Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Thực trạng tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Biện pháp tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Có thể nhận định rằng trong những thập kỷ qua, vấn đề KNS đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. KNS bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF.
Trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” (Living values). Chương trình này được UNESCO, Uỷ ban UNICEF của Tây Ban Nha và Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và các chuyên gia giáo dục UNICEF (New York) tham gia. Khái quát các công trình nghiên cứu về KNS ở nước ngoài có thể nêu lên hai hướng nghiên cứu chính sau: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu các KNS trong lao động, công việc, trong hành nghề: Theo hướng này có thể kể đến các công trình sau: Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ thành lập một Uỷ ban thư ký về rèn luyện các KN cần thiết. Thành viên của Uỷ ban đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như: Giáo dục, kinh doanh, người lao động.
nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động KN cao và công việc thu thập cao. Covey đã viết cuốn (7 thói quen của người thành đạt). Đây là một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thế giới. Tác giả muốn giới thiệu một phương pháp kết hợp toàn diện và thực tiễn để giải quyết các vấn đề về tính cách con người và sự nghiệp.
Tác giả cho thấy từng bước của con đường phải đi để sống một cuộc đời trung thực, nhất quán, lương thiện và xứng đáng với nhân phẩm. Gồm 7 thói quen: Thói quen 1: Luôn chủ động Thói quen 2: Bắt đầu bằng định hướng tương lai Thói quen 3: Việc quan trọng làm trước Thói quen 4: Lợi người - lợi ta Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Thói quen 5: Hiểu rồi được hiểu Thói quen 6: Cùng hiệp đồng Thói quen 7: Sự tương hỗ lẫn nhau Như vậy, nội dung cuốn sách cho người đọc thấy được những giá trị sống cơ bản để sống thành công. Năm 2002, Hội đồng kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và phòng thương mại và công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “ KN hành nghề cho tương lai”. Cuốn sách cho thấy các KN và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có.
KN hành nghề (employability Skills) là các KN cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các KN hành nghề bao gồm có 08 KN như sau: KN giao tiếp; KN làm việc nhóm; KN giải quyết vấn đề; KN sáng tạo và mạo hiểm; KN lập KH và tổ chức công việc; KN quản lý bản thân; KN học tập; KN công nghệ. Một nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động Mỹ (The U. Department of Labor) cùng Hiệp hội đào tạo và phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) đã nghiên cứu về các KN cơ bản trong công việc.
Kết luận được đưa ra là có 13 KN cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: 1. KN học và tự học (Learning to learn) 2. KN lắng nghe (Listening skills) 3. KN thuyết trình (Oral communication skills) 4.
KN giải quyết vấn đề (Problem solving skills) 5. KN tư duy sáng tạo (Creative thinking skills) 6. KN quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. KN đặt mục tiêu/tạo động lực làm việc (Goal setting/motivation skills) 8.
KN phát triển cá nhân và sự nghiệp (Péonai and career development skills) 9. KN giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills) 10. KN làm việc nhóm (Teamwork) 11. KN đàm phán (Negotiation skills) 12.
KN tổ chức công việc (OrganiZattional effectiveness) 13. KN lãnh đạo bản thân (Leadership skills) Như vậy, những nghiên cứu trên đã chú trọng đến việc hình thành và phát triển những KNS cơ bản trong công việc, trong lao động để có thể đem lại hiệu quả cao, còn các lĩnh vực khác như trong giáo dục, sức khỏe.ít được quan tâm và nghiên cứu hơn. Chính phủ Anh có cơ quan chuyên trách về phát triển KN cho người lao động. Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các KN quan trọng bao gồm: KN tính toán; KN giao tiếp; KN tự học và nâng cao năng lực cá nhân; KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; KN giải quyết vấn đề; KN làm việc với con người.
Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) của Singgapore đã nghiên cứu và thiết lập hệ thống các KN hành nghề ESS (Singgapore Employability Skills System) gồm 10 KN: KN công sở và tính toán; KN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; KN giải quyết vấn đề và ra quyết định; KN sáng tạo và mạo hiểm; KN giao tiếp và quản lý quan hệ; KN học tập suốt đời; KN tư duy mở toàn cầu; KN tự quản lý bản thân; KN tổ chức công việc; KN an toàn lao động và vệ sinh sức khoẻ. Nhìn chung các nước trên đã quan tâm đến việc hình thành các KN cần thiết cho người lao động, giúp họ có khả năng làm việc tốt và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc phát triển KNS cơ bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ cho người lao động thì chưa đủ mà cần quan tâm đến việc phát triển KNS cho các lứa tuổi khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Hướng thứ hai: Nghiên cứu các KN hướng vào giáo dục sức khoẻ; hành vi; cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hoà bình.
Theo hướng này có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Từ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. 01/009: “ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. - Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ ng xuyên [1].
UNICEF đã hỗ trợ xây dựng tài liệu GD KNS cho HS tiểu học miền núi bao gồm những nội dung bổ trợ như giáo dục KN an toàn giúp các em biết phòng tránh hoặc xử lý những tai nạn về sông nước, điện giật, sét đánh. giáo dục trẻ em gái ở miền núi với các KN tự nhận biết mình thuộc giới nào, giữ vẻ đẹp con gái, biết về tuổi dậy thì. Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Uẩn bàn về: “Khái niệm KNS xét dưới góc độ tâm lý học” (năm 2008). Tác giả đã đưa ra khái niệm “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các KN nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” và cách phân loại KNS bao gồm: nhóm KNS hướng vào bản thân, nhóm KNS hướng vào các quan hệ, nhóm KNS hướng vào công việc [17].
Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn: “10 cách thức rèn KNS cho trẻ vị thành niên” (năm 2008). Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về KNS và 10 cách thức rèn KNS cho lứa tuổi vị thành niên [13]. Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xuất bản cuốn “Giáo trình chuyên đề GD KNS” (năm 2009). Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về KNS và GD KNS và một số chủ đề GD KNS cốt lõi cho HS THPT [2].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã viết cuốn “Nhập môn KNS” (năm 2009). Tác giả đã chỉ ra khái niệm KNS, bao gồm 24 KN: KN tự đánh giá; KN xác lập mục đích sống; KN phán đoán cảm xúc của người khác; KN kiềm chế cảm xúc. Đề tài cấp Bộ: “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và KN đương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên” do Đào Thị Oanh và Vũ Thị Lệ Thuỷ thực hiện năm 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tượng bạo lực học đường, hành vi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ xâm kích, gây rối trật tự xã hội của thanh thiếu niên gia tăng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do trẻ thiếu khả năng chế ngự các cảm xúc của bản thân, chưa biết đương đầu một cách hiệu quả với các cảm xúc tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với cảm xúc tiêu cực [11].
Luận án tiến sỹ Giáo dục học của Phan Thanh Vân: “GD KNS cho HS THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL” (năm 2010). Luận án đã xác định các KNS để hình thành cho HS THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL là các KN cơ bản như: KN giao tiếp; Xác định giá trị; KN đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; KN giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực. Kết quả của việc hình thành những KN này là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi hành vi ở các em theo hướng tích cực phù hợp mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ và KN phù hợp [18]. Từ các công trình nghiên cứu về KNS ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã đưa vào chương trình GD KNS cho HS THPT tập trung nghiên cứu, giáo dục và thực hành KN gồm: KN tự nhận thức, KN xác định giá trị, KN giao tiếp; KN ra quyết định, KN kiên định, KN đạt mục tiêu.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý 1. Khái niệm quản lý Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nó với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.