Tỉnh ủy Bắc Ninh và vai trò lãnh đạo Hội Nông dân trong thời kỳ hiện đại

Tỉnh ủy Bắc Ninh lãnh đạo Hội Nông dân tỉnh, phân tích vai trò và thách thức trong giai đoạn hiện nay, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh.

Trường đại học

Trường Chính trị tỉnh Bắc Ninh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp cao học

2023

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỈNH ỦY BẮC NINH LÃNH ĐẠO HỘI NÔNG DÂN TỈNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. TỈNH ỦY BẮC NINH VÀ HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC NINH

1.1.1. Đặc điểm, tình hình của tỉnh và Tỉnh ủy Bắc Ninh

1.1.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Bắc Ninh

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Hội Nông dân Bắc Ninh trong giai đoạn mới

Hội Nông dân Bắc Ninh đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới. Từ khi thành lập, Hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết nông dân, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trong bối cảnh hiện nay, Hội Nông dân không chỉ là tổ chức chính trị - xã hội mà còn là cầu nối giữa nông dân và chính quyền. Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bắc Ninh đối với Hội Nông dân là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp và nông thôn.

1.1. Vai trò của Hội Nông dân trong phát triển nông nghiệp

Hội Nông dân Bắc Ninh đã đóng góp tích cực vào việc phát triển nông nghiệp thông qua các phong trào sản xuất, khuyến khích nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Các chương trình hỗ trợ nông dân về vốn, kỹ thuật và thị trường đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

1.2. Sự phát triển của Hội Nông dân Bắc Ninh qua các thời kỳ

Hội Nông dân Bắc Ninh đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những ngày đầu thành lập đến nay. Mỗi giai đoạn đều có những thách thức và cơ hội riêng, nhưng Hội luôn tìm cách thích ứng và phát triển, khẳng định vai trò của mình trong xã hội.

II. Thách thức trong lãnh đạo Hội Nông dân Bắc Ninh hiện nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng Hội Nông dân Bắc Ninh vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình lãnh đạo. Những vấn đề như công nghiệp hóa, đô thị hóa, và sự thay đổi trong cơ cấu lao động đang đặt ra nhiều khó khăn cho nông dân. Việc thu hồi đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp cũng là một trong những vấn đề nóng bỏng.

2.1. Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp

Việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho phát triển công nghiệp và đô thị đang gây ra nhiều lo lắng cho nông dân. Nhiều hộ gia đình phải chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng không phải ai cũng tìm được việc làm phù hợp.

2.2. Khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Nông dân Bắc Ninh gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc sản xuất, nhưng việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ vẫn là một thách thức lớn.

III. Phương pháp lãnh đạo hiệu quả cho Hội Nông dân Bắc Ninh

Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, Tỉnh ủy Bắc Ninh cần áp dụng các phương pháp lãnh đạo hiện đại, phù hợp với tình hình thực tế. Việc tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành và Hội Nông dân là rất cần thiết.

3.1. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp

Sự phối hợp chặt chẽ giữa Tỉnh ủy, chính quyền và Hội Nông dân sẽ giúp giải quyết nhanh chóng các vấn đề phát sinh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

3.2. Đổi mới phương thức hoạt động của Hội Nông dân

Hội Nông dân cần đổi mới phương thức hoạt động, từ việc tổ chức các phong trào đến việc hỗ trợ nông dân trong sản xuất. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Hội Nông dân Bắc Ninh

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng Hội Nông dân Bắc Ninh đã có những đóng góp quan trọng trong việc nâng cao đời sống nông dân. Các phong trào do Hội phát động đã giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế nông thôn.

