Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHỤ NỮ TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CÔNG TÁC PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hoá là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có tổng diện tích đất tự nhiên là 11,168,3 km2, phía Tây có đường biên giới tiếp giáp với Lào dài 192 km, phía Bắc giáp các tỉnh Ninh Bình, Hoà Bình và Sơn La, phía Nam giáp với tỉnh Nghệ An và phía Đông có bờ biển dài 102 km. Địa hình Thanh Hóa gồm 4 vùng: vùng núi, trung du, đồng bằng và vùng ven biển.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: 24 huyện, 01 thị xã và 02 thành phố, trong đó có 07 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a; 635 đơn vị hành chính cấp xã (573 xã, 34 phường, 28 thị trấn), trong đó có 30 xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 257; 100 xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc bỉệt khó khăn và 83 xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Tính đến năm 2017,toàn tỉnh có hơn 963.000 hộ gia đình, khoảng 3,6 triệu người (trong đó dưới 16 tuổi là 876.000 người); tỷ lệ nam giới chiếm 49,8%, nữ giới chiếm 51,2%; dân sống ở khu vực nông thôn chiếm 85,3%, khu vực thành thị là 14,7%. Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam sinh sống,trong đó chiếm đa số là người Kinh với 84,4%, tiếp đến là người Mường 8,7%, người Thái với 6% và các dân tộc khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Thổ. chiếm tỷ lệ gần 1%.
Tính đa dạng về thành phần dân cư là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, xã hội và kinh tế theo vùng miền song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều giữa các địa bàn trong tỉnh. Trong 10 năm (2005-2015), mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đời sống nhân dân nhìn chung còn thấp.Toàn tỉnh vẫn còn 105.870 hộ nghèo chiếm 10,99%; 96.110 hộ cận nghèo chiếm 9,97%, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ lao động thất nghiệp còn cao và một bộ phận không nhỏ người dân có việc làm, thu nhập không ổn định. Ngoài ra, khoảng cách 10 chênh lệch mức sống giữa khu vực nông thôn và thành thị khá lớn, nhiều tập quán, phong tục lạc hậu còn tồn tại như: phân biệt về giới, tình trạng tảo hôn vẫn còn ở các vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, tình hình tệ nạn xã hội như tệ nạn ma túy, mại dâm và cờ bạc còn diễn biến phức tạp.
Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội trên đã tác động rất lớn, mang lại nhiều thuận lợi trong lãnh đạo thực hiện công tác phụ nữ của Đảng bộ tỉnh trên nhiều lĩnh vực như việc thực hiện bình đẳng giới, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế giảm nghèo bền vững, tạo cơ hội việc làm, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ.Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa cũng còn nhiều khó khăn trong lãnh đạo công tác phụ nữ là tỉnh đông dân cư, với 11 huyện miền núi, địa bàn rộng nên đời sống nhân dân còn thấp, sự phát triển chưa đồng đều, vấn đề học vấn, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập hợp hội viên, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, tổ chức thực hiện công tác Hội và phong trào phụ nữ. Những yếu tố đó tác động đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, từ việc ban hành Nghị quyết đến tổ chức thực hiện công tác phụ nữ trong thực tiễn địa phương tỉnh Thanh Hóa qua các giai đoạn. Truyền thống của phụ nữ Thanh Hóa Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ quê hương, phụ nữ Thanh Hóa đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp chung. Cần cù lao động, chịu thương chịu khó, yêu nước thương nòi đã trở thành đức tính của người phụ nữ tỉnh Thanh.
Những người phụ nữ nơi đây còn góp phần giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc, truyền thụ cho con cháu kho tàng văn hóa phong phú của địa phương và dân tộc. Từ đó đã hình thành nên những truyền thống tốt đẹp của phụ nữ tỉnh Thanh. Truyền thống yêu lao động, cần cù, chịu thương chịu khó. Là cư dân của một trong những cái nôi xuất hiện loài người, phụ nữ Thanh Hóa đã sớm tham gia vào quá trình xây dựng quê hương, mở rộng phạm vi cư trú, sinh hoạt của cư dân nguyên thủy trên đất Thanh Hóa từ vùng núi trướcxuống vùng đồng bằng, ven biển, góp phần làm nên những văn hóa Đa Bút, văn hóa Đông Sơn độc đáo, rạng danh trong lịch sử Việt Nam.
