CHƯƠNG I NHAP MON LUAT THUONG MAI QUOC TE hợp tác kinh tế giữa các quốc gia, tâm ảnh hưởng của thương mại quốc tế về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội đối với sự phát triển _.1 KHÁI LUẬN VẺ THƯƠNG MẠI QUÓC TẾ VÀ của thế giới đã gia tăng đáng kể. Ngày nay thương mại quốc tế LUẬT THUONG MAI QUOC TE luôn đóng góp một phần không nhỏ cho tông sản phẩm quốc nội 1. Khái niệm thương mại quốc tế (GDP) hàng năm của các quốc gia và là một cấu thành thiết yếu của chính sách phát triển kinh tế của các chính phủ. _ Theo cách hiểu phổ thông, thương mại quốc tế là sự trao đổi Thương mại quốc tế về bản chất có nhiều điểm tương đồng so hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hải với thương mại trong nước vì động cơ và hành vi của các bên tham - quan.
Hoạt động thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia thường gia vào các hoạt động thương mại về cơ bản không thay đổi bat ké được gọi là “hoạt động ngoại thương” hoặc “thương mại quốc tế”. hoạt động thương mại diễn ra trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia Những hoạt động này hàm chứa sự trao đổi, mua bán các sản phẩm hay xuyên biên giới. Khởi thủy của thương mại quốc tế cũng như hàng hóa và dịch vụ giữa những cá nhân, tổ chức của các quốc gia thương mại thông thường đều bao gồm các hoạt động kinh doanh, trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ và các đối tượng trao đổi khác _ Thương mại quốc tế đã có từ lâu đời và trải qua các thời kỳ giữa các thương nhân. Theo quy định của Luật Thương mại của Việt phát triển khác nhau, gắn liền với sự phát triển của các nền văn Nam (2005) thương mại [nói chung] là hoạt động nhằm mục đích tnỉnh nhân loại.
Từ thế kỷ XIX trước công nguyên thương mại sinh lợi, bao gồm việc mua bán hàng hóa, đầu tư, xúc tiến thương quốc tế đã được ghi nhận qua sự hình thành và phát triển các trục mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.! Tuy nhiên đường thương mại kéo dài xuyên qua các châu lục, như “Con thương mại quốc tế không đơn thuần chỉ là sự “nối dài” của thương đường Tơ lụa” nổi tiếng nối Châu Á và Châu Âu hay “Con đường mại trong nước ra phạm vi quốc tế; sự trao đổi thương mại xuyên Hỗ phách” nối Châu Âu và Châu A, và từ Bắc Phi tới Biển Baltic. biên giới sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tô khác nhau (như thuế Su phat trién của các phương tiện vận tải và cuộc cách mạng 2. a ae ` ˆ , công a / quan, phương thức vận tải, ngôn ngữ và văn hóa .) và phức tạp hơn nghiệp vào thế kỷ XVI-XVIII tại các quốc gia Tây Âu tiếp tục rất nhiều so với sự trao đổi thương mại thông thường trong khuôn nâng cao vai trò của các hoạt động thương mại xuyên các Châu | khổ lãnh thổ quốc gia. Trong nhiều trường hợp thương mại quốc tế lục.
Trao đổi thương mại quốc tế bằng đường biển với các thuộc không chỉ còn là mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, mà nó còn địa đem lại những nguồn lợi lớn lao cho các quốc gia Tây Âu, góp một phân không nhỏ vào sự thịnh vượng của họ. Trong hai thế kỷ, ! Luật Thương mại (2005), Điều 3.1 anf 22 23 =—- liên quan tới sự trao đổi thương mại giữa các quốc gia hay giữa vực và quốc tế. Tính “quốc tế” trong khái niệm thương mại quốc tế những khu vực kinh tế khác nhau. nêu trên chỉ bao hàm ý nghĩa tương tự như “tính quốc tế” của thuật Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý, khái niệm thương mại ngữ tư pháp quốc tế.” Thương mại quốc tế hiện đại không chỉ bao quốc tế chưa được biểu thống nhất.
Những học giả theo quan điểm hàm các hoạt động giao dịch thương mại giữa các thương nhân mà truyền thống thường coi thương mại quốc tế là hoạt động xuất còn có cả các giao dịch thương mại giữa các nền kinh tế, các quốc nhập khâu hàng hóa giữa các thương nhân, tức là những giao dịch, gia và các khu vực thương mại. hoạt động trao đổi hàng hóa từ lãnh thổ của một quốc gia sang lãnh Thương mại quốc tế có thể hiểu một cách khái quát là các thổ quốc gia khác. Cách tiếp cận này thực tế chưa bao quát hết hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia phạm vi của thương mại quốc tế hiện đại bởi nó mới chỉ nhằm vào hoặc khu vực hải quan. Tuy nhiên, thương mại quốc tế phải được nột trong những đối tượng của thương mại là hàng hóa.
Hiện nay, nhìn nhận dưới hai góc độ: /ứ nhất, hoạt động trao đổi thương đối tượng trao đổi của thương mại quốc tế rất phong phú, bao gồm mại giữa các quốc gia, các liên kết thương mại khu vực; và thứ hai, không chỉ sản phẩm hàng hóa hữu hình mà còn cả các sản phẩm các hoạt động thương mại xuyên biên giới giữa các thương nhân (cá hàng hóa vô hình như dịch vụ, đầu tư và tài sản trí tuệ (quyền sở nhân, tô chức kinh tế, hay nhà nước khi nhà nước tham gia với tư hữu trí tuệ). cách là một thương nhân). Nếu nhìn nhận từ góc độ chủ thể và tính Một số học giả khác thì cho rằng thương mại quốc tế là sự chất của các quan hệ thương mại, thì hai khía cạnh nêu trên của trao đôi hàng hoá, dich vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận giữa các thương mại quốc tế có thể phân thành hai nhóm tương ứng là thương nhân có quốc tịch khác nhau tại các quốc gia khác nhau. “thương mại quốc tế công” và “thương mại quốc tế tư”.
