Giáo trình Luật Thương Mại Quốc Tế - Trường Đại học Luật Hà Nội (Tái bản 2020)

Giáo trình luật thương mại quốc tế cung cấp kiến thức chuyên sâu về các quy định pháp lý trong giao dịch thương mại xuyên biên giới. Nội dung bao quát các vấn

Tác giả

Nông Quốc Bình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2020

435
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luật thương mại quốc tế

Luật thương mại quốc tế điều chỉnh các hoạt động thương mại vượt qua lãnh thổ quốc gia. Các chủ thể tham gia gồm quốc gia và thương nhân. Hoạt động của các chủ thể này có quan hệ biện chứng và hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại quốc tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế dẫn đến sự thay đổi của khái niệm về thương mại quốc tế và luật thương mại quốc tế.

1.1. Khái niệm luật thương mại quốc tế

Luật thương mại quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế. Khái niệm này thay đổi theo sự phát triển của thương mại quốc tế và sự đa dạng về đối tượng trao đổi, mua bán.

1.2. Đặc điểm luật thương mại quốc tế

Luật thương mại quốc tế có đặc điểm là điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế, có sự khác biệt về cách tiếp cận khái niệm 'thương mại quốc tế' giữa các quốc gia.

II. Phân tích vấn đề pháp lý về thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế chịu sự điều chỉnh của các hiệp định thương mại quốc tế, các quy định về thuế quan, hải quan và các vấn đề pháp lý khác. Các quốc gia và thương nhân phải tuân thủ các quy định này để đảm bảo hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện một cách hợp pháp.

2.1. Các hiệp định thương mại quốc tế

Các hiệp định thương mại quốc tế như GATT, WTO điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế. Các hiệp định này tạo khung pháp lý cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia.

2.2. Các quy định về thuế quan và hải quan

Các quy định về thuế quan và hải quan điều chỉnh việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa. Các quốc gia áp dụng các quy định này để bảo vệ nền kinh tế và thu ngân sách.

III. Giải pháp và phương pháp thực hiện

Để thực hiện hoạt động thương mại quốc tế hiệu quả, các quốc gia và thương nhân cần hiểu rõ các quy định pháp lý và thực hiện các biện pháp cần thiết. Việc tuân thủ các quy định pháp lý là rất quan trọng để tránh các rủi ro pháp lý.

3.1. Tìm hiểu quy định pháp lý

Các quốc gia và thương nhân cần tìm hiểu các quy định pháp lý về thương mại quốc tế. Việc hiểu rõ các quy định này giúp họ thực hiện hoạt động thương mại quốc tế một cách hợp pháp.

3.2. Thực hiện biện pháp cần thiết

Các quốc gia và thương nhân cần thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện một cách hiệu quả. Việc thực hiện các biện pháp này giúp họ tránh các rủi ro pháp lý.

IV. Kết luận và ứng dụng

Luật thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế. Việc hiểu rõ và thực hiện các quy định pháp lý về thương mại quốc tế giúp các quốc gia và thương nhân thực hiện hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả.

4.1. Vai trò của luật thương mại quốc tế

Luật thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế. Việc hiểu rõ các quy định pháp lý giúp các quốc gia và thương nhân thực hiện hoạt động thương mại quốc tế một cách hợp pháp.

4.2. Ứng dụng trong thực tiễn

Việc hiểu rõ và thực hiện các quy định pháp lý về thương mại quốc tế giúp các quốc gia và thương nhân thực hiện hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả. Điều này giúp họ tăng cường hợp tác kinh tế và phát triển kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ LUẬT TMỌT tuệ và đầu tư có yếu tố nước ngoài đều được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế quốc tế. Phân loại điều ước quốc tế '~ Căn cứ vào số lượng chủ thể của điều ước quốc tế, có thể chia thành hai loại: Điều ước quốc tế song phương (tay đôi) và điều ước quốc tế đa phương (nhiều bên). Điều ước quốc tế song phương là loại điểu ước quốc tế do hai bén chủ thể trong quan hệ quốc tế kí kết với mục đích xác lập mối quan hệ pháp lí giữa hai bên trong hoạt động thương mại quốc tế. Thông thường, nội dung của loại điều ước này để cập từng lĩnh vực cụ thể như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, hoặc các vấn đề có liên quan như hàng hải, hải quan, thanh toán quốc tế.

