Khóa luận: Sinh trưởng và chăm sóc cây Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria) năm 3

Nghiên cứu chi tiết về sinh trưởng và kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng Đằng. Tài liệu phân tích sâu bệnh, tỷ lệ sống và đề xuất biện pháp thực tiễn.

Chuyên ngành

STBT & ĐDSH

Tác giả

Nguyễn Hoài Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây Hoàng Đằng và tầm quan trọng

Cây Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria Lour) là một loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, được trồng rộng rãi tại các vùng núi Việt Nam, đặc biệt ở Nghệ An. Cây này có khả năng thích ứng tốt với điều kiện địa hình khó khăn và cung cấp nhiều sản phẩm quý giá cho đời sống. Kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng Đằng năm thứ 3 là giai đoạn quan trọng quyết định sự phát triển và năng suất của vườn cây. Nghiên cứu sinh trưởng và các biện pháp chăm sóc khoa học giúp nông dân tối ưu hóa sản lượng và chất lượng cây. Tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại đã mang lại hiệu quả đáng kể, góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương.

1.1. Đặc điểm sinh học và sinh thái của Hoàng Đằng

Cây Hoàng Đằng là loài cây gỗ lâu năm, có khả năng chịu được điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Cây yêu thích độ ẩm cao, đất có hàm lượng chất hữu cơ dồi dào và điều kiện ánh sáng vừa phải. Loài cây này phát triển tốt ở độ cao 600-1200m, với nhiệt độ trung bình 18-22°C. Sinh trưởng cây Hoàng Đằng phụ thuộc vào chất lượng đất, chế độ tưới nước và quản lý cỏ dại. Hiểu rõ các đặc tính này giúp người trồng lựa chọn địa điểm và kỹ thuật chăm sóc phù hợp.

1.2. Ý nghĩa kinh tế và xã hội

Cây Hoàng Đằng cung cấp gỗ xây dựng, gỗ làm dụng cụ và nhiều sản phẩm dược liệu quý báu. Trồng Hoàng Đằng giúp bảo vệ rừng, cải thiện khí hậu địa phương và tạo thu nhập ổn định cho người nông dân. Đây là cây trồng có triển vọng phát triển bền vững ở các vùng miền núi, góp phần giảm nghèo và phát triển kinh tế nông thôn.

II. Kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng Đằng trong năm thứ 3

Kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng Đằng ở giai đoạn năm thứ 3 là rất quan trọng để đạt hiệu suất cao nhất. Trong giai đoạn này, cây đã phát triển hệ rễ vững chắc và bắt đầu có tốc độ sinh trưởng tăng nhanh. Công tác làm cỏ định kỳ giúp loại bỏ cỏ dại cạnh tranh với cây lấy dinh dưỡng và nước. Phát dọn và tỉa thưa cây là những biện pháp thiết yếu nhằm tạo điều kiện tốt cho chiếu sáng, thông thoáng, giúp cây phát triển cân đối và tránh ốm vàng. Bón phân hợp lý theo từng tháng trong năm đảm bảo cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh trưởng cây Hoàng Đằng. Tưới nước đều đặn, đặc biệt vào mùa khô là rất cần thiết để duy trì độ ẩm đất ổn định.

2.1. Quản lý cỏ dại và dọn vệ sinh

Làm cỏ là công việc thường xuyên cần thực hiện 3-4 lần/năm tùy theo điều kiện khí hậu và mức độ mọc cỏ. Cỏ dại cạnh tranh với cây lấy dinh dưỡng, nước và ánh sáng, làm chậm sinh trưởng cây Hoàng Đằng. Nên làm cỏ bằng tay hoặc công cụ để tránh làm tổn thương rễ cây. Dọn dẽ vệ sinh bao gồm loại bỏ cành chết, lá bệnh tích lũy trên mặt đất, giảm nguồn bệnh hại.

2.2. Tỉa thưa phát dọn và bón phân

Phát dọn và tỉa thưa cây giúp loại bỏ cành yếu, cành bị bệnh, tạo tán cây hình tròn cân đối. Thực hiện vào cuối mùa mưa hoặc đầu mùa khô. Bón phân năm thứ 3 nên tập trung vào phân đạm để kích thích ra lá và phát triển thân cây. Bón phân hỗn hợp (NPK) từng tháng theo liều lượng phù hợp với độ tuổi và tình trạng dinh dưỡng đất.

