đặt vấn đề riêng đã có những kiến giải khác nhau xung quanh khái niệm này. Thật khó để tập trung đầy đủ nhưng chúng tôi sẽ cố gắng chọn lựa một số ý kiến tiêu biểu bàn về cụm từ này trên thế giới và ở Việt Nam rồi trên cơ sở đó xác định những đặc điểm cơ bản của thể tài tiểu thuyết này. Từ khoảng thế kỷ thứ XVIII, cụm từ “Tiểu thuyết phong tục” (novel of manners, roman de moeurs) đã được các nhà nghiên cứu văn học thế giới đề cập đến với tư cách là một thể tài văn học. Người quan tâm đề tài, người quan tâm hình thức, người quan tâm cả nội dung lẫn hình thức nhưng về cơ bản tất cả họ đều đã đưa ra cách hiểu của mình về thế nào là một tiểu thuyết phong tục.
Abrams trong Từ điển thuật ngữ Văn học, định nghĩa tiểu thuyết phong tục là tiểu thuyết nghiên cứu, tìm hiểu về phong tục và những thói quen, tập tục của một cộng đồng văn hóa nào đó. Harris, ông chú thích, trong tiểu thuyết Tu viện Northanger của Jane Austen, tiểu thuyết phong tục khảo sát tỉ mỉ thái độ cư xử, tư cách đạo đức xã hội có chuẩn mực hoặc không chuẩn mực. Tiếp tục sau đó, khi phân loại tiểu thuyết, nhà nghiên cứu văn học này đã đưa ra cách hiểu cặn kẽ hơn: Đây là loại tiểu thuyết tập trung mô tả một cách chi tiết những phong tục tập quán của một nhóm xã hội đặc biệt. Những phong tục này thường thực hiện chức năng kiểm soát và điều khiển hành vi ứng xử của các nhân vật.
Trang web http://www.com/eb/article_51001 cũng đã đề cập đến nhiệm vụ của nhà viết tiểu thuyết phong tục. Đó là những người có khả năng truyền đạt lại cho hậu thế những cách thức ứng xử xã hội thời anh ta sống. Hai nhà nghiên cứu văn học Dorothy Brewster và John Burrell trong tiểu luận Tiểu thuyết hiện đại trình bày rõ ràng quan điểm của mình về thế nào là một tiểu thuyết phong tục: “Tiểu thuyết phong tục là truyện của những cá nhân được coi như là những giá trị tinh thần, mô tả trong sự tiếp xúc với nhau và với xã hội. Sự mô tả này đôi khi châm biếm, đôi khi hài hước, nhưng luôn luôn đạo đức” [25, tr.
Hay trong Sổ tay Văn học, Harmon William và Hugh Holman nhấn mạnh đây là một loại tiểu thuyết mà ở đó phong tục, tập quán, tục lệ và thói quen của một tầng lớp xã hội nhất định có vai trò quyết định. Trong một tiểu thuyết phong tục đích thực, tập tục của một nhóm người đặc biệt được mô tả một cách chi tiết, với sự chính xác cao. Phong tục ấy trở nên có quyền lực điều khiển nhân vật. Tuy không bắt buộc nhưng tiểu thuyết phong tục thường có tính chất trào phúng.
Tóm lại, khi bàn đến thể tài tiểu thuyết phong tục, các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới, người thì quan tâm về đề tài, người quan tâm về nội dung và hình thức, hay tác dụng nghệ thuật của thể tài, … nhưng nhìn chung, xung quanh những ý kiến của họ ta có thể nhận ra rằng họ đã xem đây là thuật ngữ dùng để gọi tên một thể tài văn học. Thể tài văn học này chủ yếu lấy những vấn đề liên quan đến phong tục tập quán trong xã hội làm nội dung phản ánh. Đó có thể là tập tục của một nhóm người, hay một dân tộc tồn tại trong một thời đại nhất định. Về phương pháp sáng tác, những người viết tiểu thuyết phong tục thường sáng tác theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa.