Những quy định trong các điều ước quốc tế song phương chỉ điều chỉnh các quan hệ pháp lí giữa hai bên kí kết. Điều ước quốc tế đa phương là loại điều ước quốc tế do _ ba chủ thể trong quan hệ quốc tế trở lên kí kết hoặc tham gia. Giống như loại điều ước quốc tế tay đôi, loại điều ước quốc tế đa phương cũng để cập từng lĩnh vực nhất định trong thương mại quốc tế. Ví đu: Hiệp định chung về thuế quan và mau dich (GATT - The General Agreement on Tariff and - 'Trade) được kí kết năm 1947, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được kí kết năm 1980, Công ước Vacsava kí kết năm 1929 về thống nhất một số nguyên tắc về vận tải hàng không quốc tế, Công ước Bruxen được kí kết năm 1924 về thống nhất một số quy tắc pháp lí về vận đơn đường biển.

Các quy định điều ước quốc tế đa phương có giá trị bắt buộc đối với các thành viên của điều ước. - Căn cứ vào tính chất điều chỉnh của điều ước quốc tế 29 GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ mà chúng được chia thành hai loại: loại điều ước quy định những nguyên tắc chung và loại điều ước quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế. Loại điều ước quy định những nguyên tắc chung là loại điều ước chỉ đưa ra những nguyên tắc mà theo đó các bên phải tuân thủ trong quá trình xác lập và thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế. Các diéu ước quốc tế loại này thường là các hiệp định thương mại, các hiệp định thương mại và hàng hải.

Các hiệp định này chỉ đưa ra những nguyên tắc chung như nguyên tắc đãi ngộ như công dân, nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc có đi có lại. Trên cơ sở của những nguyên tấc-này các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế phải tuân theo. Loại điều ước quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên là loại điều ước chứa đựng các quy phạm điều chỉnh một cách rõ ràng, cụ thể đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thương mại và kinh doanh quốc tế. Ví dụ: Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Trong đó, các quy định về việc kí kết hợp đồng, nghĩa vụ của người bán, nghĩa vụ của người mua, vấn để chuyển dịch rủi ro đối với hàng hoá. được ghỉ nhận một cách rất cụ thể. Áp dung các quy phạm trong điều ước quốc tế Điều ước quốc tế là sự thoả thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước này có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda). Đây là nguyên tắc được áp dụng trong Công pháp quốc tế nhằm điều chỉnh các 30 PHAN THU NHAT - CHUONG I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ LUAT TMOT hành vi của các quốc gia.

Như vậy, khi các nước kí kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại thì các quy phạm ghi nhận trong các diéu ước về thương mại này sẽ đương nhiên áp dụng để điều chỉnh các hành vi của quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế. Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng trên các nguyên tắc sau đây: - Điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá tri pháp lí bất buộc đối với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có quốc tịch hoặc có nơi cư trú ở các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế đó. - Trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế về thương mại và luật trong nước của nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng. - Trong trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không mang quốc tịch hoặc không có nơi cư trú ở các nước thành viên của một điều ước quốc tế về thương mại thì các quy định trong điều ước này vẫn điều chỉnh quyển và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên thoả thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế đó.

