Giáo Trình Lịch Sử Việt Nam Tập IV: Từ 1858 Đến 1918 Phần 2

Giáo trình về lịch sử việt nam tập iv từ 1858 đến 1918 phần 2, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
195
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

4. CHƯƠNG 4: VIỆT NAM TỪ 1885 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX

4.1. Tình hình Việt Nam sau các hiệp ước Hácmãng và Patơnốt. Sự phân hoá trong nội bộ triều đình Huế. Cuộc tấn công quân Pháp của phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu (tháng 7/1885)

4.2. Vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành hạ chiếu Cần Cương. Sĩ phu và nhân dân cả nước hưởng ứng. Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng ra khắp cả nước

4.3. Thực dân Pháp tiếp tục chính sách bình định bằng quân sự và bước đầu thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam

4.4. Những biến đổi về kinh tế - xã hội nước ta trong những năm cuối thế kỉ XIX

Tóm tắt

I. Tổng Quan Lịch Sử Việt Nam Từ 1858 Đến 1918

Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến 1918 là một giai đoạn đầy biến động, đánh dấu sự xâm lược của thực dân Pháp và những nỗ lực kháng chiến của nhân dân. Giai đoạn này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong chính trị mà còn là sự chuyển mình của xã hội Việt Nam. Các hiệp ước Hácmăng và Patơnốt đã đặt nền móng cho sự thống trị của thực dân Pháp, đồng thời khơi dậy tinh thần yêu nước trong nhân dân.

1.1. Tình Hình Chính Trị Việt Nam Sau Năm 1858

Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, tình hình chính trị Việt Nam trở nên rối ren. Nhà Nguyễn đã đầu hàng, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền phong kiến. Tuy nhiên, phong trào kháng chiến của nhân dân vẫn tiếp tục bùng nổ, thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc.

1.2. Những Biến Đổi Trong Xã Hội Việt Nam

Giai đoạn này chứng kiến sự thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội Việt Nam. Nhiều phong trào yêu nước đã hình thành, phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ đối với chính sách thực dân. Các tầng lớp nhân dân, từ nông dân đến trí thức, đều tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập.

II. Vấn Đề Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra mạnh mẽ từ những năm 1880. Các phong trào yêu nước như Cần Vương đã lan rộng khắp cả nước, thể hiện sự đoàn kết và quyết tâm của nhân dân Việt Nam. Những cuộc khởi nghĩa này không chỉ nhằm chống lại sự áp bức mà còn để khôi phục lại độc lập cho đất nước.

2.1. Phong Trào Cần Vương Và Vai Trò Của Vua Hàm Nghi

Phong trào Cần Vương được khởi xướng bởi vua Hàm Nghi, người đã kêu gọi nhân dân đứng lên chống lại thực dân Pháp. Sự kiện này đã tạo ra một làn sóng kháng chiến mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp trong xã hội.

2.2. Những Cuộc Khởi Nghĩa Nổi Bật

Nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra trong giai đoạn này, như cuộc khởi nghĩa của Tôn Thất Thuyết. Những cuộc khởi nghĩa này không chỉ thể hiện tinh thần yêu nước mà còn là minh chứng cho sự phản kháng quyết liệt của nhân dân trước sự xâm lược của thực dân.

III. Phân Hóa Trong Nội Bộ Triều Đình Huế

Trong bối cảnh kháng chiến, nội bộ triều đình Huế cũng diễn ra sự phân hóa mạnh mẽ giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa. Sự mâu thuẫn này đã ảnh hưởng lớn đến khả năng lãnh đạo và tổ chức kháng chiến của triều đình.

3.1. Phe Chủ Chiến Và Những Nỗ Lực Kháng Chiến

Phe chủ chiến, do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc tổ chức lực lượng kháng chiến. Họ đã xây dựng các căn cứ và củng cố quân đội để chuẩn bị cho cuộc chiến chống thực dân.

