phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 5 z CHUƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm kỳ vọng Kỳ vọng là một khái niệm đƣợc nhắc đến nhiều trong cuộc sống. Nó ám chỉ sự mong đợi về thành công của chính mình nhƣ: học sinh kỳ vọng mình sẽ trở thành học sinh xuất sắc trong năm học này, ngƣời làm kinh doanh kỳ vọng năm nay doanh thu sẽ tăng vƣợt bậc so với năm ngoái.Ngoài ra, kỳ vọng còn có thể hiểu là mong đợi vào thành công của một ngƣời dành cho ngƣời khác, nhƣ cha mẹ kỳ vọng vào con cái, thầy cô kỳ vọng vào học sinh của mình, ông chủ kỳ vọng vào nỗ lực làm việc của nhân viên.
Nó mang ý nghĩa là sự mong ƣớc về một cái gì đó với sự mong mỏi rằng niềm mong ƣớc của mình sẽ đƣợc thỏa mãn, là niềm tin vào một kết quả tốt đẹp sẽ đến có liên quan đến sự kiện và tình huống trong cuộc sống con ngƣời. Còn trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) [11] thì khái niệm kỳ vọng đƣợc hiểu là một ngƣời đặt niềm tin, hy vọng vào ai đó. Theo Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (2001) [14] thì kỳ vọng là ham muốn, hy vọng, mục đích muốn đạt tới khi làm một công việc với ít nhiều tham vọng. Mức độ kỳ vọng rất quan trọng, bởi nó ảnh hƣởng đến ứng xử của ngƣời ta, khiến ngƣời ta tìm mọi cách để đạt mục đích.
Kỳ vọng biểu hiện ở cấp độ cao hơn khát vọng. Khát vọng là điều mong muốn, bền bỉ đòi hỏi một cách thôi thúc mạnh mẽ nhằm đạt đƣợc cái gì đó thì kỳ vọng là sự chờ đợi ở bản thân hay ngƣời khác đạt một thành tích nào đó. Trong từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (chủ biên) (2008) [2] thì kỳ vọng là khát vọng nhận đƣợc cái gì đấy, đƣa ra quyền của mình về cái gì đấy; là khát vọng cố làm cho ai thừa nhận cái gì đó khi thiếu cơ sở để thừa nhận. Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng kỳ vọng là sự mong muốn, chờ đợi với niềm tin về khả năng xảy ra của sự việc nào đó trong tƣơng lai có liên quan đến cuộc sống của con ngƣời và đƣa đến đƣợc kết quả tốt đẹp.
Kỳ vọng đó có thể thực 6 z tế hoặc không thực tế. Khi kết quả không đạt đƣợc nhƣ mong đợi sẽ dẫn đến sự thất vọng cho con ngƣời. Những trải nghiệm sống tích cực hoặc tiêu cực của con ngƣời sẽ dẫn họ đến những kỳ vọng có lợi hoặc không có lợi cho họ ở hiện tại hoặc tƣơng lai gần. Khái niệm tương tác Trong “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện (2001) lại quan niệm: tƣơng tác là một khái niệm thuộc về ứng xử: “cái này tác động lên cái kia, cái kia tác động trở lại cái này, hai cái ảnh hƣởng lẫn nhau, chứ không ảnh hƣởng một chiều”.