Những sáng tác này do đó có thể tái hiện đầy đủ về cách thức sinh hoạt của con người trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Người đọc tiểu thuyết phong tục vì vậy dễ dàng rút ra được nhiều bài học ứng xử quý báu cho cuộc sống của mình. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tiểu thuyết phong tục đã có mặt trên văn đàn văn học Việt Nam. Vì vậy, trong một số sách lý luận văn học, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã nhắc đến cụm từ “tiểu thuyết phong tục” và xem đây là một thể tài.
Tuy nhiên, cách hiểu về thể tài văn học này đến nay vẫn chưa được thống nhất. Khảo về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh do Nam phong tùng thư xuất bản năm 1929 chia tiểu thuyết ra ba loại: tiểu thuyết ngôn tình, tiểu thuyết tả thực và tiểu thuyết truyền kì. Sau đó, ông đồng nhất tiểu thuyết tả thực với tiểu thuyết phong tục: “Tiểu thuyết tả thực – Loại này tiếng Tây gọi là tiểu thuyết về phong tục (romans de moeurs), nghĩa là cốt tả cái tình trạng trong xã hội theo như thói ăn cách ở của người đời, thứ nhất là người đương thời; cho nên cũng có thể gọi là tiểu thuyết tả thực được, vì cứ theo như cái cảnh thực ở trước mắt mà diễn tả ấy thường thường bao giờ cũng có ý bao biếm, ý khuyên răn ở đó, dẫu nhà làm sách không rặp tâm khen chê răn dạy gì ai, mà cái ý khuyên răn bao biếm bao giờ cũng có ngụ ở trong” [89, tr. Cách hiểu này của Phạm Quỳnh đã vô tình quy các thể tài tiểu thuyết có khuynh hướng tả thực như tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý, … đều là tiểu thuyết phong tục.
Chúng tôi nghĩ rằng không hoàn toàn như vậy. Nội dung của tiểu thuyết phong tục yêu cầu phải có tính hiện thực nhưng không phải vì vậy mà chúng ta có thể xem mọi tác phẩm có khuynh hướng tả thực cũng đều là tiểu thuyết phong tục. Năm 1941, trong công trình nghiên cứu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê khi bàn về tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam lại chia tiểu thuyết thành chín loại. Lần lượt đi vào từng loại với những nhà văn và tác phẩm tiêu biểu, đến loại tiểu thuyết phong tục, ông viết: “Phong tục tiểu thuyết về miền thượng du Bắc Kỳ của Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối đàn, Truyện lạ đường rừng), về miền sơn cước Trung Kỳ của Lưu Trọng Lư (Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh) của Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) và nhứt là quyển Lều chõng cự đại của Ngô Tất Tố” [57, tr.
Như vậy, theo cách phân chia của Mộc Khuê, Trần Tiêu với tác phẩm Con trâu và Chồng con đã được xếp vào loại tiểu thuyết phong tục của một vùng miền. Đến năm 1942, Nhà văn hiện đại – quyển bốn của Vũ Ngọc Phan lại chia tiểu thuyết ra mười loại: phong tục, luận đề, luân lý, truyền kỳ, phóng sự, hoạt kê, tả chân, xã hội, tình cảm và trinh thám. Ở mỗi loại, Vũ Ngọc Phan cũng chọn dẫn ra vài tác giả, tác phẩm tiêu biểu để phân tích. Và các sáng tác của Khái Hưng, Trần Tiêu, Mạnh Phú Tư, Bùi Hiển và Thiết Can đã được nhà nghiên cứu chọn lựa làm dẫn chứng minh họa cho thể tài tiểu thuyết phong tục: “Nếu đọc những tác phẩm của ông (Khái Hưng – PTMT) từ Hồn bướm mơ tiên cho đến những tập gần đây nhất của ông, như Hạnh, người ta thấy ông mới đầu chú trọng vào lý tưởng, rồi dần dần ông lưu tâm đến thực tế và viết rặt những tiểu thuyết tả thực về phong tục, lấy sự chân xác làm điều cốt yếu (…) Những tiểu thuyết ấy đều là những bài học rất hay cho những người bảo thủ thái quá” [83, tr.
