Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị từ năm 1965 đến năm 1975" được thực hiện với tư cách là một luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 922 90 15), hoàn thành năm 2022 tại Hà Nội. Đề tài tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cấp khu đối với một phương thức cơ bản của chiến tranh cách mạng Việt Nam tại chiến trường đồng bằng sông Cửu Long.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ rằng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bạo lực cách mạng miền Nam được xây dựng trên hai lực lượng (lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị) cùng hai hình thức đấu tranh chủ yếu là đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với công tác binh vận thành phương châm "hai chân, ba mũi". Địa bàn Tây Nam Bộ (mật danh quân sự là T3, thuộc Quân khu 9) giữ vị trí chiến lược trọng yếu, là vựa lúa lớn nhất miền Nam, cung cấp sức người, sức của cho cả hai bên, đồng thời là địa bàn trọng điểm của các chương trình bình định nông thôn do đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai. Bên cạnh đó, vùng đất này có đặc điểm tự nhiên sông ngòi chằng chịt, xã hội đa dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) và đa tôn giáo (Hòa Hảo, Cao Đài, Phật giáo, Công giáo, Tin Lành). Tuy nhiên, qua khảo cứu hệ thống văn bản và tài liệu lịch sử hiện có, tác giả khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị trong suốt giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  • Làm rõ quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ vận dụng đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam để lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị giai đoạn 1965-1975.
  • Đúc kết các kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị của Khu ủy Tây Nam Bộ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể qua bốn nội dung:

  1. Làm rõ chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam về đấu tranh chính trị (1965-1975);
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ đối với phong trào đấu tranh chính trị (1965-1975);
  3. Phân tích quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị nhằm đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn (1965-1975);
  4. Nhận xét về kết quả, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị (1965-1975).

Đối tượng nghiên cứu là quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị giai đoạn 1965-1975 ở các tỉnh Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về không gian: Địa bàn Quân khu 9 (T3) gồm các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (bao gồm cả Hậu Giang hiện nay), Rạch Giá, Hà Tiên (nay thuộc Kiên Giang), Sóc Trăng, Cà Mau (giai đoạn này tỉnh Bạc Liêu được chia đôi nhập vào Sóc Trăng và Cà Mau, đến tháng 11-1973 thì tái lập tỉnh Bạc Liêu). Luận án xác định rõ giới hạn phạm vi là không nghiên cứu phong trào đấu tranh chính trị trong các nhà tù, trại giam.
  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu từ tháng 3-1965 (thời điểm đế quốc Mỹ triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ") đến tháng 5-1975 (khi toàn bộ các tỉnh Tây Nam Bộ được giải phóng). Luận án có khái quát phong trào đấu tranh chính trị ở Tây Nam Bộ giai đoạn trước năm 1965 nhằm đảm bảo tính liên tục của lịch sử.
  • Về nội dung: Nghiên cứu âm mưu và thủ đoạn của đối phương; chủ trương và sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ; các phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ; phong trào chống bắt lính đôn quân kết hợp mũi binh vận; phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris; và sự phối hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự nhằm chống phá chương trình bình định.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành ba nhóm chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu trong nước về phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam giai đoạn 1954-1975. Về mặt lý luận chiến tranh cách mạng, tác giả phân tích các tác phẩm của Lê Duẩn (1976), Văn Tiến Dũng (1979, 2005), Võ Nguyên Giáp (2006), các công trình tổng kết của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995, 2000), Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1991, 2013, 2015), Viện Lịch sử Đảng (2002, 2014) và Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995). Các nghiên cứu chuyên biệt về phong trào đô thị, chống bình định và lực lượng quần chúng được điểm lại gồm có công trình của Hồ Hữu Nhựt (1984), Hà Minh Hồng (2000, 2008), Trần Văn Giàu (2006), Trần Hậu (2007), Hồ Khang (2008), Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010), Nguyễn Quý chủ biên (2015), Lê Cung (2015), Trần Đức Cường chủ biên (2017) và Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ (2018). Các luận án tiến sĩ tiêu biểu được khảo cứu gồm có công trình của Vũ Thị Thúy Hiền (2000), Phí Văn Thức (2006), Lê Quý Thi (2013), Trần Thị Lan (2015), Nguyễn Trung Triều (2018), cùng các bài báo khoa học của Quỳnh Cư (1980), Nguyễn Tiến Duẩn (2004), Trần Bạch Đằng (2005), Trịnh Thị Hồng Hạnh (2010), Vũ Thị Hương (2016) và Trần Thị Lan (2017).

