Đặt vấn đề Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nắng ẩm mưa nhiều, rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển. Tùy vào từng loại nấm mà mục đích sử dụng khác nhau, có thể sử dụng làm nấm ăn hay làm nấm dược liệu. Các loại nấm có tác dụng làm thuốc như: phòng chống khối u, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, thuốc trợ tim, làm giảm lượng mỡ trong máu, giải độc bổ gan, bổ dạ dày, hạ đường huyết, chống phóng xạ…(như nấm linh chi, mộc nhĩ trắng, nấm hương…) Ngoài ra các loại nấm ăn điểm hình như nấm sò, nấm rơm, được xem như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch”, giàu các thành phần dinh dưỡng cao như: Protein, glucide, các acid amin, vitamin , chất khoáng, các chất đa lượng.Mặt khác, việc sản xuất nấm còn tận dụng được các sản phẩm phụ như bông phế liệu, rơm rạ, mùn cưa, cỏ, bã mía…làm nguyên liệu cho sản xuất nấm, góp phần bảo vệ môi trường - hạn chế ô nhiễm môi trường. Ở nước ta , từ thế kỷ XVI nấm Linh chi được biết đến như một loại dược liệu quý hiếm và bổ dưỡng với nhiều loại khác nhau như: Thanh chi, Bạch chi, Tử chi, Hoàng chi, Xích chi.
Nấm Linh chi mọc trên gỗ lim người ta thường gọi là Nấm Lim.Trong tự nhiên, nấm Lim xanh mọc ỏ̉ nơi rừng rậm, ít ánh sáng, độ ẩm cao và thường xuất hiện vào mùa mưa. Nấm Lim xanh là loài thường niên, tai nấm chỉ phát triển trong một mùa. Vì vậy số lượng quần thể nấm Lim xanh rất hạn chế, cùng với việc khai thác quá mức trong thời gian qua đã dẫn đến tình trạng nguy cấp của loài nấm này. Trước đây nấm Lim xanh được phát hiện ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Bình Phước do thu hái một cách tàn phá vì vậy hiện nay đã trở nên hiếm dần.
Nấm Lim xanh hiện được đưa vào danh lục đỏ các cây thuốc Việt Nam( sách đỏ Việt Nam h 2 2007). Tuy nhiên việc nuôi trồng và sản xuất nấm Lim xanh vẫn gặp nhiều trở ngại trong công tác giống và nuôi trồng, vì chất lượng giống không được ổn định. Để giải quyết vấn đề trên nhằm đạt hiệu quả kinh tế trong sản xuất, việc nghiên cứu và xây dựng quy trình phân lập nấm Lim xanh để nâng cao chất lượng giống, bảo tồn giống nấm Linh chi( Lim xanh) chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứa kỹ thật trồng nấm lim xanh Ganoderma lucidum (Leyss.) Karst trên giá thể nhân tạo” 1.2 Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống nấm Lim xanh trên giá thể nhân tạo - Tìm được công thức phối trộn tối ưu với từng loại cơ chất 1.3 mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại giá nhân tạo (Thóc, lá cây khô, mùn cưa) đến khả năng nhân giống nấm Lim xanh - Đánh giá được ảnh hưởng của một số thành phần nguyên liệu và hàm lượng phụ gia( cám gạo, đường glucose, bột nhẹ) đến khả năng ăn lan của hệ sợi nấm và tạo quả thể trong bịch nguyên liệu.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được thuận lợi và khó khăn về nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm Linh chi tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố như giá thể và các hợp chất tự nhiên trong quy trình phát triển của meo giống và quả thể nấm Linh xanh - Đánh giá được ảnh hưởng của hàm lượng bột nhẹ đến khả năng phát triển meo giống và hình thành quả thể nấm Lim xanh 1.2 ý nghĩa thực tiễn - Khai thác các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm tại địa phương, bao gồm tất cả các loại phế thải của nông nghiệp giàu chất cellulose h 3 - Kết quả của đề tài nghiên cứu là cơ sở quan trọng để phục vụ sản xuất nấm Linh chi đạt hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển cầu xã hội h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Giới thiệu chung về nấm Lim xanh 2. Nguồn gốc Lim xanh có tên khoa học là Ganoderma lucidum, là loại nấm thuộc họ đa khổng (polyporaceae), thường mọc trên những thân cây mục, nấm Lim xanh là một loài thuộc nấm Linh chi. Người ta còn gọi Linh chi là Linh Chi thảo, nhiều tác giả đã cho rằng đây là một loại cây cỏ nhưng thực ra Linh chi là một loại nấm.
Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và Zenzabuno Kasai, giáo sư của phân khoa nông nghiệp, trường Đại học Kyoto mới thành công trong việc gây giống và người ta mới sản xuất được loại nấm này một cách quy mô. Từ đó Linh Chi được trồng và sử dụng trong việc bào chế chứ không chỉ là huyền thoại [4][7][13] 2.2 Vị trí phân loại - Tên khoa học : Ganoderma lucidum - Tên tiếng Anh : Ling zhi, Reishi -Chi : Ganoderma - Họ : Ganodermatsceae - Bộ : Ganodermatales - Lớp : Hymenomycetes - Ngành phụ : Basidiomycotina - Ngành : Eumycota - Giới : Fungi Chi Ganoderma rất phong phú và phân bố khá rộng, nhất là ở vùng nhiệt đới ẩm, một số được dùng làm thực phẩm chức năng và dược phẩm. h 5 Gặp hầu hết ở các nước châu Á. Ở Việt Nam gặp rải rác từ Bắc đến Nam, thường xuất hiện ở các rừng có nhiều loại cây lá rộng, nhất là rừng gỗ Lim nên còn được gọi là nấm Lim [2].