3.2. Phe Chủ Hòa Và Sự Đầu Hàng

Ngược lại, phe chủ hòa lại tìm cách hợp tác với thực dân Pháp, dẫn đến sự suy yếu trong khả năng kháng chiến của triều đình. Sự phân hóa này đã tạo ra những mâu thuẫn nội bộ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến chung.

IV. Chính Sách Bình Định Của Thực Dân Pháp

Thực dân Pháp đã áp dụng nhiều chính sách bình định nhằm kiểm soát và đàn áp phong trào kháng chiến. Những chính sách này không chỉ gây ra nhiều đau thương cho nhân dân mà còn làm gia tăng tinh thần chống đối trong xã hội.

4.1. Các Biện Pháp Đàn Áp Kháng Chiến

Thực dân Pháp đã sử dụng quân đội và các biện pháp quân sự để đàn áp phong trào kháng chiến. Những cuộc tấn công vào các căn cứ kháng chiến đã gây ra nhiều tổn thất cho lực lượng yêu nước.

4.2. Tác Động Đến Kinh Tế Xã Hội

Chính sách bình định của thực dân Pháp đã gây ra nhiều biến động trong kinh tế - xã hội Việt Nam. Nhiều người dân phải chịu đựng cảnh đói nghèo, trong khi các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục diễn ra.

V. Kết Luận Về Lịch Sử Việt Nam Từ 1858 Đến 1918

Giai đoạn từ 1858 đến 1918 là một thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự xâm lược của thực dân Pháp và những nỗ lực kháng chiến của nhân dân. Những sự kiện trong giai đoạn này đã tạo ra nền tảng cho các phong trào yêu nước sau này, góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho đất nước.

5.1. Di Sản Lịch Sử Của Giai Đoạn Này

Di sản lịch sử từ giai đoạn này không chỉ là những bài học về lòng yêu nước mà còn là những kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

5.2. Tương Lai Của Lịch Sử Việt Nam

Những sự kiện trong giai đoạn này đã định hình tương lai của Việt Nam, tạo ra động lực cho các phong trào yêu nước tiếp theo. Tinh thần kháng chiến và lòng yêu nước vẫn tiếp tục được gìn giữ và phát huy trong các thế hệ sau.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ChươNq 4 VIỆT NAM TỪ 1885 ĐẾN c u ố i THÊ KỈ XIX NỘI DUNG CHƯƠNG - Tinh hình Việt Nam sau các hiệp ước Hácmãng và Patơnốt. Sự phân hoá trong nội bộ triều đình Huế. Cuộc tấn công quân Pháp của phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu (tháng 7/1885). - Vua Hàm Nghi rời bỏ Kinh thành hạ chiếu Cần Cương.

Sĩ phu và nhân dân cả nước hưởng ứng. Phong trào Cần Vương bùng nổ và lan rộng ra khắp cả nước. - Thực dân Pháp tiếp tục chính sách bình định bằng quân sự và bước đầu thiết lập chế độ thuộc địa tại Việt Nam. - Những biến đổi về kinh tế - xã hội nước ta trong những năm cuối thế kỉ XIX.

NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐÂU TRANH CHỐNG CHÍNH SÁCH BÌNH ĐỊNH CỦA THỰC DÂN PHÁP 1. Tình hình Việt Nam sau các hiệp ước 1883 và 1884 a. Nhà Nguyễn đâu hàng thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam tiếp tục đứng lên chống xâm lược Sau hai hiệp ước: Hácmăng (25/8/1883) và Patơnốt (6/6/1884), Nhà nước phong kiên Việt Nam độc lập đã bị sụp đổ hoàn toàn.

Các hiệp ước này đã xác định quyền thống trị của tư bản Pháp trên đất nước ta, đồng thời xác định luôn vị trí tay sai của Nhà nước phong kiến Nguyễn đối với nền thống trị ấy. Liền sau Hiệp ước Patơnốt, thực dân Pháp đã rơi vào một tình thế khó xử, phải đối phó với một tình thế chính trị vô cùng rối ren. Thứ nhất: Sau khi nhà Nguyễn đầu hàng toàn bộ, phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam tiếp tục bùng nổ. Các căn cứ, các trung tâm, các đạo nghĩa quân chống Pháp tiếp tục xuất hiện.

