CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Năm 1989, Bộ lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các kỹ nang Can thiết ( The Secretary`s Commission on Achieving Necessary Skill - SCANS), Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động.
nhằm mục đích “thúc day nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao vả công việc thu nhập cao”. Cũng trong khoảng thời gian này tại Úc, Hội đồng kinh doanh Uc ( The Business Council of Australia - BCA) & Phòng thương mại vả Công nghiệp Úc ( The Australia Chamber of Commerce and Industry - ACC]) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học ( The Department of Education, Science and Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề" ( employability skills) là các ky năng can thiết không chi dé có được việc làm mà còn để tiến bộ trong té chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Những năm đầu thập niên 90, một số nước Châu Á như: Án Độ, Lao, Campuchia, Indonexia, Malaysia, Thái Lan. cũng đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy kỹ năng sống ở các bậc học phổ thông từ Mam non cho đến Trung học phê thông.
Những nội dung giáo dục chủ yếu ở hầu hết các nước này, đó là trang bị cho người trẻ tuổi những kỹ năng sống can thiết để giúp họ thích nghi dan với cuộc sống sau nay, mục đích chính là dạy - trang bị và hình thành. Mục tiêu chung của giáo dục kỹ năng sống được xây dựng là: "Nhằm nâng cao tiểm năng của con Trang ¡2 Khóa luần tốt nghiệp 3011 Lẻ Thi Xuân Thu - — ~. —_——— - ——-~ = —— — người dé có hành vị thích ứng va tích cực nhãm đáp ứng như câu, sự thay đôi. các tình huông cua cuộc sông hang ngây.
đồng thời tao ra sự đôi thay và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Với mục dich nhắm đến yêu tế cá nhân của người học, các nước cùng đã đưa ra cách thiết kế chương trinh giáo dục và trang bị kỹ năng sóng như: lòng ghép vào chương trình day chữ, học van, vào tất cả các môn học và các chương tình ở những mức độ khác nhau. Day các chuyên dé can thiết cho người học như: kỹ năng nghẻ, kỹ nang hướng nghiệp. va được chia làm ba nhóm chính: ky nang cơ bản (gồm các kỹ năng đọc, viết, ghi chép.
nhóm kỳ năng chung (gdm các kỹ nang tư duy phê phán, tư duy sáng tạo. ra quyết định. giải quyết van đề.) và nhóm k§ năng cụ thể (gồm các kỳ nang binh đăng giới. bảo vệ sức khỏe, nâng cao đời sống tỉnh thân.4| Tóm lại, đủ xuất phát từ những quan điểm chung vẻ kỹ nâng sống từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hay UNESCO, nhưng ở mỗi quốc gia trên Thé giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung, có nước thực hiện đúng chuẩn kỹ nang nhưng cùng có nước mở rộng thêm chứ không chi bao hàm kỹ năng sảng lá những kỹ nang vẻ tâm ly, xã hội.
Kỹ năng sống được lòng ghép ơ ca giáo dục chính quy (giáo dục trong chương trình đảo tao) va cả piáo duc không chính quy (hoạt động ngoại khóa - hoạt động ngoài giờ lên lớp). Những quan điểm, nội dung giáo dục kỹ nang sông được triển khai vữa thé hiện nét chung của các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn điện va sâu sắc. vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thông tiêu chi đánh giá chất lượng kỳ nang sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện kỹ năng song. Cac công trình nghiên cứu trong nước: Trong lịch sử giáo duc Việt Nam, nội dung giáo dục con người biết đối nhân xử thé,kinh nghiệm làm an dé đáp ứng và biển img với những thách thức của thiên tai.
da được phan anh khả phong phú qua hệ thong Trang l3 Khóa luận tốt nghiệp - 2011 Lê Thị Xuân Thu danh ngôn. ca dao, tục ngữ và những lời dạy của người xưa. Còn đối với chức năng của giáo dục thi mục tiêu học dé làm người hay nói cách khác la học dé biết đối nhân xử thé, học đề sống tết hơn và học dé phục vụ bản thân - gia đình và xã hội, đã được quan tâm nay từ những ngày đầu tiên của giáo dục Việt Nam. Nhưng có lẽ, với mục tiêu và nội dung như thé vẫn chưa được gọi là kỹ năng sống mà tất cả như là một lời giáo dục để ứng phó với sự thay đôi của môi trường tự nhiên và mỗi trường xã hội.
Thuật ngữ "Kÿ năng sống" bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam, vào những đầu thập niên 90 - khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp - nên kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa tir các nước bên ngoài vào Việt Nam hay đó là sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người. Vì lẽ đó, đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, năng lực làm việc bắt đầu được xem xét vả quan tâm - đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam, quan tam đến thuật ngữ kỳ năng sống, trong chương trình triển khai một số dự án của các tô chức khác nhau trên Thế giới. Tại Việt Nam những năm đầu thập niên 90, Thủ tưởng Chính phủ cũng đã có văn bản chi đạo tại quyết định 1363/TTg ve việc “Dua nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, tuy quyết định này chưa thấy rõ vẻ việc phải rèn luyện ky năng sống ở các bậc học, tuy nhiên. nội dung của quyết định cũng đã dé cập đến việc trang bị cho người học những vấn để về văn hóa ứng xử, về thái độ sống,.
Chỉ thị 10GD&ĐT năm 1995 hay chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ trưởng Bộ GD&DT đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống HIV/AIDS hay tăng cường công tác phỏng chống ma túy tại trường học ít nhiều cũng đã đề cập đến nội dung của thuật ngữ kỹ năng sống.40 - 43] Năm 1996 thông qua chương trinh của UNICEF "Giáo dục kỹ năng sống dé bảo vệ sức khỏe va phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiểu niên trong và ngoài nhà trường”. Giai đoạn một của chương trinh chỉ dành Trang 14 Khóa luận tốt nghiệp - 2011 Lê Thị Xuân Thu cho một số đối tượng của ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ, họ được trang bị một số ky năng như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp. kỹ ning kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng xác định giá trị.Sang giai đoạn hai của chương trình đổi tượng tập hudn được mở rộng va thuật ngữ “ky nang sống” được hiểu một cách rộng rãi hơn. “Kỹ năng sống là các kỹ nang thiết thực ma con người can đến để có cuộc sông an toàn va khóc mạnh", Cuối cùng, khái niệm kỹ năng sống thực sự được hiểu với nội ham day đủ và đa dang sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống" do UNESCO tải trợ vào năm 2003.
Và chính từ đây, nghành giáo dục đã bắt đầu quan tâm đến kỹ năng sống vả cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, một số bộ Luật của Nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi cũng da có những định hướng và diéu khoản liên quan đến việc trang bị kỳ năng sống như: Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, hay Luật giáo đục năm 2005. Giáo dục Việt Nam bat đầu quan tâm nhiều van dé liên quan đến người học - đặc biệt là van để phát triển toàn diện cho người học nhăm đáp img yêu cầu ngày càng cao của xã hội và của nên kinh tế trí thức. Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, Kỹ nang sống cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến va sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam.
Tham gia dự án có học sinh THCS và trẻ em ở một số trường học thuộc nhiều khu vực như: Lào Cai. Lang Sơn, Quảng Ninh, Hải Phong, Ha Nội, Gia Lai. Kom Tum, TP.HCM, An Giang, Kiên Giang,. Các em được rèn kỹ năng sống thiết thực dé ứng phó với những van đề ảnh hưởng đến cuộc sống an toàn, mạnh khỏe của trẻ như: phòng chống HIV/ADS, ma túy, sức khỏe sinh sản, van dé quan hệ tinh dục sớm.Mục tiêu của dir án là hình thành thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sông khỏe vẻ chất, mạnh về tinh than, hiểu biết về xã hội, nâng cao nhận thức của cha mẹ về kỹ năng sống.
để họ chủ động trong việc trang bị kiến thức cho con em minh. 37, 38, 43, 44] Trang 15 Khóa luận tốt nghiệp - 2011 Lê Thị Xuân Thu Năm 2007 - 2008, Bộ Giáo dục và Dao tao đã đưa ra phong trao thi đua “Xay dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phong trao này bắt đầu triển khai mạnh mẽ trong hau hết các bậc học từ mam non cho đến đại học. Ngày 22 tháng 7 năm 2008, một lần nữa Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong các trường phỏ thông giai đoạn 2008 ~ 2013.
Kèm với chỉ thị này là một thông bảo về hướng dẫn triển khai phong trảo '*Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nam học 2008 — 2009 và giai đoạn 2008 - 2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng sống là “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chong tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Cũng trong thời điểm nảy, một số nhà chuyên môn cũng bắt đầu nghiên cứu và viết một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực kỹ năng sống.