Như vậy, Định nghĩa này nhấn mạnh tới yếu tố chủ thể kinh doanh trong các hiểu một cách đầy đủ, khái niệm thương mại quốc tế phải bao gồm giao dịch thương mại, theo đó “thương mại quốc tế” chỉ khác với nội hàm của cả hai góc độ nêu trên. thương mại trong nước ở yếu tố “quốc tịch khác nhau của các Nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng những thuật ngữ khác thương nhân”. Đây là cách tiếp cận theo nghĩa hẹp của thương mại nhau để phân biệt hai khía cạnh của thương mại quốc tế công và quốc tế vì nó không cho thấy vai trò của các chủ thể khác của hoạt thương mại quốc tế tư. Chẳng hạn ở Anh, Hoa Ky và Canada, các động thương mại như nhà nước và các thiết chế thương mại khu nhà khoa học thường sử dụng thuật ngữ “International Commerce” đẻ thể hiện thương mại quốc tế tư và “International Trade” đối với ? xem Trần Hoà Bình và Trần Văn Nam (chủ biên), “Giáo irình Luật thương mại quốc tế” - Đại học Kinh tế quốc đân, Nxb.
Lao động — Xã hội, Hà Nội, (2005). 6, Nông Quốc Bình (chủ biên), “Giáo trình Luật thương mại quốc tử"? - Đại học Luật Hà Nội, 3 Mai Hồng Quỳ và Trần Việt Dũng, “Luật thương mại quốc tế” (Tái bản lần 1), Nxb. 8 24 25 thương mại quốc tế công. Trong tiếng Nga cũng tồn tại hai thuật hành vi thương mại của quốc gia, như quan hệ thương mại giữa ng tương ứng là “Mexnynaponnoe ToproBoe OTrHouiecHne” các quốc gia, quan hệ thương mại giữa quốc gia và các tổ chức (mezdunarodnoe torgovoe otnosheniye) để chỉ các quan hệ thương quốc tế, hoặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau; quyền và nghĩa vụ mại quốc tế công và “MeyxgriyHaponnas KOMMe€pwecKoe OTHOII€HH€”” của các quốc gia trong quan hệ quốc tế về thương mại, v.
Bên (mezdunarodnoe kommerchexkoe otnoshenhiye) để chỉ các quan hệ cạnh đó, luật thương mại quốc tế cũng điều chỉnh các chính sách thương mại quốc tế tư. Việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý khác và pháp luật thương mại do quốc gia ban hành nhằm thực hiện các nhau dé phan biét những khía cạnh khác nhau của thương mại quốc cam kết quốc tế của quốc gia trong các lĩnh vực thương mại. tê, không có ý nghĩa quyết định trong việc nghiên cứu Luật thương Nghiên cứu luật thương mại quốc tế công tức là tìm hiểu về khung mại, tuy nhiên, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận và tránh pháp lý cho quan hệ thương mại giữa các quốc gia và các vùng su nhằm lẫn trong việc định nghĩa khái niệm thương mại quốc tế nói lãnh thổ hải quan. chung và luật thương mại quốc tế nói riêng.“ Các quy phạm và nguyên tắc pháp lý của luật thương nại - 12.
Luật thương mại quốc tế quốc tế công chủ yếu được ghi nhận tại các điều ước quốc tế về Hoạt động thương mại quốc tế chịu sự điều chỉnh bởi các quy thương mại giữa các quốc gia, chẳng hạn như các hiệp đị:h thương phạm pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù. Các quy mại đa phương trong khuôn khô hệ thống thương mại thế giới hay phạm và nguyên tắc pháp lý này được hình thành trên cơ sở các các hiệp định thương mại song phương, khu vực. thỏa thuận giữa các chủ thể cụ thể của các giao dịch thương mại Ở góc độ luật tư, luật thương mại quốc tế điêu chỉnh các giao quốc tế, các quy định pháp luật của hệ thống pháp luật quốc gia và dịch thương mại xuyên biên giới giữa các thương nhân nhằm trao các định chế thương mại quốc tế. Hệ thống các quy phạm pháp luật và nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các giao dịch và hoạt động đổi hàng hoá, dịch vụ và các đối tượng khác.
Ở đây, luật thương mại quốc tế sẽ bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật dân thương mại quốc tế hình thành nên Luật thương mại quốc tế. sự, kinh tế và thương mại trong hệ thing phap luat quốc gia và Tương ứng với nội hàm đặc thù của thương mại quốc tế, Luật quốc tế điều chỉnh các giao dịch thương mại quốc tế của các thương mại quốc tế phải được nghiên cứu ở hai cấp độ: (ï) luật thương nhân, như xuất nhập khẩu, vận tải, phân phối, bảo hiểm, thương mại quốc tế công và (ii) luật thương mại quốc tế tư. Ở góc thanh toán, quản lý ngoại hối, cạnh tranh, v. Tại cấp độ này luật độ luật công, luật thương mại quốc tế trước hết điều chỉnh các hợp đồng đóng vai trò trọng tâm trong việc xác định quyển và * Xem Mai Hồng Quỳ và Trần Việt Dũng, “Luật thương mại quốc tế” (Tái bàn lần 1), nghĩa vụ của các thương nhân trong các giao dịch.
Chủ thể của Luật thương mại quốc tế chính sách kinh tế và ngoại thương vẫn được luật thương mại quốc 1.