Thứ hai: Tuy đã có Quy ước Thiên Tân (11/5/1884) nhưng quãn Thanh vẫn dùng dằng chưa chịu rút khỏi lãnh thổ Bắc Kì. Trong khi đó, phe chu chiến 166 trong triều đình Huế đang khẩn trương chuẩn bị, quyết một phen sống mái với quân thù. Mười tám ngày sau khi Hiệp ước Patơnốt được kí kết, quân Pháp thua to ở cầu Quan Âm (23/6/1884) rồi' sau đó là trận Bắc Lộ (24/6/1884) khiến Nội các Pheri chao đảo. Lợi dụng sự rối loạn của quân Pháp, lực lượng kháng chiến do Hoàng Đình Kinh cầm đầu và các lực lượng nghĩa quân ở vùng đổng bằng, trung du Bắc Kì nhanh chóng được tổ chức lại, vừa đánh địch bảo vệ xóm làng, vừa ngăn chặn các cuộc hành quân bình định liên miên của thực dân Pháp.

Để đối phó với các lực lượng yêu nước trên chiến trường Bắc Kì, thực dân Pháp đã phải huy độhg đến một lực lượng quân đội lớn đông đến trên 2 vạn do các tướng lĩnh, các đô đốc sừng sỏ, dày dạn kinh nghiệm làm tư lệnh, đồng thời ra sức sử dụng lực lượng nguỵ binh cũng như bọn phong kiến Nam triều, vừa đe doạ, vừa phủ dụ dân chúng. Tuy vậy, mọi nỗ lực của thực dân Pháp, từ Tướng Buê, Đô đốc Cuốcbê đến Tướng Milô đều bị thất bại. Cuối tháng 6/1884, các đạo nghĩa quân xuất hiện ngày càng nhiều ở đổng bằng và trung du Bắc Kì như Hà Nội, úng Hoà, Thanh Oai, Hoài Đức(l). Ngoài những khu vực quân Pháp lập đồn bốt, đóng quân thường trực, nhân dân hầu như vẫn làm chủ các địa phương còn lại.

Sát gần Hà Nội như Hoài Đức, Vĩnh Thuận, nghĩa quân chống Pháp đã hoạt động không kể ngày đêm. Tại Sơn Tây, nghĩa quân do Lê Quán Chi cầm đầu đã xây dựng căn cứ ở Bùi Xá. Ở Bắc Ninh, từ ngày 12 đến 26 tháng 7 năm 1884, nghĩa quân kịch chiến với giặc ở căn cứ Ngọc Trì. Khắp lưu vực sông Thái Bình, nghĩa quân tung hoành ngang dọc.

Thực dân Pháp phải điều các chiến thuyền Lahasơ, Mátscơtông, Áccơbuy, Lamátxuy đi thanh tảo, trấn áp nhưng không sao phá nổi các ổ đề kháng của quàn ta. Tại lưu vực sông Cầu, mọc lên hàng loạt căn cứ kháng chiến, mạnh nhất là các căn cứ ở Vạn Cót và Thượng Đồng. Ngày 3/8/1884, địch huy động một lực lượng lớn gồm 400 tên đánh phá ác liệt rồi cho thiêu huỷ cả hai cãn cứ này. Tại Hà Nam, Nam Định, các toán nghĩa binh cùng hoạt động mạnh.

Họ có căn cứ Lai Thông. Trong những tháng cuối năm 1884, thực dân Pháp phải giăng quân ra, đối phó hết sức vất vả với phong trào nhân dân kháng chiến ở vùng Chũ - Lục Nam (Bắc Giang). Sang đầu năm 1885, nghĩa quân hoạt động mạnh (l) Đại N am Thực lục chính biên - đệ lục kỉ, NXB Khoa học xã hội, H. 167 ở các tỉnh: Sơn Tây, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Bấc Ninh, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hoá.

