phần mở đầu; kết luận, kiến nghị; tài liệu thao khảo, dự kiến cấu trúc nội dung luận văn thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học theo chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài Thuật ngữ “Kỹ năng sống” (KNS) bắt đầu đƣợc quan tâm tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 90 - khi nƣớc ta bƣớc vào nền kinh tế thị trƣờng. Ở đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải giao lƣu với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Chính yếu tó này đã tác động rất lớn đến con ngƣời vì lẽ đó đòi hỏi mỗi ngƣời phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó, từ đây những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tƣ cách đạo đức, năng lực làm việc bắt đầu đƣợc xem xét và quan tâm - đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ KNS trong chƣơng trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới. Vào đầu những năm 90, Thủ tƣớng Chính phủ cũng đã có Quyết định 1363/TTg chỉ đạo về việc “Đƣa nội dung giáo dục môi trƣờng vào hệ thống giáo dục quốc dân”, tuy Quyết định này chƣa nói rõ về việc phải rèn luyện KNS ở các bậc học nhƣng nội dung của Quyết định cũng đã có đề cập đến việc trang bị cho ngƣời học những vấn đề về văn hóa ứng xử, về thái độ sống.
Một trong những ngƣời đầu tiên và là ngƣời có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Trong cuốn “Giáo dục chuyên đề KNS” tác giả đã viết “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của HS là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [4]. Đây cũng là tài liệu khá bổ ích và hệ thống hoá giúp ngƣời đọc khái quát những kỹ năng sống cơ bản [28]. 6 Ngô Thị Tuyên (2010) khẳng định KNS là sản phẩm bắt buộc phải có của giáo dục nhà trƣờng.
Trong cuốn “Cẩm nang giáo dục cho học sinh tiểu học” đã đƣa ra ra khái niệm về kỹ năng sống, phân loại KNS, xác định vị trí vai trò của KNS trong giáo dục nhà trƣờng, phƣơng pháp giáo dục KNS và trình bày phƣơng pháp xây dựng một chƣơng trình học tập, nguyên tắc chọn nội dung, hƣớng dẫn GV phƣơng pháp giáo dục cho trẻ bằng việc làm để có đƣợc sản phẩm là KNS [34]. Ngoài những cuốn sách của các tác giả trên, còn rất nhiều các luận văn, luận án có nghiên cứu về KNS cho học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng theo định hƣớng Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018. Tác giả có thể khái quát một số công trình tiêu biểu nhƣ: Hoàng Thuý Nga (2016) trong luận án “Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội” đã làm rõ các khái niệm cơ bản nhƣ KNS, giáo dục KNS, hoạt động giáo dục, giáo dục KNS, quản lý hoạt động giáo dục KNS. Tác giả cũng xác định rõ các thành tố cấu trúc của hoạt động giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh ở trƣờng tiểu học, nội dung quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tiểu học.
Tác giả cũng nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội trên cơ sở đó đánh giá ƣu, nhƣợc điểm và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh tiểu học theo tiếp cận quá trình và tiếp cận mục tiêu nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh ở các trƣờng tiểu học thành phố Hà Nội [23]. Nguyễn Thị Hồng Nga trong luận văn “Quản lý giáo dục KNS cho học sinh các trường tiểu học quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới” đã làm rõ các khái niệm về giáo dục KNS, quản lý giáo dục KNS, quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiêu học, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểu học quận Dƣơng Kinh, thành phố Hải Phòng cho thấy vẫn còn hạn chế trong việc xây dựng kế hoạch GDKNS; Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và quản lí các hoạt động GDKNS cho HS đã đƣợc CBQL các nhà trƣờng quan tâm, song sự phối hợp của các lực lƣợng gia đình - nhà trƣờng - xã hội là chƣa đồng bộ, thống nhất; Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS cho HS tiểu học chƣa đƣợc thực hiện tốt. Hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý, thực hiện hoạt động GDKNS chƣa hoàn thiện; một số trƣờng chƣa thật sự quan tâm đến điều kiện phục vụ cho hoạt động GDKNS cho HS nhƣ huy động nguồn kinh phí, đầu tƣ CSVC, trang thiết bị dạy học tạo môi trƣờng, 7 sân chơi để các em HS đƣợc trải nghiệm, thực hành các KNS. Với thực trạng đó để nâng cao chất lƣợng giáo dục KNS cho học sinh trong các trƣờng tiểu học quận Dƣơng Kinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và theo định hƣớng CTGDPT mới nói riêng tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý và khảo nghiệm các biện pháp này để đánh giá sự cần thiết và tính khả thi [24].
