CHƯƠNG 1 KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Mục đích yêu cầu: + Về nội dung kiến thức: - Hiểu được tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học và các kiến thức tổng quan về nghiên cứu khoa học. - Nắm được yêu cầu và các bước thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học. - Nắm được các thao tác cụ thể để thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học. + Về kỹ năng: - Rèn luyện phương pháp và kỹ năng tư duy khoa học.
- Rèn luyện các kỹ năng thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học. - Giúp sinh viên hình thành thói quen và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu để nâng cao chất lượng của việc học ở đại học, đồng thời khơi nguồn niềm đam mê nghiên cứu, giúp họ tạo lập thói quen tự nghiên cứu lâu dài. NỘI DUNG BÀI HỌC Khác với việc học ở phổ thông, việc học ở bậc đại học với đúng nghĩa phải là quá trình tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi kiến thức để đáp ứng được các yêu cầu nhận thức bậc cao. Nếu yêu cầu nhận thức ở bậc học phổ thông chỉ cần dừng lại ở cấp độ bậc 1: biết và hiểu, thì ở bậc đại học không chỉ dừng lại ở đó mà còn cần phải tiến đến các nấc thang nhận thức cao hơn, đó là nhận thức bậc 2: phân tích, tổng hợp, lý giải; và bậc 3: đánh giá, phê phán, liên hệ và vận dụng vào thực tiễn.
Để đạt được các mức độ nhận thức bậc 2 và 3 đòi hỏi việc học ở đại học phải gắn liền với các hoạt động nghiên cứu khoa học để rèn luyện tư duy khoa học cũng như các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, đó là những kỹ năng mà bất cứ sinh viên đại học nào cũng cần phải có. Sẽ không có những nhà khoa học, cũng như không có những khám phá, những phát minh khoa học trong tương lai, nếu không có sự khởi đầu bằng việc trang bị những kỹ năng nền tảng cũng như khơi gợi niềm say mê với công việc tìm tòi nghiên cứu từ lúc còn là sinh viên trên giảng đường. Hoạt động nghiên cứu khoa học, vì vậy là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, được thực hiện thường xuyên, liên tục và xuyên suốt, gắn liền với nhiệm vụ học tập của mỗi sinh viên trong quá trình thực hiện các môn học. Các bài tập thực hành nghiên 5 Downloaded by Julie’s Channels (huynhbinh.com) lOMoARcPSD|25872019 cứu khoa học ở đại học thường được thực hiện dưới các dạng như: viết bài tham luận về một vấn đề để trình bày trong một buổi thảo luận nhóm, lớp; viết tóm tắt nội dung một bài báo khoa học hay một cuốn sách; viết một bài tiểu luận cho bài tập tháng.
Ở cấp độ cao hơn, đó là việc tập làm một đề tài nghiên cứu theo nhóm, viết bài tập niên luận, khoá luận tốt nghiệp. Tuy nhiên, phần đông sinh viên còn chưa có được những kiến thức cơ bản về nghiên cứu khoa học. Vì vậy nội dung chương này sẽ trang bị các kiến thức tổng quan về nghiên cứu khoa học cũng như qui trình và các kỹ năng để thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học. Tổng quan về nghiên cứu khoa học 1.
Khái niệm về nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm khoa học Từ điển Tiếng Việt định nghĩa khoa học là “hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”.1 Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, khoa học là: “hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Nhiệm vụ của khoa học là phát hiện ra bản chất, tính quy luật của các hiện tượng, sự vật, quá trình, từ đó mà dự báo về sự vận động, phát triển của chúng, định hướng cho hoạt động của con người. Khoa học giúp cho con người ngày càng có khả năng chinh phục tự nhiên và xã hội.
Khoa học vừa là một hình thái ý thức xã hội vừa là một dạng hoạt động, một công cụ nhận thức”.2 Như vậy, trong khái niệm khoa học bao gồm hai phương diện: hoạt động khoa học và tri thức khoa học. Hoạt động khoa học là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý và phương pháp khoa học để nghiên cứu, tìm tòi để khám phá ra những tri thức mới về tự nhiên và xã hội, để mô tả, giải thích hay dự báo về các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Sản phẩm của các hoạt động nghiên cứu khoa học là các tri thức khoa học. Tri thức khoa học là những hiểu biết về bản chất và qui luật của tự nhiên, xã hội mà con người có được thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, được khái quát dưới dạng lý thuyết, 1 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2002.vn 6 Downloaded by Julie’s Channels (huynhbinh.com) lOMoARcPSD|25872019 đó là các khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Như vậy, trong kho tàng tri thức của nhân loại gồm hai hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. - Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy bằng con đường nhận thức cảm tính, trực tiếp qua các hoạt động thực tiễn hàng ngày nên thường rời rạc, tản mạn, chỉ nhận diện đối tượng ở những biểu hiện bề ngoài, không có khả năng tiếp cận sâu vào bản chất, cũng như chưa khái quát được các thuộc tính, các qui luật cũng như các mối quan hệ bên trong của đối tượng. - Tri thức khoa học mặc dù có cơ sở từ các tri thức kinh nghiệm, dựa trên các kết quả quan sát, thu thập các thông tin từ các sự kiện, hiện tượng xảy ra ngẫu nhiên trong thực tế, nhưng bằng tư duy khoa học và bằng các phương pháp khoa học, các thông tin ấy được tổ chức thành hệ thống, được lý giải từ bản chất, được khái quát và đúc kết thành các qui luật dưới dạng các công thức, khái niệm, định lý, định luật, phạm trù, học thuyết khoa học…. từ đó hình thành nên các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội.