4.1. Kết quả từ các phong trào nông dân

Các phong trào nông dân do Hội phát động đã mang lại nhiều kết quả tích cực, từ việc nâng cao năng suất cây trồng đến việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Qua quá trình hoạt động, Hội Nông dân Bắc Ninh đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc lãnh đạo và tổ chức các phong trào nông dân, từ đó có thể áp dụng cho các giai đoạn tiếp theo.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Hội Nông dân Bắc Ninh

Hội Nông dân Bắc Ninh có vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp và nông thôn. Trong tương lai, Hội cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.

5.1. Định hướng phát triển của Hội Nông dân

Hội Nông dân cần xác định rõ định hướng phát triển trong giai đoạn tới, tập trung vào việc nâng cao chất lượng hoạt động và hỗ trợ nông dân.

5.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với Hội Nông dân

Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy là yếu tố quyết định đến sự thành công của Hội Nông dân. Cần có những chính sách cụ thể để tăng cường sự lãnh đạo này.

16/08/2025
Tỉnh ủy bắc ninh lãnh đạo hội nông dân tỉnh trong giai đoạn hiện nay luận văn xây dựng đảng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỈNH ỦY BẮC NINH LÃNH ĐẠO HỘI NÔNG DÂN TỈNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỈNH ỦY BẮC NINH VÀ HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC NINH 1. Đặc điểm, tình hình của tỉnh và Tỉnh ủy Bắc Ninh 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Bắc Ninh Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ.

Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20 o 58’ đến 21o 16’ vĩ độ Bắc và 105o 54’ đến 106o 19’kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn.

Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 - 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m. Mạng lưới sông ngòi thuộc tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ khá cao từ 1,0 - 1,2km/km2 (theo số liệu của đài Khí tượng thủy văn Bắc Bộ) với 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. 9 Theo số liệu kiểm kê đất năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82,271.2 km2; Diện tích lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; Đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84%.

Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn. Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. Cát xây dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống. Thực vật của Bắc Ninh chủ yếu là cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm và rừng trồng.

Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm 54% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng cây lâu năm và đất rừng trồng chiếm diện tích chỉ xấp xỉ 1%. Về kinh tế: Sau gần 17 năm tái lập tỉnh, cho dù gặp rất nhiều những khó khăn, thách thức, song kinh tế luôn tăng trưởng với mức độ khá cao. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân giai đoạn 2005 - 2012 đạt 14,7% cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản năm 2012 là 76%, dịch vụ là 17%, nông lâm nghiệp và thủy sản là 7%.

Trong sản xuất công nghiệp thì ngành công nghiệp chế biến và điện tử công nghệ cao có tốc độ tăng nhanh, thu hút được các tập đoàn lớn như SamSung, Nokia, Canon. có khả năng trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh. Toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung được Thủ 10 tướng chính phủ phê duyệt, tổng diện tích 6.847 ha đất, trong đó có 08 khu công nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 75%. Tổng số công nhân lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là trên 130.

Nông nghiệp phát triển ổn định, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa và tích cực xây dựng nông thôn mới; công nghiệp hỗ trợ bước đầu hình thành, khu vực làng nghề tiếp tục phát triển. Thu ngân sách nhà nước tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu chi trong tỉnh và nộp về Ngân sách Trung ương (năm 2012 thu đạt 9. Bắc Ninh có các làng nghề truyền thống tiêu biểu như tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng. Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người hơn 22,2 triệu đồng, khu vực nông thôn đạt 17,4 triệu đồng.

Dân số Bắc ninh hiện nay có 1. Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 26,9%. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần số nông thôn. Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động.

Với chất lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh. Về văn hóa - du lịch: Bắc Ninh, miền đất sinh thành vị tổ của nền khoa bảng Việt Nam, nơi có làng Tam Sơn (xã Tam Sơn - Từ Sơn), địa phương duy nhất trong cả nước có đủ tam khôi với 22 vị tiến sĩ trong đó có 2 trạng nguyên. Truyền thống hiếu học đất Kinh Bắc năm xưa đã và đang được lớp lớp con cháu kế thừa và phát huy. Bắc Ninh là một trong 3 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đầu tiên trong cả nước vào năm 2000, đến năm 2002 đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang tiến hành phổ cập trung học phổ thông.

Mạng lưới 11 trường học ở tất cả các bậc học từ mầm non, phổ thông phát triển đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên trong các trường ngày càng được củng cố về chất lượng và phát triển về số lượng theo hướng chuẩn hoá. Tính đến nay toàn tỉnh đã có hơn 200 trường ở các ngành học, bậc học được công nhận là trường chuẩn Quốc gia. Theo đó chất lượng giáo dục cũng từng bước được nâng cao.

Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp các cấp cao so với cả nước. Đặc biệt, Bắc Ninh luôn được xếp vào nhóm 10 tỉnh có tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng cao nhất trong cả nước. Đi liền với các thành tích trên, công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát triển bằng các hoạt động thiết thức thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, các hội khuyến học từ tỉnh, huyện đến các thôn làng, dòng họ đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của giáo dục tỉnh nhà. Bắc Ninh được biết đến như là một miền đất của các di tích lịch sử, văn hoá.

Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các lễ hội: đền thờ Kinh Dương Vương, đền Đô, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu, hội Lim…và đặc biệt một loại hình nghệ thuật làm nên bản sức văn hoá rất riêng của Bắc Ninh là các làn điện dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tài nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh. Sự kiện văn hóa quan trọng đặc biệt, niềm tự hào của quê hương Bắc Ninh chính là việc UNESSCO công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Những thành tựu về kinh tế, văn hoá xã hội, các kinh nghiệm tích luỹ được trong gần 17 năm qua cùng với truyền thống cách mạng, năng động sáng tạo, truyền thống hiếu học, những ưu đãi của thiên nhiên và nét văn hoá đặc sắc của người dân Kinh Bắc là nguồn tài sản quý báu của tỉnh Bắc Ninh, tạo cơ sở vững chắc để hội nhập và phát triển những năm tới. Khái quát đảng bộ Tỉnh Bắc Ninh Đầu tháng 7-1929, đồng chí Ngô Gia Tự, ủy viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đã trực tiếp chỉ đạo thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở hai tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang, gồm ba đảng viên Phạm Văn Chất, Bí thư; 2 đảng viên là Hồ Ngọc Lân và Nguyễn Hữu Căn.

Giao chi bộ nhiệm vụ tuyên truyền Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Đông dương Cộng sản Đảng đến các chi hội của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng. Từ việc ra đời của chi bộ Cộng sản đầu tiên ở hai tỉnh là dấu mốc quan trọng về sự phát triển mới của phong trào cách mạng Bắc Ninh - Bắc Giang, tạo ra nhân tố mới cho sự biến đổi về chất của phong trào cách mạng. Đến ngày 4-8-1929 tại núi Hồng Vân (thị trấn Lim - Tiên Du) đã có hơn 20 hội viên tiêu biểu của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng của hai tỉnh được triệu tập để thành lập đảng bộ Đông dương Cộng sản Đảng Bắc Ninh - Bắc Giang. Sau hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam ngày 3-2- 1930, thì đổi tên thành đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Ninh - Bắc Giang.

Lúc mới thành lập, đảng bộ có 4 chi bộ gồm: chi bộ thị xã Bắc Ninh; chi bộ trại lính khố đỏ Bắc Ninh; chi bộ làng Lạc Thổ (Thuận Thành ); chi bộ Nhà máy gạch Hưng Ký (Từ Sơn). Ngày 6-11-1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX, Quốc hội đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Ninh được tái lập, trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có 5 đảng bộ huyện là: Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Tiên Sơn, Quế Võ và Đảng bộ thị xã Bắc Ninh; 3 đảng bộ trực thuộc là: Đảng bộ Công an, Đảng bộ Quân sự, Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh.

Từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh, đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức 4 kỳ Đại hội, từ Đại hội XV đến XVIII. 13 Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh hiện nay có trên 46.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