III. Nghiên cứu sinh trưởng cây Hoàng Đằng năm thứ 3

Sinh trưởng cây Hoàng Đằng năm thứ 3 thể hiện qua các chỉ tiêu như đường kính gốc, chiều cao vút ngọn, động thái ra lá và tỷ lệ ra chồi. Theo nghiên cứu tại xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, cây Hoàng Đằng trồng năm thứ 3 đạt tốc độ tăng trưởng đường kính gốc từ 1,5-2,5cm/tháng, tùy theo điều kiện chăm sóc. Chiều cao tăng bình quân 30-40cm/tháng vào mùa mưa, giảm xuống 10-15cm/tháng vào mùa khô. Động thái ra lá là chỉ tiêu quan trọng, thường bắt đầu từ tháng 3-4 và kéo dài đến tháng 8-9. Tỷ lệ sống của cây đạt 90-95% nếu chăm sóc tốt. Các biểu đồ sinh trưởng cho thấy cây Hoàng Đằng phát triển theo quy luật của các loài cây lâm nghiệp nhiệt đới.

3.1. Chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính và chiều cao

Đường kính gốc là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức khỏe và năng suất cây Hoàng Đằng. Năm thứ 3, đường kính tăng từ 2-4cm lên 6-10cm tùy theo chăm sóc. Chiều cao là thước đo khác quan trọng, cây Hoàng Đằng năm thứ 3 đạt 5-8m nếu điều kiện môi trường tốt. Hai chỉ tiêu này có tương quan với nhau và phụ thuộc vào lượng mưa, nhiệt độ, và chất lượng chăm sóc.

3.2. Động thái ra lá và ra chồi

Ra lá là quá trình quan trọng cho sinh trưởng cây Hoàng Đằng, thường diễn ra theo chu kỳ mùa vụ. Lá non mọc từ tháng 3-4, phát triển nhanh từ tháng 5-7, rồi bắt đầu già đi vào tháng 9-10. Ra chồi là sự phát triển của các nhánh nhỏ trên thân chính, tạo nên cấu trúc tán cây. Số chồi trên cây tăng dần theo từng năm, đến năm thứ 3 mỗi cây có 15-25 chồi chính phát triển tốt.

IV. Phòng trừ sâu bệnh hại và kiến nghị chăm sóc

Sâu bệnh hại cây Hoàng Đằng là thách thức lớn ảnh hưởng đến năng suất. Các sâu hại chính gồm sâu ăn lá, sâu khoeo, sâu xít gây tổn hại lá, làm giảm diện tích lá quang hợp. Bệnh hại phổ biến bao gồm bệnh đốm lá, bệnh thối rễ, bệnh héo xanh do nấm gây ra. Theo điều tra, tỷ lệ sâu hại trên cây Hoàng Đằng năm thứ 3 dao động 15-25%, tỷ lệ bệnh hại 8-12% tùy theo mùa. Phòng trừ nên ưu tiên biện pháp vệ sinh lâm trường, làm cỏ, bớt ẩm để ngừa bệnh. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, rau sạch, giảm tối đa hóa chất độc hại. Kiến nghị mạnh mẽ nâng cao kỹ năng chăm sóc cho nông dân, áp dụng công nghệ mới, theo dõi định kỳ sinh trưởng cây Hoàng Đằng để phát hiện sớm hiện tượng bất thường.

4.1. Thành phần sâu hại và bệnh hại chủ yếu

Sâu ăn lá (Orthaga xylopeustis) gây tổn hại từ 20-40% diện tích lá khi mức độ hại cao. Sâu xít (Xyleutes capensis) gây hại hạn chế nhưng nếu mức độ cao có thể làm chết cây. Bệnh đốm lá do nấm Phyllostica gây ra, xuất hiện từ tháng 5, lây lan nhanh khi ẩm độ cao. Bệnh thối rễ do Fomes/Phellinus gây hại ở những nơi đất ẩm quá mức, dẫn đến chết cây. Nghiêm trọng nhất là bệnh héo xanh làm cây héo xanh nhanh chóng.

4.2. Biện pháp phòng trừ và kiến nghị thực tế

Phòng trừ sinh học bao gồm: (1) Vệ sinh lâm trường kỹ lưỡng, loại bỏ cây bệnh; (2) Làm cỏ để tăng thông thoáng, giảm ẩm độ; (3) Tỉa thưa cành yếu, tăng chiếu sáng. Phòng trừ hóa học sử dụng thuốc BVTV khi phát hiện nguy hại, tuân thủ liều lượng, thời kỳ rơi. Kiến nghị: Đẩy mạnh tuyên truyền kỹ thuật cho nông dân, hỗ trợ kinh phí cải thiện chất lượng chăm sóc, thành lập các mô hình trồng Hoàng Đằng theo tiêu chuẩn cao nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng và giá trị kinh tế bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Khóa luận nghiên cứu sinh trưởng và chăm sóc cây hoàng đằng fibraurea tinctoria lour trồng năm thứ 3 tại xã thông thụ huyện quế phong tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Quế Phong là huyện miền núi vùng cao, biên giới của tỉnh Nghệ An. Ở đây đời sống người dân còn thấp phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên rừng. Trước sự khai thác bữa bãi của người dân đã khiến đa dạng sinh học ở đây suy giảm nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng đặc biệt là các loại cây thuốc quý như: chè hoa vàng, Hoàng đằng,. Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, phân bố khá rộng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Campuchia.

Ở nước ta, Hoàng đằng thường phân bố trong các trạng thái rừng thứ sinh ở các tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam với độ cao dưới 1.000m so với mực nước biển. Do có nguy cơ bị tuyệt chủng nên loài cây này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam từ năm 1996 (thuộc nhóm IIA) cần phải bảo vệ (theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP). Rễ và thân Hoàng đằng là một trong những vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các chứng viêm tấy, lỵ trực trùng, lở ngứa, mụn nhọt, sốt da vàng, đau mắt đỏ, các bệnh về đường tiêu hoá. Ngoài ra, Hoàng đằng còn là nguyên liệu chiết xuất Palmatin làm thuốc nhỏ mắt hoặc tổng hợp thuốc an thần.

Trong tự nhiên, loài cây này trước đây rất phong phú, nhưng do khai thác quá mức và liên tục trong nhiều năm, cùng với việc phát nương làm rẫy nên đã bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng.Vì vậy, việc nghiên cứu nhân giống nhằm bảo tồn và phát triển loài Hoàng đằng là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Hoàng đằng như: yếu tố đất đai,khí hậu, con người….Để biết được những yếu tố nào phù hợp nhất đến sự sinh trưởng và phát triển của cây tới mức tối đa nhất : “Nghiên cứu sinh trưởng và chăm sóc cây Hoàng đằng-Fibraurea tinctoria Lour trồng năm thứ 3 tại xã Thông Thụ huyện Quế Phong tỉnh Nghệ An ’ là rất cần thiết.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Xác định các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây Hoàng đằng tuổi 3. Đánh giá khả năng sinh trưởng và chống chịu sâu bệnh hại của cây Hoàng đằng tuổi 3 tại Nghệ An 1.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Bổ sung thêm kiến thức hiểu biết về đặc điểm đặc tính của cây Hoàng đằng ở tuổi 3 Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu sự sinh trưởng của Hoàng đằng làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kĩ thuật chăm sóc và một số giải pháp bảo tồn loài 1.3 Ý nghĩa trong học tập Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu trong học tập. Giúp cho sinh viên củng cố lại toàn bộ các kiến thức đã học, áp dụng vào thực tiễn giúp cho sinh viên nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp.

Giúp cho sinh viên biết các triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, phương pháp đo đếm, thu thập số liệu, xử lý số liệu, viết và cách trình bày một bài báo cáo khoa học. Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này. 3 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [13] của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Hoàng đằng Sách đỏ Việt Nam (1996) [3] mô tả Hoàng đằng là loài có thể tái sinh chồi trên thân già và ở rễ vào mùa xuân.

Hiếm gặp cây cái, do có khả năng tái sinh bằng hạt hiếm hoi. Cây sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao 10 - 200 m. Mọc trên đất cát lẫn đất đá. Cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, có nguy cơ tuyệt chủng rất cao.

Ðây là cơ sở để gây trồng cây Hoàng đằng nhằm phát triển và bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao. Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [13] của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Hoàng đằng Sách đỏ Việt Nam (1996) [3] mô tả Hoàng đằng là loài có thể tái sinh chồi trên thân già và ở rễ vào mùa xuân. Hiếm gặp cây cái, do có khả năng tái sinh bằng hạt hiếm hoi.

Cây sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao 10 - 200 m. Mọc trên đất cát lẫn đất đá. Cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. Ðây là cơ sở để gây trồng cây Hoàng đằng nhằm phát triển và bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Hoàng Tích Huyền (2011) [8], Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới.

Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm 4 cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm dược tính mạnh nguồn gốc từ thực vật. Ở Madagsaca người ta dùng cây Hồng hoa (Catharanthus roseus) để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỉ lệ sống của trẻ em. Lê Tùng Châu, Nguyễn Văn Tập (1996) [4], Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên.

Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch); tamin (Zizyphusjụuba Miller). Mỗi loài cây với từng công năng tác dụng, ở mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc. Lý Văn Chính (2013) [5], Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ - Malaixia, Tây Phi chứa đựng kho tàng cây cỏ khổng lồ cũng như giàu có về tri thức sử dụng, có tiềm năng lớn trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ cây cỏ Tran Cong Khanh và cs (2002) [18], Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung Y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traditional Ethno- medicine) sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc. Trong đó, có 5 nền y học chính là y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài).

- Nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây Hoàng đằng trên thế giới Gao-Xiong Rao và cs (2009) [19], khi nghiên cứu về các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phương pháp phân tích quang phổ cho thấy các alkaloid mới từ cây Hoàng đằng đã được xác định là 1,2-methylenedioxy-8- hydroxy-6a (R)- aporphine. Thân của cây Hoàng đằng là một loại thảo dược chống nấm có hiệu quả. Theo Irokawa và cộng sự (Phytochemistry, 1986) đã phát hiện trong Hoàng đằng có 3 diterpenglycosist là tenophylloside 3, fibleucinoside 4 và fibraurinoside 5. Trước đó một số tác giả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine 2, có tác dụng ức chế đối với các bệnh do vi trùng gây ra.

Hoàng đằng có tên trong phần những cây thuốc và vị thuốc chữa lị trực trùng. Trong Hoàng đằng chủ yếu là palmatin với tỷ lệ 1-3,5%. Ngoài ra, còn có một ít jatrorrhizin, columbamin. + Công dụng, tầm quan trọng của alkaloid và nguyên liệu chứa alkaloid WWF (1993) [20], Alkaloid nói chung là những hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh, có nhiều chất rất độc.

Tác dụng của alkaloid thường khác nhau và tác dụng của các nguyên liệu thu hái không phải bao giờ cũng giống alkaloid tinh khiết. Ở đây ta chỉ nhìn một cách tổng quát đồng thời không bỏ qua các tác dụng khác nhau gây ra với liều điều trị và độc. Nhiều alkaloid có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương gây ức chế mocphin, codein, scopolamin, reserpin hoặc gây kích thích strychnin, cafein, lobelin. Nhiều chất tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm gây kích thích ephedrin, hordenin, các chất làm liệt hệ thần kinh giao cảm ergotamin, yohimbin hoặc kích thích phó giao cảm philocarpin, eserin; có chất gây liệt phó giao cảm như hyoscyamin, atropin; có chất phóng bế hoạch giao cảm như nicotin, spartein, conin.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: Hoàng đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, dây vàng giang, Nam hoàng liên.Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria, hay Fibraurea recisa), Trên thế giới phân bố từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Indonesia.

Ở nước ta gặp tại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), 6 Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc). Cây sống dưới tán rừng thứ sinh ở độ cao 10- 200m, mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, cây ưa ẩm. Cây mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát, ở thung lũng, bờ suối ven [2]. Sách đỏ Việt Nam (1996) xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp).

Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên. Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c, d. Cơ sở phân hạng: loài tuy có phân bố không hẹp nhưng khu phân bố tại nhiều điểm rừng bị chặt phá nghiêm trọng. Cây cũng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Cấm phá rừng tại khu vực này và có kế hoạch luân chuyển để cây kịp tái sinh.Theo Quốc Khánh (2011) [10]. Trong số các tỉnh miền Trung, Quảng Bình là địa phương có rừng che phủ thuộc loại cao. Song kể từ khi cơn sốt Hoàng đằng lan đến Quảng Bình, thì những khoảnh rừng cấm bắt đầu bị hạ sát để tìm Hoàng đằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