- Phân loại theo độ tuổi: + Nhóm nấm đa niên: Là loại nấm có phiến nấm phát triển trong nhiều năm sống ký sinh trên cây gỗ lâu năm (đến khi cây chết). Nấm không có cuống hoặc có thì rất ngắn, có nhiều tầng (mỗi năm một tầng). Mũ nấm hình quạt có màu nâu xám, mặt trên xù xì thô ráp và khô cứng ( cứng như gỗ Lim) có kích thước và khối lượng lớn, có khi lên tới hơn 1m và nặng đến 40kg lớn hớn nhiều Linh Chi thông thường, và hiện người ta chưa tìm ra hết công dụng của nó. + Nhóm nấm hằng niên: Có đến 45 loài, là loài nấm có cuống và có màu giống màu của chính nó.
Mũ nấm hình quạt, hình tròn hoặc hình thân, mặt trên nhẵn bóng, nấm hơi cứng và dai. Linh chi đã được nghiên cứu kỹ về tác đụng dược lý, thành phần hóa học, tác dụng lâm sàng. Xác định kỹ loài Linh chi trồng là không độc, có nhiều tác dụng chữa bệnh và chống lão hóa [5]. - Phân loại theo vị trí: - Nhóm mọc ở trên cao : Là loại nấm mọc từ gốc lên đến ngọn cây.
- Nhóm mọc gần đất : Là loại nấm mọc từ gốc cây chủ. - Nhóm mọc từ đất : Là loại mọc từ rễ cây hoặc xác mùn [5].3 Đặc điểm hình thái học Nấm linh chi quả thể gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm. Cuống dài hoặc ngắn, đính bên có hình trụ đường ính từ 0,5-3 cm. Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo.
Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng , không có lông, phủ suốt trên mặt tán nấm. Mũ nấm khi còn non có hình trứng lớn dần dàn có quạt hay bán nguyệt, hình thận. Trên mặt mũ nám có vân gạch đồng tâm màu sắc từ vàng chanh – h 6 vàng nghệ - vàng nâu – vàng cam – đỏ nâu – nâu tím, nhẵn bóng như đánh vecni. Mũ nấm thường có đường kính từ 4-27 cm, dày từ 0,8-3 cm có loại Linh chi đường kính tới 100cm, phần đỉnh cuống thường gồ lên hoặc lõm [6].
Mặt dưới của mũ nấm phẳng có màu tắng hoặc màu vàng nhạt, mặt này có nhiều lỗ li ty chính là nơi hình thành và phát tán bảo tử nấm [5] 2. Đặc điểm thực vật và phân bố Nấm Lim xanh là một trong những loại nấm phá gỗ, nó thường ký sinh trên các cây gỗ lâu năm, một số loài cây chết mục, thường gặp chúng trên cây Lim. Nấm thường có ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong tự nhiên, nấm thường chỉ có ở nơi rừng rậm, ít ánh sáng và có độ ẩm cao [10] Lim xanh có cấu tạo 2 phần: Phần cuống và mũ nấm.
Cuống nấm biến dị rất lớn, từ rất ngắn (0,5cm), rất mảnh (0,2cm) cho đến dài cỡ hàng 5-10 cm hoặc rất dài 20-25cm. Cuống có thể đính ở bên hoặc đính gần tâm do quá trình lên tán mà thành. Mũ nấm dạng thận - gần tròn, đôi khi xoè hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng. Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm và có tia rãnh phóng xạ, màu vàng nâu, vàng cam, đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím hoặc nâu đen, nhẵn bóng như láng vecni.
Kích thước tán biến động từ 2 - 30cm, dày 0,8 - 2,5cm. Thịt nấm dày từ 0,4 - 1,8cm, màu vàng kem, nâu nhạt hoặc trắng. Nấm mềm, dai khi tươi và trở nên chắc cứng và nhẹ khi khô, đầu tận cùng của sợi phình hình chuỳ, màng rất dày đan khít vào nhau tạo thành lớp vỏ láng phủ trên mũ và bao quanh cuống [9] 2. điều kiện sinh trưởng và phát triển - Nhiệt độ thích hợp + Giai đoạn nuôi sợi : từ 20 °C đến 30°C + Giai đoạn quả thể : từ 22°C đến 28°C - Độ ẩm h 7 + độ ẩm cơ chất : 60-62% + Độ ẩm không khí : Giai đoạn nuôi sợi 65-70% - Giai đoạn quả thể : 80-95% - Độ thông thoáng :Giai đoạn nuôi sợi cần độ thông thoáng vừa phải.
Trong suốt quá trình phát triển quả thể , nấm linh chi cần có độ thông thoáng tốt [3] - Độ pH: Linh chi thích nghi trong môi trường từ axit yếu đến trung tính (pH từ 5,5-7 ). Đối với nguyên liệu trồng nấm không ở dạng dung dịch - Ánh sáng + Giai đoạn nuôi sợi : không cần ánh sáng + Giai đoạn phát triển quả thể : cần ánh sáng tán xạ. Cường độ ánh sáng từ mọi phía. Cường độ ánh sáng từ 1000 -1200 lux - Dinh dưỡng : sử dụng trực tiếp nguồn xenllulose và hấp thụ một số chất dinh dưỡng như : đường, khoáng, vitamin và protein 2.
Thành phần các hoạt chất sinh học trong nấm Lim xanh - Các nghiên cứu về thành phần hoá học của nấm Linh Chi đầu tiên được tiến hành vào đầu thế kỷ XX, khi các nhà khoa học nghiên cứu đến lớp vỏ láng của nấm và đã phát hiện các chất như: esgosterol, các enzyme phenoloxidase và peroxidase. - Theo phân tích của G.