Các điêu ước quốc tế là nguôn của luật thương mại quốc tế Việt Nam Ở Việt Nam, bên cạnh nhiều điểu ước quốc tế song phương còn có một số điều ước quốc tế đa phương về thương mại được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế Việt Nam. Việt Nam đã kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương về thương mại với các nước. Ví đụ: Các hiệp định về thương mại, 31 GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ các hiệp định về thương mại và hàng hải, các hiệp định về thanh toán quốc tế, các hiệp định về đầu tư, về sở hữu trí tuệ. Việt Nam còn là thành viên của một số điều ước quốc tế đa phương về thương mại như Công ước Vacsava năm 1929 về thống nhất trong vận tải hàng không quốc tế, Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các phán quyết của trong tài nước ngoài.Những điều ước quốc tế song phương và đa phương này là cơ sở pháp lí để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

Tập quán quốc tế a. Khái niệm Cùng với pháp luật của quốc gia và điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế với tư cách là nguồn luật. Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến. Như vậy, không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng có thể được coi là nguồn luật thương mại quốc tế.

Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thoả mãn các điều kiện pháp lí nhất định. Các cơ sở pháp lí để xác định tập quán thương mại quốc tế là nguôn của luật thương mại quốc tế - Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời và phải được áp dụng liên tục. Tính lâu đời và liên tục trong việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế là cơ sở pháp li dau tiên để xác định tập quán thương mại là nguồn của pháp luật thương mại quốc tế. 32 PHAN THU NHAT - CHUONG | - MOT SO VAN DE LÍ LUẬN VỀ LUẬT TMỢT Nếu một tập quán thượng mại quốc tế có lịch sử hình thành lâu đời nhưng nó chỉ được áp dụng cách quãng trong từng khoảng thời gian nhất định thì tập quán này không thể được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế.

- Tập quán thương mại phải có nội dung cụ thể rõ ràng. Do tính chất đặc thù của sự hình thành tập quán thương mại quốc tế là nó không được ghỉ nhận một cách cụ thể (nếu có thì nó thường được ghi nhận trong các án lệ) cho nên nếu một tập quán thương mại quốc tế không có nội dung rõ ràng thì tập quán đó không thể coi là nguồn của luật thương mại quốc tế. Bởi vì tính rõ ràng và cụ thể của tập quán thương mại quốc tế không những là cơ sở pháp lí để các bên chủ thể thực hiện quyên và nghĩa vụ của mình (nếu họ thoả thuận dẫn chiếu đến) mà nó còn là cơ sở pháp lí để cơ quan xét xử áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên. - Tập quán thương mại phải là thói quen duy nhất trong giao dịch thương mại quốc tế.

Tính duy nhất của tập quán thương mại quốc tế là cơ sở để loại trừ những trường hợp có nhiều thói quen có tên gọi giống nhau nhưng khác nhau về nội dung được dùng cho một giao dịch thương mại quốc tế. Tiêu chí này là cơ sở để xác định một cách chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên khi họ thoả thuận dẫn chiếu đến một tập quán thương mại quốc tế. - Tập quán thương mại phải được đại đa số các chủ thể trong thương mại quốc tế hiểu biết và chấp nhận. Tập quán quốc tế nếu không được hầu hết các chủ thể trong kinh doanh quốc tế biết đến và chấp nhận thì sẽ không được cơi là nguồn của luật thương mại quốc tế.

Điều này thể ` hiện tính phổ biến và tính pháp lí của tập quán thương mại khi 33 GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ nó là nguồn của luật thương mại tế quốc tế. Dựa vào tính chất này mà trên thực tế, cơ quan xét xử có thể tiến hành giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế một cách công bằng và hợp lí. Trong trường hợp tranh chấp phát sinh nhưng hợp đồng do các bên kí kết không có điều khoản cụ thể về việc giải quyết tranh chấp đồng thời luật trong nước và điều ước quốc tế liên quan cũng không có quy phạm điều chỉnh thì cơ quan xét xử có thể áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải _ quyết. Nói cách khác, vì tập quán thương mại quốc tế đã được đại đa số chủ thể trong thương mại quốc tế chấp nhận nên cơ quan xét xử đã vận dụng nguyên tắc suy đoán rằng các bên chủ thể đã hiểu biết hoặc buộc phải biết các tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