Khái niệm tư duy khoa học Mọi hoạt động của con người đều được điều khiển bởi tư duy. Để đáp ứng những hoạt động thực tiễn với những đặc trưng khác nhau, tư duy của con người cũng tồn tại với 3 kiểu dạng với những đặc điểm ưu trội khác nhau: + Tư duy hành động trực quan (còn gọi là tư duy cảm tính hay tư duy thực tiễn hàng ngày): là dạng thức tư duy gắn liền với các đối tượng cụ thể, trực tiếp, giúp ta nhận thức được từng mặt, từng khía cạnh riêng rẽ gắn liền với những hình ảnh bề ngoài về đối tượng mà không thấy được bản chất và các qui luật phát triển của nó. Dạng thức tư duy này điều khiển các hoạt động thực tiễn hàng ngày của con người. + Tư duy hình tượng - cảm tính (còn gọi là tư duy nghệ thuật - tư duy hình tượng): là dạng thức tư duy trong đó sự nhận thức về đối tượng không tách rời giữa những biểu hiện cụ thể - cảm tính, ngẫu nhiên, cá biệt, của đối tượng với tính chỉnh thể, toàn vẹn, tính phổ biến, cái khái quát về đối tượng, trên cơ sở của sự thống nhất, hòa quyện giữa lý trí và tình cảm.
Đây là dạng thức tư duy điều khiển lĩnh vực hoạt động nghệ thuật của con người. + Tư duy khái niệm - lôgic (còn gọi là tư duy logic/ tư duy khoa học): là dạng thức tư duy có khả năng phản ánh gián tiếp thực tại khách quan trên cơ sở của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa về đối tượng thông qua các khái niệm, công thức, phạm trù, phán đoán, suy luận, lý thuyết, giả thuyết…, nhờ đó có thể khám phá được những mối liên 7 Downloaded by Julie’s Channels (huynhbinh.com) lOMoARcPSD|25872019 hệ bên trong có tính bản chất cũng như những qui luật tồn tại và phát triển tất yếu của hiện thực khách quan. Ba dạng thức tư duy này đều có ở mỗi người với những mức độ biểu hiện ưu trội khác nhau, chúng không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ biện chứng, bổ sung cho nhau để đem lại cho con người có khả năng nhận thức, khám phá toàn diện về thực tại khách quan, trong đó tư duy khoa học là cơ sở để thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, nhằm giúp con người tiếp cận sâu vào bản chất của thế giới để khái quát các qui luật phổ quát và tất yếu của các đối tượng. Khái niệm nghiên cứu khoa học - Khái niệm nghiên cứu (research): là “xem xét, tìm hiểu kĩ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những hiểu biết mới”.1 - Tác giả Vũ Cao Đàm trong Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đối sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” 2 Từ các định nghĩa trên, có thể xác định đối tượng, nội dung và mục đích của nghiên cứu khoa học: - Đối tượng của nghiên cứu khoa học là thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội) và phương pháp nhận thức thế giới khách quan ấy.
- Nội dung của nghiên cứu khoa học là hoạt động của tư duy khoa học kết hợp với việc vận dụng các phương pháp, phương tiện khoa học để thu thập thông tin, xử lý thông tin trên cơ sở của các phán đoán, phân tích, tổng hợp, khái quát, suy luận để khám phá, phát hiện và chứng minh sự tồn tại của một chân lý khoa học. - Mục đích của nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện ra những tri thức mới, sáng tạo những giá trị mới, đề xuất những giải pháp mới để vượt lên những tri thức cũ, bổ sung hoặc thay thế những giá trị không còn phù hợp, làm thay đổi nhận thức của con người theo hướng tiến bộ hơn, giúp con người ngày càng tiệm cận hơn với chân lý về đối tượng. Từ các kết quả nghiên cứu của khoa học để vận dụng vào việc cải tạo thực tiễn, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao hơn của cuộc sống con người. Phân loại khoa học và nghiên cứu khoa học 1.
Phân loại khoa học 1 Từ điển Tiếng Việt, sđd.