Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Kỹ năng ứng phó (KNƯP) với những khó khăn tâm lý (KKTL) được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Sau đây chúng tôi xin điểm qua tình hình nghiên cứu của các nhà tâm lý học nước ngoài và Việt Nam. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển đã quan tâm nghiên cứu KNƯP với hoàn cảnh khó khăn nói chung của lứa tuổi vị thành niên (VTN), nhất là ở tuổi học sinh Trung học cơ sở (THCS) để ứng dụng vào thực tiễn nhằm góp phần nâng cao KNƯP cho các em và ứng dụng vào công tác giáo dục.
Các nghiên cứu khẳng định: những hạn chế về KNƯP của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của các em. Một nghiên cứu của Neru và Ronan (1988) chỉ ra rằng, VTN không có kỹ năng phòng ngừa những tác động của hoàn cảnh có thể dẫn đến stress, những vấn đề về trầm cảm, lo âu. Để giải quyết được, VTN cần có niềm tin dựa trên năng lực, xác lập được những KNƯP với những hoàn cảnh khó khăn của chính bản thân VTN [44]. Một số tác giả cho rằng, hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi là xu hướng ứng xử (Carver, Schenier, Weinntraub).
Theo các tác giả này, con người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau và đặc trưng cho mỗi cá nhân [42]. 5 Cách ứng phó thể hiện mối liên quan của hành vi ứng phó với các sự kiện của cuộc sống, với những trải nghiệm sớm của cá nhân được nhiều tác giả quan tâm.R (1994) cho rằng đứa trẻ có những trải nghiệm âm tính sớm thường có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng gặp quang cảnh của sự kiện cũ hoặc những hoàn cảnh làm chúng liên tưởng tới những sự kiện cũ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến quan hệ gia đình. Ở đây có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức độ trải nghiệm các cảm xúc với cách mà con người ứng phó với hoàn cảnh khó khăn, với stress tâm lý [37].L, Horowwitz, Sdler và Kegeles (1988), tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của cách ứng phó với tính lạc quan và bi quan. Các tác giả nhận thấy tính lạc quan có quan hệ với khuynh hướng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dương tính trong tình huống stress, ngược lại tính bi quan thường đi kèm vơi xu hướng phủ nhận hoặc tránh xa tình huống stress, tập trung vào những cảm giác stress của mình [39].
Hong Y, Chiu C, Dweck C.S cho rằng hành vi ứng phó có tính chất tình huống rõ rệt, chịu ảnh hưởng từ chính cách nhìn nhận, đánh giá tình huống của con người ngay trong thời điểm xảy ra tình huống. Mục đích của các nghiên cứu của các tác giả này nhằm tìm ra những khuôn mẫu ứng phó có hiệu quả với những tình huống, hoàn cảnh nhất định để có thể giúp những người rơi vào hoàn cảnh đó có cách ứng phó phù hợp [41].J (1999) nghiên cứu mối liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận thức về các khía cạnh khác nhau 6 của stress với hành vi ứng phó. Theo họ, việc con người ứng xử thế nào trong hoàn cảnh khó khăn thường chịu ảnh hưởng của việc họ đánh giá chính về hoàn cảnh đó, tình huống đó [43]. Cách ứng phó với xung đột gia đình, stress gia đình được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Mccubbin (1980) nghiên cứu ảnh hưởng có hại của cách ứng phó sai lầm với stress gia đình và chỉ ra rằng nó có thể dẫn đến việc phá hủy hệ thống gia đình. Figley (1993) quan tâm đến những chiến lược ứng phó hiệu quả trong những tình huống stress gia đình. Fosson lại chỉ ra những kiểu chuyển đổi trong gia đình có thể dẫn đến stress và cách mà các thành viên ứng phó với sự chuyển đổi này. Slavin (1991) - nhà tâm lý học đã nghiên cứu cách ứng phó của con người đối với chuyển đổi của xã hội ngày nay và phát hiện thấy chuyển đổi xã hội liên quan đến những vấn đề vĩ mô như quan hệ dân tộc, tục lệ, lễ nghi, sự phân hóa kinh tế - xã hội và nó có liên quan đến thói quen, văn hóa của mỗi gia đình, mỗi cá nhân.
Cuộc sống của mỗi xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải thích nghi với chuyển đổi xã hội dường như đã gây ra những tình huống stress sâu sắc. Vì thế, hành vi ứng phó của mỗi con người đều chịu ảnh hưởng của văn hóa. Sự lựa chọn cách ứng xử của con người trước hoàn cảnh mới đã làm nên văn hóa hành vi, nhiều khi nó liên quan đến chuẩn mực văn hóa, lễ nghi, tập tục ở cấp độ xã hội. Vì vậy, những chương trình tự giáo dục, phân loại giá trị và chế ngự stress là những phương pháp được đề nghị để ứng phó với những chuyển đổi xã hội [25].
Tương tự như vậy, việc chuẩn bị tay nghề cho người giáo viên tương lai, trong đó KNƯP với những KKTL trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (RLNVSP) là một trong những yếu tố cơ bản để giúp sinh viên (SV) có thể tháo gỡ được những KKTL, giúp hình thành được những kỹ năng sư phạm một cách hiệu quả nhất. Apdullina – giáo sư trường Đại học Matxcơva là người đặc biệt quan tâm đến vấn đề kỹ năng sư phạm. Thông qua việc nghiên cứu công tác 7 của giáo viên trẻ, ông đưa ra nhận xét: Trong công tác của những người giáo viên trẻ mới vào nghề do sự tách rời lý luận giáo dục, có sự suy nghĩ thiếu cơ sở khoa học về vấn đề thực tiễn, không biết vận dụng lý luận vào thực tiễn nên gặp khó khăn lúng túng trong giáo dục. Điều này chính tỏ họ chưa chuẩn bị đầy đủ về năng lực sư phạm.
Do đó phải trang bị cho SV hệ thống tri thức về nghiệp vụ sư phạm, trong đó có hệ thống kỹ năng, kỹ xảo cần thiết. Công trình nghiên cứu của X. Kixegôf trong cuốn “Hình thành các kỹ năng kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học” (1973) đã đưa ra một số kỹ năng, kỹ xảo cần thiết phải hình thành cho SV, buộc SV phải nắm vững, phải tổ chức các điều kiện nhằm đảm bảo tốt nhất cho việc hình thành kỹ năng kỹ xảo đó. Song quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo đó ông không đề cập đến các KKTL có thể nảy sinh và các KNƯP với nó.
Trong cuốn “chuẩn bị cho SV làm công tác giáo dục ở trường phổ thông (1980). Bonđưrep đã khẳng định: những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo – người giáo dục tất nhiên không chỉ có kiến thức phong phú mà phải có kỹ năng cần thiết để tổ chức tiến hành công tác giáo dục. Ông cũng đã đề cập đến những khó khăn trong quá trình hoạt động của SV là vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế. Ngoài ra một số công trình khác cũng đều đề cập đến hoạt động RLNVSP cho SV.
Như vậy hầu như các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu KNƯP với khó khăn, với stress và vấn đề hình thành các kỹ năng sư phạm cho người giáo viên mà rất ít công trình đề cập đến KNƯP với những KKTL trong RLNVSP của SV sư phạm. Nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam còn rất ít các nghiên cứu về KNƯP với hoàn cảnh khó khăn. Năm 2006, Viện Tâm lý học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ VTN với hoàn cảnh khó khăn tại một số 8 trường THCS, THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên ở Hà Nội và một số trẻ ở trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình. Nghiên cứu đã đưa ra một số những đặc điểm ứng phó với các khó khăn của trẻ VTN Việt Nam [25].
Bên cạnh nghiên cứu của Viện Tâm lý học, Trung tâm Thông tin và Chương trình Giáo dục Lê Thánh Tông, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh với sự tài trợ của UNESSCO và UNICEF đã triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống. Gần đây cũng có một vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề KNƯP như: Năm 2008 – Công trình nghiên cứu cấp Bộ của tác giả Đào Thị Oanh cùng các cộng sự “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và kỹ năng đương đầu với xúc cảm tiêu cực ở thiếu niên hiện nay” đã chỉ ra hầu hết học sinh thiếu niên chưa biết đương đầu hiệu quả với các xúc cảm tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với xúc cảm tiêu cực. Không thấy có sự khác biệt giữa học sinh nam và nữ; giữa các địa bàn khác nhau; giữa các khối lớp và giữa các trường với nhau [29]. Năm 2008 – Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thu Hồng “Kỹ năng ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống của học sinh Trung học Cơ sở tại Hà Nội” cho thấy: học sinh THCS gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Tuy nhiên, việc lựa chọn các phương án tích cực đề giải quyết những khó khăn của các em còn nhiều lúng túng do thiếu hiểu biết về mặt xã hội, đặc biệt thiếu kỹ năng sống. Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động RLNVSP của SV. Tuy nhiên các công trình trên chỉ dừng lại ở việc hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho SV, hoặc về nhận thức của SV với hoạt động RLNVSP và KKTL nảy sinh trong quá trình RLNVSP. Tóm lại, KNƯP với khó khăn là một vấn đề chưa được nhiều người quan tâm, đi sâu nghiên cứu, đặc biệt KNƯP với những KKTL trong quá trình RLNVSP của SV ngành giáo dục mầm non thì chưa có tác giả nào nghiên cứu 9 một cách đầy đủ và sâu sắc.
Đây là một vấn đề thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Kỹ năng và kỹ năng ứng phó 1. Kỹ năng Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau.
Qua nghiên cứu tài liệu chúng tôi thấy có hai cách tiếp cận cơ bản sau: Cách tiếp cận thứ nhất: Các tác giả nghiên cứu kĩ năng nghiêng về khía cạnh cách thức và mặt kỹ thuật của hành động, hoạt động” Khuynh hướng này có các tác giả như V.