Các đồn binh giặc ở vùng sông Thao, sông Đà cũng liên tiếp bị quấy rối. Ngày 10/3/1885, nghĩa quân tập kích tàu Gácniê của địch trên sông Thao (gần Hưng Hoá) sau đó đánh lui tiểu đoàn Ximông khiên chúng phải cầu cứu tiểu đoàn Milô đến giải vây. Trên khắp vùng trung du Bắc Kì, lực lượng kháng Pháp vẫn làm chủ tình thế. Bên cạnh các toán nghĩa binh người Kinh, còn xuất hiện các nhóm nghĩa binh người Mường ở Hoà Bình, Phú Thọ, Thanh Hoá.

Ngoài việc tổ chức các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, phong trào phản đối Hoà ước Hácmăng và Patơnốt tiếp tục dâng cao. Trước thái độ lấn lướt của thực dân Pháp và sự bạc nhược của triều đình Huế, đa số quan lại, tỉnh thần Bắc Kì đều không chịu phục tùng đám công sứ Pháp được cử đến theo Điều ước Hácmăng. Để tỏ thái độ, nhiều người đã tử tiết như tri huyện Trần Đôn. Có người trả lại ấn tín cho triều đình rồi mộ quân chống giặc như Tiễu phủ sứ Lương Tuấn Tú ở Cao Bằng - Thái Nguyên; Đô đốc Tạ Hiện ở Nam Định, Tán tương quân thứ Sơn Tây Nguyễn Thiện Thuật, án sát Thái Bình Phạm Vũ Mẫn, Tri phủ Kiến Xương Hoàng Văn Huề, Tán lí quân thứ Bắc Ninh Nguyễn Cao, Tuần phủ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, Bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp, Tuần phủ Lạng Sơn Lã Xuân Oai, Tham biện các vụ Đỗ Huy Liệu.

Cũng có người không chịu hợp tác với chính quyền của giặc, khước từ mọi chức tước của chúng như Tổng đốc Nguyễn Khuyến, Học sĩ Nguyễn Trực, sung quân thứ Sơn Tây Nguyễn Đức Nhuận, Thị độc học sĩ Thành Ngọc uẩn. Phong trào yêu nước chống Pháp và chống phong kiến đầu hàng trong những năm 80 của thế kỉ XIX tiếp tục nổ ra ở Nam Bộ (nơi thực dân Pháp đã chiếm đóng từ năm 1867 và thiết lập một bộ máy cai trị, đàn áp bằng quân sự hết sức khốc liệt). Năm 1882 tại Long An nổ ra vụ mưu khởi nghĩa của Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Xe, Huỳnh Văn Trịnh. Năm 1885, Phan Văn Bường, Phan Văn Hớn tập hợp lực lượng nổi dậy, trừng trị tên đóc phủ tàn bạo, Trần Tử Ca.

Chính phong trào chống xâm lược của nhân dân các địa phương đã trở thành cơ sở và nguồn cổ vũ quan trọng cho phái chủ chiến trong triều đình Huế, thúc đẩy họ mạnh dạn hành động và ra tay quyết liệt từ sau tháng 7/1883. Sự có mặt của quân Thanh đã làm nảy sinh xu hướng cầu cứu phona kiến Trung Hoa và là lí do khiến Tự Đức chư.1* chịu chấp nhận ngay một điều ước thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, giống như Điều ước ngày 12/8/1 §81 giữa Pháp 168 và Tuynidi. Tuy nhiên, quân Thanh kéo sang Việt Nam không phải để bảo vệ nhà Nguyễn, làm bổn phận của nước Thiên triều mà là để gây sức ép, phân chia quyền lợi với thực dân Pháp. Sự phán hoá trong nội bộ triều đình H uế và hành động của phe chủ chiến Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhất là trong quá trình triều Nguyễn bàn bạc thảo luận tìm phương sách đối phó, trong nội bộ triều đình Huế đã xuất hiện hai luồng tư tưởng: chủ chiến và chủ hoà.