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về phong trào đấu tranh chính trị tại Tây Nam Bộ giai đoạn 1954-1975. Nhóm này bao gồm các ấn phẩm tổng kết của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (1996), Ban Chỉ đạo và Ban Biên tập truyền thống Tây Nam Bộ do Vũ Đình Liệu làm Trưởng ban, Bộ Tổng tham mưu (2001), Nguyễn Minh Đường chủ biên (2002), Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Cà Mau (2002), Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (2009, 2010), Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2010), kỷ yếu khoa học về đồng chí Võ Văn Kiệt (2012), công trình văn hóa của Trần Ngọc Thêm chủ biên (2013), nghiên cứu chống ấp chiến lược của Phạm Đức Thuận (2018), cùng bộ lịch sử Đảng bộ của các tỉnh Hậu Giang (1987), Sóc Trăng (1999), Bạc Liêu (2002), Cà Mau (2004), Trà Vinh (2005, 2015), Cần Thơ (2006), Kiên Giang (2008) và Vĩnh Long (2015).

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài. Tác giả phân tích các tác phẩm của David Palmer (1987), Michael Maclear (1990), Gabriel Kolko (1991), Robert S. McNamara (1995), Douglas Ramit (2004), Robert Thompson (1965), Báo cáo Lầu Năm Góc về chương trình ấp chiến lược (1971), Ralph McGehee (1983), Stanley Karnow (1990) và Peter Francis Leahy (1990). Các công trình này cung cấp góc nhìn từ phía đối phương về sự phá sản của chính sách bình định, những hạn chế của trang thiết bị quân sự khi đối đầu với phong trào quần chúng, cũng như bản chất chính trị của cuộc chiến tranh.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận chiến tranh nhân dân hoặc đấu tranh chính trị ở góc độ lý luận chung, hoặc tập trung phân tích diễn biến phong trào tại các đô thị lớn (Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng) và địa bàn miền Trung, Tây Nguyên. Các tài liệu viết về Tây Nam Bộ chủ yếu tập trung vào đấu tranh quân sự và chiến tranh du kích, trong khi nội dung đấu tranh chính trị chỉ được nhắc đến tản mạn, chưa đặt trong hệ thống chỉ đạo xuyên suốt của cấp Khu ủy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng có hệ thống sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ đối với phong trào đấu tranh chính trị trên một địa bàn đồng bằng sông nước, có cơ cấu dân cư, dân tộc và tôn giáo phức tạp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam. Trọng tâm lý thuyết được vận dụng bao gồm: quan điểm về vai trò động lực lịch sử của quần chúng nhân dân; lý luận về bạo lực cách mạng kết hợp giữa lực lượng chính trị và lực lượng quân sự; học thuyết về chiến tranh nhân dân; và phương pháp cách mạng miền Nam với sự kết hợp chặt chẽ giữa hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (đô thị, nông thôn đồng bằng và căn cứ giải phóng).

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, đề tài thuộc hướng nghiên cứu lịch sử Đảng, sử dụng phương pháp định tính. Luận án lấy phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm hai công cụ chủ đạo:

  • Phương pháp lịch sử giúp tái hiện các sự kiện, chỉ thị, nghị quyết của Khu ủy Tây Nam Bộ và diễn biến phong trào quần chúng theo đúng trình tự thời gian, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể qua từng thời kỳ chiến lược chiến tranh.
  • Phương pháp lôgic làm rõ bản chất, quy luật vận động nội tại, sự kế thừa và bước phát triển trong tư duy chỉ đạo của Khu ủy từ kháng chiến chống "chiến tranh cục bộ" sang "Việt Nam hóa chiến tranh".

Ngoài ra, tác giả kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử giữa các địa bàn trong khu, và thống kê tư liệu lịch sử để tổng hợp các dữ kiện về tổ chức bộ máy, nhân lực, tiềm lực kinh tế và các đợt đấu tranh của quần chúng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án được khai thác từ: các văn kiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị (như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 12 năm 1965, Nghị quyết 154 năm 1967, Chỉ thị ngày 9-11-1968); các nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam (như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 tháng 3-1966); hệ thống nghị quyết, chỉ thị, báo cáo lưu trữ của Khu ủy Tây Nam Bộ; văn kiện lịch sử Đảng bộ các tỉnh thuộc Quân khu 9; lời kể của các nhân chứng lịch sử; cùng các tài liệu khảo sát, báo cáo quân sự và hồi ký của phía đối phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung tổng kết các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam và chiến trường Tây Nam Bộ. Tác giả phân loại tư liệu theo từng nhóm chủ đề, đánh giá những kết quả khoa học đã đạt được và xác định rõ khoảng trống nghiên cứu. Trên cơ sở đó, chương 1 định hình bốn vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết: các yếu tố tác động, chủ trương và sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ qua hai giai đoạn chiến lược, đánh giá kết quả cùng hạn chế, và rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Chương 2: Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968)

Nội dung chương 2 phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và tổ chức tác động đến phong trào đấu tranh chính trị tại Tây Nam Bộ, cùng quá trình lãnh đạo của Khu ủy trong giai đoạn 1965-1968.

Về tiềm lực kinh tế và địa bàn tác chiến, văn bản cung cấp các số liệu thực tế phản ánh vị trí trọng yếu của Tây Nam Bộ trong kháng chiến:

Chỉ tiêu / Tiêu chí Số liệu văn bản nêu Ý nghĩa thực tiễn đối với chiến trường
Diện tích đất canh tác lúa 1.000.000 ha Nền tảng phát triển nông nghiệp và căn cứ hậu cần tại chỗ
Sản lượng lúa thu hoạch hàng năm 3 - 4 triệu tấn Chiếm 86% sản lượng lúa ở Nam Bộ và 72% toàn miền Nam
Lượng gạo cung cấp cho Sài Gòn 380.000 - 450.000 tấn/năm Nguồn lương thực chủ đạo của các đô thị kiểm soát bởi đối phương
Lượng gạo xuất khẩu (1959-1964) 344.000 tấn/năm Điểm tựa ngoại thương lúa gạo của toàn miền Nam
Sản lượng lúa vùng Tây Nam Bộ năm 1965 3.440.000 tấn Tiềm lực vật chất bảo đảm sức nuôi quân và chi viện kháng chiến
Hệ thống chùa chiền và sư sãi Khmer 300 ngôi chùa; 8.000 sư sãi Lực lượng xã hội, tôn giáo quan trọng trong đấu tranh chính trị

Về tổ chức Đảng, Khu ủy Tây Nam Bộ được thành lập ngày 7-7-1961 để thay thế Liên Tỉnh ủy miền Tây, gồm 10 thành viên. Ban Thường vụ ban đầu gồm: Nguyễn Thành Thơ (Bí thư), Trần Văn Bỉnh (Phó Bí thư), cùng hai Ủy viên Thường vụ là Lâm Văn Thê và Vũ Đình Liệu. Sáu Khu ủy viên gồm: Phan Công Cương (Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ), Trần Văn Long (Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh), Phan Ngọc Sến (Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau), La Lâm Gia (Phó Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh), Dương Minh Cảnh (Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng) và Nguyễn Việt Châu (Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long). Bộ máy tham mưu của Khu ủy gồm Văn phòng, khối Dân vận (Công vận, Nông vận, Binh vận, Thanh vận, Phụ vận, Tôn giáo vận, Khmer vận), các đoàn thể quần chúng và các ban chuyên môn (Quân sự, Tuyên huấn, Tổ chức, Kinh tài, An ninh).

Khi Mỹ triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ" (bắt đầu từ việc đổ 3.500 lính thủy đánh bộ vào Đà Nẵng tháng 3-1965, ban hành Bị vong lục NSAM số 328 tháng 4-1965 và công bố chiến lược hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" ngày 17-7-1965), chiến trường Tây Nam Bộ được phân chia thuộc Vùng 4 chiến thuật. Đối phương giao cho quân đội Sài Gòn đảm nhiệm chính công tác bình định, dồn dân vào "ấp tân sinh", lập Ty chiêu hồi (1966), tổ chức chương trình "xây dựng nông thôn mới" với phương châm "Phá đời cũ, xây đời mới". Mỹ cũng liên tiếp cải tổ cơ quan điều hành bình định: từ bộ phận quản lý trong Đại sứ quán (2-1966), sang Văn phòng các hoạt động dân sự (11-1966), và Cơ quan hỗ trợ phát triển cách mạng và các hoạt động dân sự (5-1967). Bên cạnh hành quân càn quét, rải chất độc hóa học, đối phương thực hiện các thủ đoạn tâm lý chiến, lợi dụng tôn giáo và kích động tư tưởng dân tộc cực đoan nhằm chia rẽ khối đoàn kết Kinh - Khmer.

Quán triệt Nghị quyết 12 của Trung ương (12-1965), Nghị quyết 154 của Bộ Chính trị (1-1967) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Trung ương Cục miền Nam (3-1966), Khu ủy Tây Nam Bộ đã chỉ đạo đẩy mạnh phong trào đấu tranh trực diện của quần chúng. Ở vùng giải phóng, phong trào tập trung vào nhiệm vụ chống càn quét, chống bắn phá phi pháo, chống rải chất độc hóa học và chống gom dân để giữ đất, giữ làng. Tại vùng đối phương kìm kẹp và đô thị, phong trào vận dụng các hình thức công khai, nửa hợp pháp, đưa ra các yêu sách dân sinh, dân chủ thiết thân, chống bắt lính, tập hợp lực lượng từ thấp đến cao, phối hợp chặt chẽ với mũi quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Chương 3: Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975)

Chương 3 trình bày sự chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ trong bối cảnh đối phương chuyển hướng sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tập trung nguồn lực thực hiện các kế hoạch bình định cấp tốc và bình định đặc biệt. Để bù đắp hao hụt lực lượng, chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh bắt lính tại Tây Nam Bộ (năm 1973 tuyển mộ 84.000 quân, năm 1974 bổ sung 96.000 quân).

Nội dung chương được kết cấu thành hai tiểu mục:

  • Tiểu mục 3.1: Phân tích tình hình chiến trường và chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị của Khu ủy Tây Nam Bộ qua hai giai đoạn: giai đoạn trước khi ký Hiệp định Paris (1969-1972) và giai đoạn sau khi ký Hiệp định Paris (1973-1975).
  • Tiểu mục 3.2: Làm rõ sự chỉ đạo cụ thể của Khu ủy trong việc lãnh đạo quần chúng kiên cường bám đất, phá thế kìm kẹp, chống lại các cuộc hành quân lấn chiếm "tràn ngập lãnh thổ" của đối phương.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, Khu ủy Tây Nam Bộ đã có những quyết sách chỉ đạo linh hoạt, phát động các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi thi hành hiệp định, đòi hòa bình, chống bắt lính đôn quân, kết hợp đẩy mạnh công tác binh vận làm tan rã từng bộ phận phòng tuyến đối phương, phối hợp với các đòn tiến công quân sự tạo thời cơ giải phóng hoàn toàn địa bàn miền Tây Nam Bộ vào đầu tháng 5-1975.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đúc kết những đánh giá khoa học và bài học lịch sử rút ra từ thực tiễn lãnh đạo của Khu ủy:

  • Tiểu mục 4.1: Nhận xét toàn diện sự lãnh đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ. Luận án phân tích rõ những thắng lợi đạt được trong việc duy trì thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng khối đoàn kết các dân tộc Kinh - Khmer - Hoa, tranh thủ các tổ chức tôn giáo, phát huy vai trò của "đội quân tóc dài" và các tầng lớp đô thị. Đồng thời, tác giả chỉ ra các hạn chế trong quá trình lãnh đạo: có thời điểm còn lúng túng trong nhận thức tương quan giữa phong trào đô thị và nông thôn, việc chỉ đạo kết hợp hai chân đôi lúc chưa đồng đều khiến cơ sở quần chúng bị tiêu hao.
  • Tiểu mục 4.2: Đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị lâu dài về: quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của cấp trên vào điều kiện thực tiễn địa phương; công tác xây dựng Đảng và hệ thống đoàn thể vững mạnh; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết lương - giáo; nghệ thuật kết hợp bạo lực chính trị với bạo lực vũ trang; và sự linh hoạt trong sử dụng các hình thức đấu tranh từ hợp pháp, nửa hợp pháp đến bất hợp pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào phần tự công bố của luận án, công trình mang lại những đóng góp khoa học cụ thể sau:

Về mặt lý luận và khoa học lịch sử: Luận án bổ sung hệ thống tài liệu khoa học làm sáng rõ sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào đấu tranh chính trị trên một chiến trường trọng điểm của miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Công trình tái hiện toàn diện tiến trình lãnh đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ, chứng minh vai trò độc lập tương đối và tính quyết định của bạo lực chính trị quần chúng khi kết hợp với bạo lực quân sự trong phương pháp cách mạng Việt Nam.

Về mặt thực tiễn: Luận án đúc kết các kinh nghiệm lịch sử có giá trị ứng dụng vào công tác xây dựng Đảng bộ, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, thực hiện công tác dân vận, xây dựng "thế trận lòng dân", và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu vực Tây Nam Bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Về giá trị ứng dụng giáo dục: Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu tham khảo, phục vụ công tác giảng dạy chuyên môn cho giảng viên, học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng tại các trường chính trị tỉnh, thành phố, các trường đại học và cao đẳng. Đồng thời, công trình đóng vai trò là tài liệu tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ và nhân dân địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án xác định rõ giới hạn phạm vi nghiên cứu: không khảo sát phong trào đấu tranh chính trị của các chiến sĩ và quần chúng cách mạng diễn ra trong hệ thống nhà tù, trại giam của đối phương đóng trên địa bàn Quân khu 9. Đề tài chỉ tập trung phân tích sự lãnh đạo của Khu ủy đối với phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn nông thôn và đô thị từ tháng 3-1965 đến tháng 5-1975.

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ phạm vi giới hạn của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu phong trào đấu tranh trong hệ thống trại giam, nhà tù tại Tây Nam Bộ nhằm hoàn thiện bức tranh toàn diện về mũi đấu tranh chính trị. Ngoài ra, việc thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu về phương thức lãnh đạo đấu tranh chính trị giữa hai địa bàn tiếp giáp là Quân khu 9 (Tây Nam Bộ) và Quân khu 8 (Trung Nam Bộ) trong từng chiến dịch cụ thể cũng là một hướng đi học thuật giàu tiềm năng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử quân sự: Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp xử lý tài liệu lưu trữ, phương pháp kết hợp lịch sử và lôgic trong nghiên cứu lịch sử chiến tranh cách mạng, cũng như cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy Khu ủy Tây Nam Bộ (T3).
  • Đối với giảng viên các học viện, trường đại học, trường chính trị địa phương: Nội dung luận án là nguồn ngữ liệu phục vụ bài giảng về sự lãnh đạo của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật quân sự nhân dân và phương châm kết hợp "hai chân, ba mũi".
  • Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ làm công tác Đảng, dân vận, dân tộc, tôn giáo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long: Các phân tích về cách thức tập hợp đồng bào Khmer, các tổ chức tôn giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Phật giáo và tranh thủ tầng lớp trí thức, phụ nữ cung cấp nhiều bài học bổ ích cho công tác vận động quần chúng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu ủy Tây Nam Bộ được thành lập vào thời gian nào và cơ cấu nhân sự chủ chốt ban đầu gồm những ai?
Khu ủy Tây Nam Bộ được thành lập ngày 7-7-1961 để thay thế Liên Tỉnh ủy miền Tây, trực tiếp lãnh đạo kháng chiến trên địa bàn Quân khu 9 gồm 10 thành viên. Ban Thường vụ gồm có: đồng chí Nguyễn Thành Thơ (Bí thư), đồng chí Trần Văn Bỉnh (Phó Bí thư), cùng hai Ủy viên Thường vụ là đồng chí Lâm Văn Thê và đồng chí Vũ Đình Liệu. Sáu Khu ủy viên gồm: Phan Công Cương (Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ), Trần Văn Long (Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh), Phan Ngọc Sến (Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau), La Lâm Gia (Phó Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh), Dương Minh Cảnh (Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng) và Nguyễn Việt Châu (Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long).

2. Vùng Tây Nam Bộ có những tiềm lực kinh tế nông nghiệp nào tác động trực tiếp đến sự tranh chấp giữa hai bên trong chiến tranh?
Trong kháng chiến, Tây Nam Bộ có diện tích canh tác 1.000.000 ha lúa, sản lượng hàng năm đạt từ 3 đến 4 triệu tấn (năm 1965 đạt 3.440.000 tấn), chiếm 86% sản lượng lúa ở Nam Bộ và 72% toàn miền Nam. Khu vực này hàng năm cung cấp cho Sài Gòn từ 380.000 đến 450.000 tấn gạo, và đóng góp toàn bộ 344.000 tấn gạo xuất khẩu hàng năm của miền Nam giai đoạn 1959-1964. Đây là vựa lương thực chiến lược mà cả hai phía đều tập trung tranh chấp quyết liệt để phục vụ chiến tranh.

3. Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng các thủ đoạn chính trị, tâm lý chiến nào đối với đồng bào dân tộc và tôn giáo ở Tây Nam Bộ?
Đối phương đã lợi dụng đặc điểm đa tôn giáo và đa dân tộc bằng cách: phân biệt đối xử, đưa người vào hoạt động Công giáo; tìm cách "cầu an hóa" lãnh tụ Phật giáo Nam tông Khmer và Tịnh độ cư sĩ; mua chuộc chư tăng trụ trì các chùa Khmer bằng vật chất (xe du lịch, tivi, vật tư rào chùa) để kiểm soát tín đồ; tuyên truyền tư tưởng dân tộc cực đoan rằng các tỉnh miền Tây là của người Khmer nhằm phá vỡ khối đoàn kết Kinh - Khmer; đồng thời phổ biến lối sống thực dụng, văn hóa đồi trụy để làm suy giảm ý chí chiến đấu của thanh niên.

4. Phương châm đấu tranh cơ bản nào của cách mạng miền Nam được Trung ương chỉ đạo và Khu ủy Tây Nam Bộ vận dụng xuyên suốt giai đoạn 1965-1975?
Đó là phương châm kết hợp bạo lực cách mạng dựa trên hai lực lượng (lực lượng quân sự và lực lượng chính trị), tiến hành bằng hai hình thức đấu tranh (đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị), triển khai phương châm "hai chân, ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (đô thị, nông thôn đồng bằng và căn cứ giải phóng) nhằm đánh bại các chiến lược chiến tranh của đối phương.

5. Vì sao địa hình sông nước Tây Nam Bộ lại đòi hỏi đấu tranh chính trị phải giữ vai trò là mũi tiến công cơ bản và lâu dài?
Địa hình Tây Nam Bộ bằng phẳng, có hệ thống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt và rừng ngập nước, không phù hợp cho việc triển khai các chiến dịch quy mô lớn có cơ động binh khí kỹ thuật hạng nặng. Do tác chiến quân sự quy mô lớn bị hạn chế về địa bàn, phong trào đấu tranh chính trị rộng khắp của quần chúng nhân dân trở thành mũi tiến công tất yếu, cơ bản và lâu dài nhằm hỗ trợ chiến tranh du kích bám trụ, tiêu hao sinh lực đối phương và phá vỡ các kế hoạch bình định lấn chiếm.

Kết luận

Luận án "Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị từ năm 1965 đến năm 1975" là một công trình nghiên cứu lịch sử Đảng có hệ thống và nguồn tư liệu phong phú. Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic, tác giả đã tái hiện toàn diện quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ vận dụng đường lối của Trung ương để lãnh đạo nhân dân đánh bại các chiến lược "chiến tranh cục bộ" và "Việt Nam hóa chiến tranh". Luận án làm nổi bật đặc thù của phong trào đấu tranh chính trị trên một địa bàn đồng bằng sông nước đa dân tộc, đa tôn giáo, chỉ rõ các thành công cùng những mặt hạn chế trong công tác chỉ đạo. Các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình mang giá trị khoa học sâu sắc, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và công tác vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay.