CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC KTDH TÍCH CỰC TRONG ĐẠI SỐ LỚP 7 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Vấn đề tổ chức hoạt động dạy học chú trọng việc phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo và phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS đã được đề cập rất sớm ở các nước phương Đông, phương Tây, và vấn đề này ở Việt Nam hiện nay không còn là vấn đề mới cả về lí luận và thực tiễn dạy học. Nhiều nhà khoa học giáo dục đã nghiên cứu vấn đề này dưới các góc độ và bình diện khác nhau. Hiện nay, các khối lớp THCS, THPT vẫn còn khá bỡ ngỡ khi được tiếp xúc với sự đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Hầu hết, GV vẫn còn bị động và chưa có sự chuyển đổi một cách hợp lý từ phương pháp dạy học truyền thống sang dạy học phát triển phẩm chất và năng lực. Việc GV chưa sử dụng và phân bố các PPDH và KTDH một cách phù hợp để phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh dẫn đến các tiết học nhàm chán và HS không có hứng thú trong việc xây dựng tiết học và không có hiệu quả trong truyền đạt kiến thức. Vì vậy, việc GV cần xây dựng các tiết học sử dụng kết hợp các PPDH và KTDH một cách linh hoạt để giúp HS hình thành được các năng lực, phẩm chất, phát triển được các kỹ năng mềm và đặc biệt giúp cho HS vận dụng kiến thức toán học vào trong đời sống thực tiễn hằng ngày, kích thích sự sáng tạo, tự tin của HS. Đồng thời qua việc sử dụng kết hợp các PPDH, KTDH một cách hiệu quả sẽ giúp cho GV đánh giá được năng lực và phẩm chất của học sinh qua các hoạt động dạy học một cách kịp thời từ đó có thể điều chỉnh quá trình dạy học sao cho phù hợp với năng lực của HS.
Kỹ thuật dạy học tích cực 1. Dạy và học tích cực “ Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những môi trường dạy học được tổ chức, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, thái độ, phát triển năng lực và phẩm chất” theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2014) [1]. 10 Phương pháp dạy học có thể chia theo 3 cấp độ: + Cấp độ vĩ mô (quan điểm dạy học): là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học. Ví dụ: dạy học hướng vào người học, phát huy tính tích cực của học sinh,.
+ Cấp độ trung gian (Phương pháp dạy học cụ thể): là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học. Ví dụ: Phương pháp đóng vai, thảo luận, nghiên cứu, xử lý tình huống, trò chơi,. + Cấp độ vi mô (KTDH): là những biện pháp, cách thức, hành động của GV và HS trong các tình huống, hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ, nội dung cụ thể. Ví dụ: kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật hỏi chuyên gia,.
Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ: trong phương pháp thảo luận nhóm cóc các KTDH như: kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh,. Như vậy, để phát huy năng lực của HS, GV phải biết vận dụng các phương pháp dạy học tích cực khác nhau để định hướng, dẫn dắt HS lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên, không gò ép một các hiệu quả. Bên cạnh đó, GV đánh giá được năng lực của HS, đảm bảo được mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của người học.
Hoạt động của GV và HS trong dạy học tích cực được thể hiện ở sơ đồ sau: 11 Nghiên cứu, tìm Định hướng hiểu Người Người dạy Tổ chức Thực hiện học Hỗ trợ, cố vấn, Tự đánh giá, đánh giá tự điều chỉnh 1. Vai trò của KTDH tích cực trong dạy học môn Toán Sản phẩm lý tưởng của nền giáo dục chính là những con người có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của xã hội, mà năng lực lại chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động nên việc tổ chức hoạt động cho HS là nhiệm vụ cốt lõi của GV. Trong dạy học truyền thống, người ta chỉ coi trọng việc HS học được kiến thức gì, số lượng tri thức là bao nhiêu, giải được bao nhiêu bài tập trong nội dung môn học,. Với lối “ truyền thụ kiến thức một chiều” thì người học không có cơ hội tham gia các hoạt động học tập, do đó không thể hình thành và phát triển năng lực[4].
Theo lí luận dạy học hiện đại thì người thầy cần phải tổ chức các hoạt động học tập để HS tham gia một cách tích cực, qua đó phát triển được năng lực và phẩm chất. Điều này chỉ thực hiện được khi GV sử dụng các phương pháp, KTDH tích cực và sử dụng kết hợp các KTDH một cách hợp lý. Cùng chung quan điểm này, ông Nguyễn Ngọc Hưng cũng cho rằng: “về PPDH, chương trình chú trọng các PPDH, trong đó có các PPDH đặc thù của mỗi môn học, các KTDH theo hướng phát huy tính tích cực”[5]. Như vậy, để đạt được mục tiêu dạy học là phát triển năng lực HS thì việc sử dụng các PPDH, KTDH tích cực là điều không thể thiếu trong quá trình dạy học tại thường THCS, THPT.
12 Nội dung của môn Toán có tính trừu tượng, logic và khái quát. Do đó, để giúp HS học tốt môn Toán cần phải đảm bảo sự cân đối giữa việc học lý thuyết và vận dụng giải quyết các vấn đề cụ thể thông qua việc sử dụng các PPDH, KTDH tích cực một cách là một điều không thể thiếu trong dạy học môn Toán[6]. Một số KTDH tích cực 1. Kỹ thuật mảnh ghép a.
Giới thiệu: là kỹ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của HS, nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2). Dụng cụ: Giấy, bút cho các thành viên c. Thực hiện: Vòng 1: Nhóm chuyên gia Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người). Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau.
Ví dụ: + Nhóm 1: Nhiệm vụ A + Nhóm 2: Nhiệm vụ B + Nhóm 3: Nhiệm vụ C Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình. 13 Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành chuyên gia của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2. Vòng 2: Nhóm mảnh ghép Hình thành nhóm mới khoảng từ 3-6 người (bao gồm 1-2 người từ nhóm 1; 1-2 từ nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3…), gọi là nhóm mảnh ghép. Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau.
Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1). Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ trình bày và chia sẻ kết quả. Lưu ý: - Đảm bảo những thông tin từ các mảnh ghép lại với nhau có thể hiểu được bức tranh toàn cảnh của một vấn đề và là cơ sở để giải quyết một nhiệm vụ phức hợp ở vòng 2. - Các chuyên gia ở vòng 1 có thể có trình độ khác nhau, nên cần xác định yếu tố hỗ trợ kịp thời để tất cả mọi chuyên gia có thể hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, chuẩn bị cho vòng 2.
- Số lượng mảnh ghép không nên quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể truyền đạt lại kiến thức cho nhau. - Đặc điểm của nhiệm vụ mới ở vòng 2 là một nhiệm vụ phức hợp và chỉ có thể giải quyết được trên cơ sở nắm vững những kiến thức đã có ở vòng 1. Do đó cần xác định rõ những yếu tố cần thiết về kiến thức, kỹ năng, thông tin,…cũng như các yếu tố hỗ trợ cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp này. Ưu điểm: - Đào sâu kiến thức trong từng lĩnh vực.
14 - Phát huy hiểu biết của HS và giải quyết những hiểu sai. - Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm. - Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân. Hạn chế: - Kết quả thảo luận phụ thuộc vào vòng thảo luận thứ nhất, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả.
- Nếu số lượng thành viên không được tính toán kỹ sẽ dẫn đến tình trạng nhóm thừa, nhóm thiếu. - Không sử dụng được cho các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc “ Nhân – quả” với nhau. Kỹ thuật khăn trải bàn a) Giới thiệu: Kỹ thuật “ khăn trải bàn” là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích ,thúc đẩy sự tham gia tích cực ,tăng cường tính độc lập ,trách nhiệm của người học và phát triển mô hình có sự tương tác giữa người học với người học. b) Dụng cụ: Bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm.
c) Thực hiện: - Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký, giao dụng cụ. - GV giao vấn đề, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của tờ giấy. - Nhóm trưởng và thư ký tổng hợp các ý kiến, đánh giá và lựa chọn những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy. d) Lưu ý: Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình.
Nhóm có 4 thành viên sẽ hiệu quả nhất. 15 e) Ưu điểm: Tăng cường tính độc lập và trách nhiệm của người học. f) Hạn chế: Tốn kém chi phí và khó lưu trữ, sửa chữa kết quả. Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share) a) Giới thiệu: Chia sẻ nhóm đôi (Thinh-Pair-Share) là một kỹ thuật do một giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981.