780], hay “Ông (Trần Tiêu – PTMT) là một nhà tiểu thuyết chuyên viết về dân quê. Người ta tưởng ông viết riêng về cách sinh hoạt, về sự sống của người Việt Nam ở nơi đồng ruộng, nhưng đọc kỹ những tiểu thuyết của ông, người ta mới thấy ông chuyên chú vào phong tục của người dân quê nhiều hơn là cuộc sống nghèo nàn và không tổ chức của họ. Tiểu thuyết của ông thuộc vào loại tiểu thuyết phong tục thôn quê nhiều hơn là thuộc vào loại tiểu thuyết xã hội” [83, tr. Qua nội dung của những nhận định trên, ta có thể nói rằng tuy tác giả công trình Ba mươi năm văn học cũng như Nhà văn hiện đại không trực tiếp xác lập lý thuyết bàn về tiểu thuyết phong tục nhưng việc phân loại cùng những ý kiến đánh giá của hai ông dành cho từng tác phẩm đã ít nhiều giúp chúng ta xác định về mặt nội dung của thể tài tiểu thuyết phong tục.
Tiểu thuyết phong tục đó là những tiểu thuyết viết về nếp sống đặc trưng của một loại người, một vùng miền. Sau Vũ Ngọc Phan là Bạch Năng Thi. Trong bài Khái Hưng, Bạch Năng Thi viết: “Phong trào bình dân, cái thị hiếu của độc giả có thay đổi, sự tấn công của văn phái hiện thực chủ nghĩa và của những người tiến bộ ủng hộ chủ nghĩa hiện thực và đả kích chủ nghĩa lãng mạn, làm cho Khái Hưng ít nhiều phải thay đổi đề tài và cách sáng tác (…) và nhất là đi sâu hơn nữa vào loại tiểu thuyết phong tục là loại tiểu thuyết đòi hỏi phải miêu tả con người và sự việc có thực trong đời sống (Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, Băn khoăn). Khi sáng tác tiểu thuyết phong tục, nhà văn không thể rời bỏ xu hướng lãng mạn cố hữu của mình, nhưng yếu tố hiện thực có tăng lên trong tác phẩm”.
Không dừng ở đó, đến bài Khái Hưng – từ tiểu thuyết lý tưởng, phong tục đến tiểu thuyết tâm lý, ông khẳng định: “Thừa tự cũng như Gia đình là tiêu biểu cho loại tiểu thuyết phong tục. Loại tiểu thuyết này chưa có nhiều ở nước ta vì người viết phải am hiểu tường tận phong tục trong nước, phải chú ý tới các phong tục ấy để quan sát; một chuyện về phong tục lại dễ khô khan, tẻ nhạt, không hấp dẫn đối với một số lớn độc giả. Tuy nhiên, ta thấy Khái Hưng vẫn giữ vững giá trị của mình trong loại tiểu thuyết này” [40, tr. Đến năm 1962, Thanh Lãng có bài viết Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 – 1945 in trên tạp chí Đại học số 2,3 một lần nữa trở lại công việc phân loại tiểu thuyết.
Tiểu thuyết thế hệ 32 được Thanh Lãng chia làm tám ý hướng. Phong tục được xem là một trong số tám ý hướng đó. Ông viết: “Đã hẳn việc mô tả phong tục có liên hệ đến tâm lý vì nó cũng nhằm khảo xét những trạng thái tâm hồn, những tình cảm, những mối đam mê, những kỳ chứng (manies). Cái khác nhau chỉ là ở đây khảo xét các trạng thái tâm hồn công cộng, giống nhau của cả một đoàn thể đông đúc.
Theo nguyên tắc, việc khảo xét tâm lý sở dĩ gây được hứng thú là khi tâm lý đó càng có bản sắc đặc biệt, khác những tâm lý khác.