa vàng vì thế cũng được xem là vật linh. Cùng với biểu tượng rồng - chim, rùa vàng cũng đi vào truyền thống văn hóa Việt và trở thành huyền thoại về sự ra đời của nhà nước Âu Lạc.