Hai luồng tư tưởng này mâu thuẫn nhau, đối lập nhau, cũng có khi cân bằng nhau (lúc vua Tự Đức còn sống). Từ sau khi Tự Đức mất (17/7/1883), sự. phân hoá trong nội bộ triều đình Huế đã diễn ra gấp rút và quyết liệt, dẫn đến cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe: "chủ chiến" và "chủ hoà". Trong đó, phe chủ chiến không muốn khuất phục trước quyền thống trị của thực dân Pháp, trước hết là về nội trị.

Còn phe chủ hoà thì muốn bắt tay với Pháp để chia sẻ quyền thống trị. Cơ sở và chỗ dựa của phe chủ chiến là các lực lượng chống Pháp trong nhân dân. Còn chỗ dựa của phái chủ hoà là thực dân Pháp. Vì thế mâu thuẫn, xung đột giữa hai phe đã thường xuyên xảy ra.

Trong khi phái chủ hoà (thực chất là đầu hàng) ngày càng gắn bó với thực dân Pháp, nhất nhất làm theo mệnh lệnh của chúng, thì phái chủ chiến cũng tìm mọi cách để đối phó. Với cương vị là những phụ chính đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (chủ yếu là Tôn Thất Thuyết)(l) đã ra sức liên kết lực lượng, chuẩn bị mọi mặt để chờ ngày sống mái với quân thù. > Dựa vào quyền lực của mình, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết kiên quyết phế bỏ những ông vua có tư tưởng thân Pháp (do những người có thế lực trong hoàng gia thuộc phái chủ hoà đưa lên). Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi Tự Đức chết, liên tiếp đã có ba ông vua bị phế, lập.

Đầu tháng 12/1883, vua Hiệp Hoà bị phế vì ông ta có ý muốn chấp nhận nền bảo hộ của Pháp, hơn nữa còn thông đồng với Pháp tìm cách hạn chế quyền hành của Tôn Thất Thuyết (đổi ông từ Bộ Binh sang Bộ Lại) và cuối cùng định giết cả Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. (l) Lúc đó ba vị: Tôn Thất Thuyết (Thượng thư Bộ Binh), Nguyễn Văn Tường (Thượng thư Bộ Lại) V " Trần Tiễn Thành được triều đình cử làm phụ chính, trong phụ chính Hội đồng. 169 Con nuôi thứ ba của Tự Đức là ư ng Đăng được lập làm vua, hiệu là Kiến Phúc. Đổng thời đệ nhất phụ chính đại thần là Trần Tiễn Thành bị giết (ông này bị xem là người đứng đầu phái chủ hoà).

Tuy Lý Vương Miên Trí cùng gia quyến trốn xuống tàu Vipe của Pháp bị bắt và bị đưa đi quản thúc. Nội các tham biện Hồng Tham, Lại bộ tham tri sang Bắc Kì Phó Khâm sai Hồng Phì bị xử chém. Gia Hưng quận vương cùng bọn công tử con cháu của Miên Trì, Miên Tăng cả thảy có đến trên hai mươi người đều bị giáng làm tôn thất và đưa về các địa phương giam giữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lịch Sử Việt Nam Từ 1858 Đến 1918: Tập IV Phần 2" cung cấp cái nhìn sâu sắc về giai đoạn lịch sử quan trọng của Việt Nam, từ những năm đầu của cuộc xâm lược thực dân Pháp cho đến những biến động xã hội và chính trị trong thời kỳ này. Tác phẩm không chỉ nêu bật những sự kiện lịch sử mà còn phân tích các phong trào yêu nước và những nỗ lực của người dân trong việc chống lại sự áp bức. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về bối cảnh lịch sử, các nhân vật tiêu biểu và những ảnh hưởng lâu dài của giai đoạn này đến sự phát triển của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945, nơi cung cấp cái nhìn về những nỗ lực tiếp theo trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Ngoài ra, tài liệu luận án tiến sĩ lịch sử phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa (1885-1895) sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phong trào yêu nước trong bối cảnh cụ thể. Cuối cùng, tài liệu giáo trình lịch sử Việt Nam tập IV từ 1858 đến 1918 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về toàn bộ giai đoạn lịch sử này. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về lịch sử Việt Nam và những biến động đã hình thành nên đất nước ngày nay.