Trong tiến trình lịch sử, với đức tính cần cù, chịu khó, “khéo tay hay làm”, phụ nữ Thanh Hóa lực lượng chủ yếu trong 11 sáng tạo nên nghề trồng lúa nước, chăn nuôi, các nghề thủ công như xe sợi, dệt, đan lưới, bện thừng, đan cót, làm đồ gốm…. Những làng thủ công nổi tiếng, như các làng dệt: Hồng Đô (Thiệu Đô, Thiệu Hóa), Phú Khê (Hoằng Phú, Hoằng Hóa), Nguyệt Viên (Hoằng Quang, Thành phố Thanh Hóa), Lai Duệ (Xuân Tân, Thọ Xuân); các làng đan cót Bất Căng (Thọ Nguyên, Thọ Xuân), làng Giàng (Thiệu Dương, TP.Thanh Hóa); các làng bện thừng Kẻ Rỵ (Phủ Lý, Thiệu Trung, Thiệu Hóa) có nghề bện thừng; các làng chế biến nước mắm Do Xuyên, Ba Làng (Tĩnh Gia), Cự Nham (Quảng Xương), Hới (Sầm Sơn), Hoằng Phụ (Hoằng Hóa), Diêm Phố (Hậu Lộc),… phần lớn đều do bàn tay của chị em phụ nữ ở đây làm ra. Truyền thống lao động cần cù, chịu khó của phụ nữ Thanh Hóa là nguồn nội lực to lớn để phụ nữ Thanh Hóa hôm nay phát huy trong công cuộc xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu mạnh. - Truyền thống yêu nước Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, cùng với nhân dân và phụ nữ cả nước, phụ nữ Thanh Hóa đã dũng cảm đứng lên tham gia các cuộc chiến đấu giành và giữ nền độc lập, tự do cho dân tộc.
Ngay từ đầu thời kỳ Bắc thuộc khi đất nước chìm đắm dưới ách cai trị của nhà Đông Hán, nhiều phụ nữ tỉnh Thanh Hóa đã cùng với nhân dân cả nước hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40 - 43) đánh đuổi kẻ thù, giành lại chủ quyền cho dân tộc. Hai trăm năm sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, vào thế kỷ thứ III, nữ tướng Triệu Thị Trinh không chịu cúi đầu làm nô lệ, đã quật khởi đứng lên dựng cờ khởi nghĩa,khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập của dân tộc. Thế kỷ XV, khi diễn ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, phụ nữ xứ Thanh càng có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp cứu nước. Cuối thế kỷ XVIII, khi đại quân của vua Quang Trung tấn công ra Bắc tiêu diệt quân xâm lược nhà Thanh, nhân dân Thanh Hóa đã nô nức tham gia quân đội Tây Sơn, trong đó có những người phụ nữ đã đảm đang việc đồng áng và gia đình để chồng ra đi chiến đấu.Cuối thế kỷ XIX, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhiều phụ nữ Thanh Hóa đã tham gia hoặc tiếp tế cho lực lượng nghĩa quân chống Pháp.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với nhân dân cả nước, phụ nữ Thanh Hóa tích cực tham gia phong trào “Ba đảm đang”, những cánh 12 đồng “Bà Triệu 5 tấn thắng Mỹ” được xây dựng ở khắp mọi vùng miền trong tỉnh. Trong bom rơi, đạn nổ, con gái xứ Thanh vẫn hiên ngang bám cầu, bám đường làm “cọc tiêu” sống dẫn đường cho những đoàn xe hướng ra tiền tuyến. Truyền thống yêu nước của phụ nữ Thanh Hóa tiếp tục được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế. Truyền thống văn hóa Trải qua chiều dài lịch sử hàng nghìn năm, phụ nữ Thanh Hóa đã góp phần tạo dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹpcủa dân tộc.
Với đức tính chịu thương, chịu khó, nhường nhịn, bao dung, cũng như phụ nữ cả nước, người phụ nữ Thanh Hóa đã góp phần xây dựng đạo lý, những giá trịnhân văn cao đẹp trong lối sống, trong ứng xử, vun đắp thuần phong mỹ tục, để lại nhiều tấm gương về sự giản dị, cần kiệm, đức hy sinh. Nhiều bà mẹ xứ Thanh đã sinh thành, dưỡng dục nhiều vị anh hùng dân tộc làm rạng danh quê hương, đất nước. Ngoài việc làm tròn chức năng làm vợ, làm mẹ, phụ nữ Thanh Hóa cũng đã góp phần gìn giữ, phát huy những nét đẹp trong văn hóa, phong tục tập quán của quê hương, dân tộc. Phụ nữ đã tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong các lễ hội, trò diễn dân gian mang đậm sắc thái xứ Thanh, đặc biệt là trong các lễ hội cầu mùa, lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc.
Truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, lòng yêu nước nồng nàn và những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ xứ Thanh đã được phụ nữ trong tỉnh tiếp thu, gìn giữ và phát huy. Đó là hành trang trí tuệ và tinh thần để phụ nữ thanh Hóa tiếp tục có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng quê hương, đất nước. Công tác phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trước năm 2005 Trước năm 2005, Đảng bộ tỉnh đã xác định công tác phụ nữ là một nội dung quan trọng trong chủ trương, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Do đó, công tác phụ nữ của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều đổi mới, đạt được những kết quả khích lệ.
Việc thực hiện các chính sách về phụ nữ được quan tâm, nhất là đã tạo môi trường thuận lợi, động viên phụ nữ phát huy sức sáng tạo, trí tuệ, tài năng 13 và sức tự vươn lêncủa phụ nữ vào công cuộc đổi mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong công tác xây dựng Hội, Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo Hội LHPN tỉnh và các cấp Hội đã từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và khả năng nguyệnvọng của phụ nữ địa phương nên đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực. Hội LHPN tỉnh giữ vững vai trò nòng cốt, tập hợp, hướng dẫn phong trào phụ nữ thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh và các địa phương.