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (2008) [2] thì tƣơng tác là sự tác động qua lại, tác động lên nhau. Với những định nghĩa trên, có thể hiểu rằng tƣơng tác là sự tác động qua lại, ảnh hƣởng lẫn nhau từ cả hai phía. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi thống nhất cách hiểu của Nguyễn Khắc Viện (2001): tƣơng tác là một khái niệm thuộc về ứng xử, có nghĩa là tƣơng tác này diễn ra trong mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau và nó cũng biểu hiện qua cách thức ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời. Kiểu tương tác Kiể u tƣơng tác có thể hiể u rằ ng , đó là cách thƣ́c mà con ngƣời sƣ̉ du ̣ng để thể hiê ̣n sƣ̣ tác đô ̣ng, tiế p xúc, ứng xử qua lại với nhau trong mối quan hệ giữa ngƣời và ngƣời.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập tới kiểu tƣơng tác giữa cha mẹ với con cái, giữa giáo viên với học sinh. Sở dĩ nhƣ vậy bởi các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong giai đoạn tiểu học này, giáo viên và cha mẹ đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức, cảm xúc của trẻ và có sự tƣơng đồng về những ảnh hƣởng mà cha mẹ cũng nhƣ giáo viên tác động lên trẻ (Trouilloud et all. Nghiên cứu về kiểu ứng xử giữa cha mẹ với con cái phải kể đến 4 kiểu ứng xử, tƣơng tác gi ữa cha mẹ và con cái của Baumrind (1971, 1991) [22] [23] 7 z đƣợc thừa nhận rộng rãi bao gồm: kiểu ứng xử dân chủ, kiểu ứng xử độc đoán, kiểu ứng xử nuông chiều và kiểu ứng xử buông lỏng. Kiểu tƣơng tác độc đoán: Ở kiểu tƣơng tác, ứng xử này, cha mẹ ít có hành vi thể hiện sự nồng ấm và có mức độ kiểm soát cao cả về hành vi và tâm lý của trẻ.
Cha mẹ muốn trẻ luôn phải thực hiện theo các quy tắc do mình đặt ra một cách nghiêm ngặt và trẻ phải tuân theo sự chỉ dẫn của cha mẹ. Nếu không tuân theo những quy định này, trẻ sẽ bị cha mẹ trừng phạt. Họ không giải thích lý do cho những quy tắc đó mà thƣờng nói những câu nhƣ “con sẽ làm nó bởi vì cha/mẹ đã nói nhƣ vậy” và “ bởi vì mẹ/cha là cha mẹ còn con thì không”. Cha mẹ độc đoán không khuyến khích sự trao đổi, thảo luận với trẻ và các quy tắc gia đình là không cần bàn cãi.
Cha mẹ độc đoán tin rằng trẻ sẽ chấp nhận mà không đặt câu hỏi, các quy tắc và thói quen sẽ đƣợc thiết lập. Nghiên cứu cho rằng, trẻ học đƣợc từ cha mẹ độc đoán rằng tuân theo quy tắc của cha mẹ và tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt là giá trị về hành vi độc lập. Kết quả là trẻ có thể trở thành chống đối, nổi loạn hoặc trở nên phụ thuộc. Những trẻ trở nên chống đối có thể biểu hiện ra bằng những hành vi xâm kích.
Còn những trẻ dễ phục tùng hơn thì duy trì sự phụ thuộc vào cha mẹ. Kiểu tƣơng tác dân chủ: thể hiện sự nồng ấm cao, kiên định, quy tắc đặt ra phù hợp với lứa tuổi. Họ khuyến khích trẻ độc lập trong khi vẫn duy trì giới hạn và kiểm soát hành động của trẻ. Cha mẹ dân chủ không sử dụng câu nhƣ “bởi vì mẹ/ cha đã nói”.
Thay vào đó, họ lắng nghe và đƣa ra những lời giải thích cho trẻ. Cha mẹ dân chủ khuyến khích các chủ đề và thảo luận với trẻ, mặc dù trách nhiệm cuối cùng là của cha mẹ. Nghiên cứu chứng minh rằng trẻ có cha mẹ dân chủ học đƣợc cách để thƣơng lƣợng và tham gia thảo luận. Trẻ hiểu rằng quan điểm của trẻ có giá trị.
Kết quả là trẻ thấy mình có thẩm quyền xã hội, trách nhiệm và tự lập. Kiểu tƣơng tác buông lỏng/ nuông chiều: rất nồng ấm nhƣng dễ dãi. Họ nuông chiều và thụ động trong cách làm cha mẹ của mình và tin rằng đó là cách để chứng minh tình yêu của họ dành cho trẻ. Cha mẹ tự do thƣờng có 8 z câu nhƣ “chắc chắn, con có thể thức muộn nếu con muốn” và “con không cần làm bất cứ việc lặt vặt nào nếu con không thích chúng”.
Cha mẹ tự do không thích nói không hoặc làm trẻ thất vọng. Kết quả là, trẻ đƣợc phép đƣa ra nhiều quyết định quan trọng mà thiếu thông tin. Cha mẹ không xem mình nhƣ là ngƣời tham gia tích cực trong việc định hình hành động của trẻ. Thay vào đó họ xem mình nhƣ là nguồn thông tin, trẻ có thể chọn và tìm kiếm lời khuyên từ họ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ có cha mẹ tự do học đƣợc rằng có một vài ranh giới và quy tắc và hệ quả là không có gì là nghiêm trọng cả. Kết quả là trẻ có thể gặp nhiều khó khăn để kiểm soát bản thân và có xu hƣớng xem mình là trung tâm của sự chú ý. Điều này có thể cản trở trẻ phát triển mối quan hệ phù hợp với bạn bè. Kiểu tƣơng tác thờ ơ: không nồng ấm và không tham dự vào trong bất cứ nhu cầu nào của trẻ.
Họ tƣơng tác với trẻ ở mức ít nhất và trong một vài trƣờng hợp, thờ ơ trở thành vô trách nhiệm. Cha mẹ thờ ơ không quan tâm đến nhu cầu, nơi ở hoặc những trải nghiệm của trẻ ở trƣờng học hoặc với bạn bè. Cha mẹ thờ ơ thƣờng có câu nhƣ “mẹ/cha không quan tâm con đi đâu” hoặc “tại sao mẹ/cha phải để tâm đến những việc con làm?” Cha mẹ thờ ơ hiếm khi xem xét thông tin của trẻ khi đƣa ra quyết định và họ không muốn bị trẻ làm phiền. Cha mẹ có thể trở thành kiểu này nếu nhƣ họ bị mệt mỏi, thất vọng hoặc chỉ đơn giản là “từ bỏ” trong nỗ lực duy trì quyền lực của mình.
Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ có cha mẹ thờ ơ học đƣợc rằng cha mẹ hƣớng về những niềm vui trong cuộc sống của họ và ít khả năng để đầu tƣ thời gian cho việc nuôi dạy con cái. Kết quả là, trẻ có những mô hình hành vi tƣơng tự nhƣ những đứa trẻ lớn lên trong gia đình cha mẹ tự do và trẻ cũng có thể có hành vi bốc đồng do gặp vấn đề với khả năng tự điều chỉnh của mình. Bên ca ̣nh kiể u tƣơng tác giƣ̃a cha me ̣ và con cái do Baumrind đƣa ra , Schonour (2004) [71] cũng đƣa ra 4 kiể u làm giáo viên là: độc đoán (authoritarian), buông thả/ tự do (permissive), thờ ơ (detached) và dân chủ (authoritative). Từng kiểu giáo viên sẽ tạo ra những ảnh hƣởng khác nhau trong lớp học.
9 z Kiểu tƣơng tác độc đoán (authoritarian teaching style): Giáo viên độc đoán thƣờng đƣợc học sinh mô tả là ngƣời hay la hét. Giáo viên mong đợi học sinh tuân theo và khi học sinh không làm theo thì những giáo viên này sẽ la hét, chửi mắng cho đến khi học sinh tuân thủ trở lại. Rất ít khả năng đƣợc phép vƣợt qua giáo viên. Mô ̣t sự v i phạm nhỏ cũng sẽ bị bắt gặp và bị kỷ luật.
Học sinh có thể tuân thủ theo giáo viên nhƣng phần lớn là bởi vì sợ, và những giáo viên này sẽ đổ lỗi cho vấn đề kỷ luật ở trong lớp lên cho học sinh. Kiểu tƣơng tác buông thả (permissive teaching style): Kiểu giáo viên tự do/buông thả là ngƣời luôn muốn làm bạn với học sinh.