CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài về kỹ năng quản lý cảm xúc Kỹ năng quản lý cảm xúc (QLCX) được đề cập đến chủ yếu trong các công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) và các công trình nghiên cứu về sự điều chỉnh cảm xúc (emotion regulation).
Các nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc với tư cách là một thành phần của trí tuệ cảm xúc Những nghiên cứu mang tính hệ thống đầu tiên về trí tuệ cảm xúc được xây dựng bởi hai nhà tâm lý học John D. Mayer và Peter Salovey. Hai nhà tâm lý này đã tiến hành những nghiên cứu chuyên sâu về trí tuệ cảm xúc với một số lượng đáng kể. Năm 1997, Peter Salovey, John D.
Mayer và David R. Caruso đã đề xuất mô hình trí tuệ cảm xúc gồm bốn thành phần (được cập nhật từ mô hình trí tuệ cảm xúc năm 1990), trong đó, kỹ năng QLCX được đề cập là kỹ năng cao nhất trong bốn nhánh kỹ năng của trí tuệ cảm xúc. Mô hình trí tuệ cảm xúc của nhóm tác giả bao gồm: (1) Nhận biết cảm xúc (2) Sử dụng cảm xúc tạo điều kiện cho tư duy (3) Hiểu những thông tin cảm xúc (4) Quản lí cảm xúc [32] Theo mô hình này, kỹ năng QLCX được đề cập là “sự điều chỉnh cảm xúc một cách có suy nghĩ để tăng cường sự phát triển cảm xúc và trí tuệ” [36, tr. Kỹ năng QLCX bao gồm bốn kỹ năng từ cấp độ thấp đến cao.
Kỹ năng điều khiển cảm xúc cơ bản liên quan đến khả năng tham gia và luôn cởi mở với những cảm giác dễ chịu và khó chịu, trong khi kỹ năng nâng cao hơn bao gồm khả năng tham gia hoặc tách rời khỏi cảm xúc tùy theo cách nhìn nhận của chủ thể trong một tình huống. Theo dõi và phản ánh cảm xúc của bản thân và người khác cũng đại diện cho việc giải quyết vấn đề phức tạp hơn trong nhánh này. Kỹ năng cao nhất là biết cách làm gia tăng hoặc giảm nhẹ cảm xúc tích cực và tiêu cực của bản thân và người khác [31]. Luan van 7 Daniel Goleman sau khi được truyền cảm hứng từ các bài báo khoa học của Mayer và Salovey về trí tuệ cảm xúc, đã viết tác phẩm Emotional Intelligence: Why It Can Matter More Than IQ (1995) – một trong những quyển sách tâm lý bán chạy nhất trên quốc tế.
Tác phẩm này đã khiến thuật ngữ trí tuệ cảm xúc trở nên phổ biến rộng rãi và được nhiều người biết đến [34]. Quyển sách đề cập đến kỹ năng QLCX như một năng lực chống lại “cơn bão cảm xúc”, là sự điều hòa, chế ngự những xúc cảm quá mức, cách thức để làm chủ những cảm xúc vượt tầm kiểm soát như trầm cảm, lo lắng, cuồng nộ hay tâm trạng rối bời, đích đến là sự cân bằng, không phải loại bỏ xúc cảm [3]. Tác giả cũng đưa ra nhiều cách thức để quản lý những cảm xúc tiêu cực như chế ngự cơn giận dữ, xua tan lo lắng; tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến trầm cảm, cách khắc phục trầm cảm; phân tích sâu về sự đồng cảm và hướng dẫn nghệ thuật hòa hợp với người khác. Daniel Goleman nhấn mạnh và đưa ra rất nhiều dẫn chứng về việc thiếu hiểu biết về xúc cảm là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội bao gồm các căn bệnh tâm thần, tội phạm và sự thất bại trong giáo dục [34].
Hai tác giả Petrides và Furnham (2000) cũng đề cập đến kỹ năng QLCX như một thành phần trong cấu trúc trí tuệ cảm xúc (bảng 1. Trong đó, kỹ năng QLCX của bản thân được coi là một trong những khía cạnh của nhân tố tự kiểm soát và kỹ năng QLCX người khác được coi là một khía cạnh của nhân tố tính hòa đồng. Bảng cấu trúc trí tuệ cảm xúc của Petrides và Furnham (2000) [26, tr.39] KHÍA CẠNH NHÂN TỐ Khả năng thích ứng Tự động cơ hóa Sự quyết đoán Tính hòa đồng Quản lý xúc cảm (người khác) Kỹ năng xã hội Sự biểu lộ xúc cảm Các kỹ năng quan hệ với người khác Tính nhạy cảm Sự thấu cảm Nhận thức xúc cảm (bản thân và người khác) Luan van 8 Tính bốc đồng (thấp) Quản lý stress Tự kiểm soát Điều chỉnh xúc cảm Lòng tự trọng Hạnh phúc Hạnh phúc Lạc quan Nhóm 2. Các nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc có liên quan đến kỹ năng quản lý cảm xúc Chủ đề về điều chỉnh cảm xúc là đề tài được bổ sung tương đối muộn trong lĩnh vực cảm xúc.
Cho đến đầu những năm 1990, chỉ có một vài trích dẫn chứa cụm từ “điều chỉnh cảm xúc” và sau đó thì sự phổ biến về chủ đề này càng gia tăng. Điều chỉnh cảm xúc được đề cập đến trong nghiên cứu về các cơ chế phòng vệ tâm lý (Freud, 1926/1969), căng thẳng và cách ứng phó (Lazarus, 1966), sự gắn bó (Bowtly, 1969) và tự điều chỉnh (Mischel, Shoda và Rodriguez, 1989) [32, tr. Năm 1998, Jame Gross với những nghiên cứu chuyên sâu về điều chỉnh cảm xúc đã bắt đầu đưa ra một định hướng về cảm xúc và các cách thức điều chỉnh cảm xúc, ông đã phác họa một quy trình về điều chỉnh cảm xúc có thể ứng dụng hiệu quả trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Theo Jame Gross, điều chỉnh cảm xúc nói đến cách chúng ta tác động cảm xúc mà chúng ta có, khi chúng ta có chúng và cách chúng ta trải nghiệm, diễn tả những cảm xúc này.
Dựa vào quá trình một cảm xúc nảy sinh, Jame Gross đã phác họa một mô hình điều chỉnh cảm xúc gồm năm kỹ thuật tương ứng với năm thời điểm mà mỗi cá nhân có thể điều chỉnh cảm xúc. Năm kỹ thuật bao gồm: lựa chọn tình huống, thay đổi tình huống, triển khai sự chú ý, thay đổi nhận thức và điều chế phản ứng [32, tr. Năm kỹ thuật này có thể được sử dụng để hình thành và phát triển kỹ năng QLCX của một người. Những công trình nghiên cứu ở trong nước về kỹ năng quản lý cảm xúc Ở Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng QLCX còn hạn chế, đa số được đề cập như một thành phần trong các công trình về trí tuệ cảm xúc.
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan đến nội hàm của kỹ năng QLCX Luan van 9 như nghiên cứu về tự điều chỉnh cảm xúc âm tính, khả năng kiểm soát cảm xúc hay kỹ năng QLCX giận dữ. Các nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng quản lý cảm xúc Năm 2012, tác giả Huỳnh Văn Sơn và nhóm cộng sự đã tiến hành công trình nghiên cứu “Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học Sư phạm”. Trong đó, kỹ năng QLCX là một trong ba kỹ năng được nghiên cứu sâu với ý nghĩa là một kỹ năng tạo sự thích ứng của người giáo viên trong môi trường làm việc, giúp tương tác với người khác tích cực và hỗ trợ công việc hiệu quả. Kết quả nghiên cứu trên 1089 sinh viên của bốn trường Đại học Sư phạm cho thấy kỹ năng QLCX của sinh viên đạt mức trung bình khá.
Kết quả chỉ ra rằng trong quá trình QLCX, sinh viên có một số biểu hiện như dễ để cảm xúc ảnh hưởng đến học tập và công việc (62,4%), không biết cách kiềm chế những cơn nóng giận của bản thân (57%), không biết cách giải tỏa những cảm xúc tiêu cực (56,4%) và một số khó khăn khác như không lường trước được hậu quả của những cảm xúc tiêu cực, dễ để cảm xúc lây lan sang người khác…Thực nghiệm phát hiện của nghiên cứu này cũng cho thấy sinh viên có kỹ năng QLCX nhưng chỉ đạt mức trung bình [16]. Đề tài “Kỹ năng quản lý cảm xúc của điện thoại viên tại trung tâm chăm sóc khách hàng tập đoàn viễn thông quân đội Viettel” (2016) của tác giả Đào Thị Huệ đề cập đến kỹ năng QLCX là khả năng tự nhận biết, điều khiển, chỉ đạo những cảm xúc của bản thân và người khác nhằm đạt được những mục đích đã đề ra. Kết quả công trình nghiên cứu cho thấy kỹ năng QLCX của các điện thoại viên đạt mức cao, đáp ứng tốt với yêu cầu công việc. Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng QLCX là yếu tố bản thân điện thoại viên, tiếp đến là yếu tố áp lực công việc và các lớp đào tạo kỹ năng cho nhân viên [9].
Các nghiên cứu về kỹ năng QLCX với tư cách là một thành phần của trí tuệ cảm xúc Có thể kể đến các nghiên cứu nổi bật về trí tuệ cảm xúc như: Đề tài cấp Nhà nước mã số KX – 05 – 06 do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đã xác định trí tuệ cảm xúc là một trong ba thành tố của trí tuệ, bao gồm trí thông minh, trí tuệ cảm xúc và trí sáng tạo. Trong đề tài này, các tác giả Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc, Luan van 10 Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh đã tiến hành thích ứng bộ công cụ MSCEIT (Mayer Salovey Caruso Emotional Intelligence Test) và sử dụng bộ công cụ này để đo lường các chỉ số trí tuệ cảm xúc trên 3741 học sinh phổ thông, sinh viên, người lao động trẻ Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [39]. Đề tài “Trí tuệ cảm xúc và mối quan hệ của nó với hành vi xã hội của thanh thiếu niên” do tác giả Phan Thị Mai Hương làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu về cấu trúc yếu tố của thang đo trí tuệ cảm xúc và các đặc điểm tâm trắc của thang đo này dành cho thanh thiếu niên, mối quan hệ giữa tự trí tuệ cảm xúc và tự đánh giá về giá trị bản thân cũng như với hành vi xã hội của thanh thiếu niên [8], [10].
Kế thừa những kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc từ đề tài KX – 05 – 06, có nhiều đề tài luận án đã bảo vệ thành công như đề tài “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm lớp trường Trung học cơ sở” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Dung [6], đề tài “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên Tiểu học” (2010) của tác giả Dương Thị Hoàng Yến [26], đề tài “Trí tuệ cảm xúc của các giám đốc doanh nghiệp tư nhân tại thành phố Hồ Chí Minh” (2013) của tác giả Nguyên Ngọc Quỳnh Dao [5].