Chương 1 TỈNH ỦY BẮC NINH LÃNH ĐẠO HỘI NÔNG DÂN TỈNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỈNH ỦY BẮC NINH VÀ HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC NINH 1. Đặc điểm, tình hình của tỉnh và Tỉnh ủy Bắc Ninh 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Bắc Ninh Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20 o 58’ đến 21o 16’ vĩ độ Bắc và 105o 54’ đến 106o 19’kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn.
Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 - 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m. Mạng lưới sông ngòi thuộc tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ khá cao từ 1,0 - 1,2km/km2 (theo số liệu của đài Khí tượng thủy văn Bắc Bộ) với 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. 9 Theo số liệu kiểm kê đất năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82,271.2 km2; Diện tích lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; Đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84%.
Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn. Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. Cát xây dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống. Thực vật của Bắc Ninh chủ yếu là cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm và rừng trồng.
Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm 54% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng cây lâu năm và đất rừng trồng chiếm diện tích chỉ xấp xỉ 1%. Về kinh tế: Sau gần 17 năm tái lập tỉnh, cho dù gặp rất nhiều những khó khăn, thách thức, song kinh tế luôn tăng trưởng với mức độ khá cao. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân giai đoạn 2005 - 2012 đạt 14,7% cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản năm 2012 là 76%, dịch vụ là 17%, nông lâm nghiệp và thủy sản là 7%.
Trong sản xuất công nghiệp thì ngành công nghiệp chế biến và điện tử công nghệ cao có tốc độ tăng nhanh, thu hút được các tập đoàn lớn như SamSung, Nokia, Canon. có khả năng trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh. Toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung được Thủ 10 tướng chính phủ phê duyệt, tổng diện tích 6.847 ha đất, trong đó có 08 khu công nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 75%. Tổng số công nhân lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là trên 130.
Nông nghiệp phát triển ổn định, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa và tích cực xây dựng nông thôn mới; công nghiệp hỗ trợ bước đầu hình thành, khu vực làng nghề tiếp tục phát triển. Thu ngân sách nhà nước tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu chi trong tỉnh và nộp về Ngân sách Trung ương (năm 2012 thu đạt 9. Bắc Ninh có các làng nghề truyền thống tiêu biểu như tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng. Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người hơn 22,2 triệu đồng, khu vực nông thôn đạt 17,4 triệu đồng.
Dân số Bắc ninh hiện nay có 1. Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 26,9%. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần số nông thôn. Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động.
Với chất lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh. Về văn hóa - du lịch: Bắc Ninh, miền đất sinh thành vị tổ của nền khoa bảng Việt Nam, nơi có làng Tam Sơn (xã Tam Sơn - Từ Sơn), địa phương duy nhất trong cả nước có đủ tam khôi với 22 vị tiến sĩ trong đó có 2 trạng nguyên. Truyền thống hiếu học đất Kinh Bắc năm xưa đã và đang được lớp lớp con cháu kế thừa và phát huy. Bắc Ninh là một trong 3 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đầu tiên trong cả nước vào năm 2000, đến năm 2002 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang tiến hành phổ cập trung học phổ thông.
Mạng lưới 11 trường học ở tất cả các bậc học từ mầm non, phổ thông phát triển đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên trong các trường ngày càng được củng cố về chất lượng và phát triển về số lượng theo hướng chuẩn hoá. Tính đến nay toàn tỉnh đã có hơn 200 trường ở các ngành học, bậc học được công nhận là trường chuẩn Quốc gia. Theo đó chất lượng giáo dục cũng từng bước được nâng cao.
Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp cao so với cả nước. Đặc biệt, Bắc Ninh luôn được xếp vào nhóm 10 tỉnh có tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng cao nhất trong cả nước. Đi liền với các thành tích trên, công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát triển bằng các hoạt động thiết thức thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, các hội khuyến học từ tỉnh, huyện đến các thôn làng, dòng họ đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của giáo dục tỉnh nhà. Bắc Ninh được biết đến như là một miền đất của các di tích lịch sử, văn hoá.
Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các lễ hội: đền thờ Kinh Dương Vương, đền Đô, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu, hội Lim…và đặc biệt một loại hình nghệ thuật làm nên bản sức văn hoá rất riêng của Bắc Ninh là các làn điện dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tài nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh. Sự kiện văn hóa quan trọng đặc biệt, niềm tự hào của quê hương Bắc Ninh chính là việc UNESSCO công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Những thành tựu về kinh tế, văn hoá xã hội, các kinh nghiệm tích luỹ được trong gần 17 năm qua cùng với truyền thống cách mạng, năng động sáng tạo, truyền thống hiếu học, những ưu đãi của thiên nhiên và nét văn hoá đặc sắc của người dân Kinh Bắc là nguồn tài sản quý báu của tỉnh Bắc Ninh, tạo cơ sở vững chắc để hội nhập và phát triển những năm tới. Khái quát đảng bộ Tỉnh Bắc Ninh Đầu tháng 7-1929, đồng chí Ngô Gia Tự, ủy viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã trực tiếp chỉ đạo thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở hai tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang, gồm ba đảng viên Phạm Văn Chất, Bí thư; 2 đảng viên là Hồ Ngọc Lân và Nguyễn Hữu Căn.
Giao chi bộ nhiệm vụ tuyên truyền Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Đông dương Cộng sản Đảng đến các chi hội của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng. Từ việc ra đời của chi bộ Cộng sản đầu tiên ở hai tỉnh là dấu mốc quan trọng về sự phát triển mới của phong trào cách mạng Bắc Ninh - Bắc Giang, tạo ra nhân tố mới cho sự biến đổi về chất của phong trào cách mạng. Đến ngày 4-8-1929 tại núi Hồng Vân (thị trấn Lim - Tiên Du) đã có hơn 20 hội viên tiêu biểu của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng của hai tỉnh được triệu tập để thành lập đảng bộ Đông dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang. Sau hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam ngày 3-2- 1930, thì đổi tên thành đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang.
Lúc mới thành lập, đảng bộ có 4 chi bộ gồm: chi bộ thị xã Bắc Ninh; chi bộ trại lính khố đỏ Bắc Ninh; chi bộ làng Lạc Thổ (Thuận Thành ); chi bộ Nhà máy gạch Hưng Ký (Từ Sơn). Ngày 6-11-1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX, Quốc hội đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập, trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có 5 đảng bộ huyện là: Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Tiên Sơn, Quế Võ và Đảng bộ thị xã Bắc Ninh; 3 đảng bộ trực thuộc là: Đảng bộ Công an, Đảng bộ Quân sự, Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh.
Từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh, đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức 4 kỳ Đại hội, từ Đại hội XV đến XVIII. 13 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh hiện nay có trên 46.