Vũ Anh Lâm (2018) trong nghiên cứu “Quản lý giáo dục KNS cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội theo chương trình giáo dục phổ thông mới” đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS theo chƣơng trình giáo dục phổ thong mới cho học sinh các trƣờng THCS. Đồng thời tác giả cũng đã nghiên cứu thực trạng giáo dục KNS và quản lý giáo dục KNS theo chƣơng trình giáo dục phổ thong mới cho HS trong các trƣờng THCS huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện [19]. Hoàng Trà My (2020) trong bài viết “Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học thành phố Tuyên Quang theo định hƣớng chƣơng trình GDPT 2018” đã khẳng định vai trò của quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học ở Việt Nam và cho rằng lực lƣợng trực tiếp làm công tác quản lý, giảng dạy là lực lƣợng nòng cốt hiểu rõ những đặc điểm, mức độ nhận thức của tƣng đối tƣợng học sinh trong nhà trƣờng qua quá trình học tập và rèn luyện để đƣa ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh.
Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học thành phố Tuyên Quang theo định hƣớng chƣơng trình GDPT 2018 cho thấy công tác này còn tồn tại nhiều hạn chế nhƣ chất lƣợng lập kế hoạch giáo dục kỹ năng giao tiếp chƣa đƣợc quan tâm, chú trọng; Công tác chỉ đạo, hình thức giáo dục qua các môn học chƣa đƣợc thực hiện tốt; Chỉ đạo tích hợp giáo dục ngoài giờ chƣa phong phú; Công tác kiểm tra đánh giá còn mang tính hình thức. Nhìn chung, các nghiên cứu của các nhà khoa học về KNS đã tạo nền tảng lý thuyết để tác giả có thể hoàn thiện và làm rõ khung lý thuyết của đề tài này. Các nghiên cứu về quản lý KNS cho HS hiện nay đều đƣợc tiếp cận theo hƣớng đi từ cơ sở lý luận, sau đó đánh giá thực trạng và cuối cùng đề xuất giải pháp hoàn thiện. Đây chính là hƣớng nghiên cứu đề tác giả tiếp tục kế thừa trong luận văn của mình.
Hơn nữa, tác giả cũng thấy chƣa có công trình nào nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS cho học sinh tiểu học huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo chƣơng trình GDPT năm 2018. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu để tác giả thực hiện đề tài này. Một số khái niệm cơ bản của đề tài. Kỹ năng sống, gi o dục kỹ năng sống * Kh i niệm kỹ năng sống Có rất nhiều khái niệm khác nhau về KNS.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh [35]. UNICEF lại cho rằng: KNS là cách ti p cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới của mỗi cá nhân. Muốn vậy, cá nhân cần có sự cân b ng về ti p thu ki n thức, hình thành thái độ và Kỹ năng. Theo quan niệm này, KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng tìm ki m cách phòng tránh và ứng xử với các tình huống [34].
Một số nhà nghiên cứu lại đƣa ra các quan điểm khác nhau về KNS. Tiêu biểu nhƣ Huỳnh Văn Sơn đƣa ra khái niệm: “KNS là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống”. Tác giả cho rằng, KNS nhìn dƣới góc độ năng lực tâm lý là những những kỹ năng giúp con ngƣời tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý [28]. Nguyễn Thanh Bình lại coi “KNS là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quy t các tình huống một cách tích cực và giao ti p có hiệu quả” [4].
Các quan điểm trên tuy có khác nhau nhƣng đều có những điểm chung cơ bản: - KNS là năng lực của mỗi cá nhân đƣợc hình thành thông qua những trải nghiệm của các cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển.