CHƯƠNG 5 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIỮA CÁC QUỐC GIA, VÙNG LÃNH THỔ, GIỮA CÁC QUỐC GIA VỚI THƯƠNG NHÂN Tranh chấp thương mại quốc tế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ thường phát sinh do những bất đồng, mâu thuẫn trong cách hiểu, cách thực hiện các cam kết mà các chủ thể này đã xác lập. Do vậy, về cơ bản các tranh chấp này sẽ được giải quyết trên cơ sở pháp luật quốc tế, căn cứ vào các điều ước quốc tế mà các bên ký kết hoặc gia nhập hoặc căn cứ vào tập quán quốc tế. Chương 5 tập trung làm rõ về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO (mục 5.1) và cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực (mục 5.2) để làm rõ đặc trưng của các cơ chế giải quyết tranh chấp này. Nhiều thoả thuận thương mại khu vực còn xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia nước tiếp nhận.
Đây là bước tiến mới của Luật Thương mại quốc tế hiện đại so với Luật Thương mại quốc tế truyền thống. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ WTO Trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tranh chấp giữa các thành viên sẽ được giải quyết bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Body, viết tắt là DSB). DSB được thành lập trên cơ sở của thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục về việc giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding, viết tắt là DSU). Thỏa thuận này là kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Uruguay và là một trụ cột quan trọng của WTO.
Về cơ bản, đây là cơ chế chung giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO liên quan đến các quy định 242 của WTO. Thỏa thuận này quy định không chỉ cơ chế chung về giải quyết tranh chấp, mà còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp riêng liên quan đến một số các hiệp định đa phương cụ thể như: Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại,. So với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT 1947, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được coi là có sự đổi mới toàn diện, thể hiện ở cơ cấu tổ chức, các cấp giải quyết và cơ chế ra quyết định. Cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 được coi là một cơ chế không thường trực (ad hoc) với những thủ tục mang tính chính trị nhiều hơn.
Mục tiêu của cơ chế này chỉ nhằm tìm ra các giải pháp mang tính thỏa thuận giữa các bên tranh chấp hơn là giải quyết các tranh chấp này theo phương diện pháp lý như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Khái quát về cơ chế giải quyết trong khuôn khổ WTO 5. Cơ cấu tổ chức của Cơ quan giải quyết tranh chấp Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) nằm dưới quyền kiểm soát của Đại hội đồng của WTO. Thực chất, cơ quan này cũng bao gồm tất cả các thành viên của Đại hội đồng.
Điểm khác biệt so với Đại hội đồng là DSB có Chủ tịch và quy tắc hoạt động riêng (Điều IV.3 Hiệp định WTO). DSB có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm và thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, duy trì sự giám sát việc thực hiện các phán quyết và khuyến nghị trong giải quyết tranh chấp, cho phép tạm hoãn việc thi hành những nhượng bộ và nghĩa vụ theo các hiệp định có liên quan. Đây là cơ quan điều hành, ra quyết định và thông qua Báo cáo của các cơ quan chuyên trách. Ban hội thẩm là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp.
Ban hội thẩm do DSB thành lập, bao gồm từ 3 đến 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét vụ việc và đưa ra các khuyến nghị trên cơ sở các quy định của WTO. Thành viên của Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức của chính phủ và/hoặc các chuyên gia phi chính phủ. Các thành viên này phải đảm bảo nguyên tắc là không thuộc quốc tịch của các bên tranh chấp hoặc của một quốc gia cùng là thành viên trong một liên minh thuế quan hoặc 243 trong một thị trường chung với một trong các bên tranh chấp. Ban hội thẩm được tổ chức theo quy chế không thường trực, được thành lập trên cơ sở có vụ việc phát sinh và được yêu cầu giải quyết tại DSB.
Ban hội thẩm hoạt động độc lập. Kết quả của công việc của Ban hội thẩm là một bản báo cáo. Bản báo cáo này được trình lên DSB để DSB thông qua. Cơ quan Phúc thẩm (Appellate Body, viết tắt là AB) là cơ quan do DSB thành lập.
Được coi là cấp xét xử thứ hai trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp của WTO. Đây là cơ quan có quy chế thường trực, bao gồm 7 thành viên có nhiệm kỳ 4 năm (có thể được bầu lại 1 lần). Các thành viên này phải là những người có uy tín đã được công nhận và có kinh nghiệm chuyên môn đã được chứng minh trong các lĩnh vực pháp luật, thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định có liên quan. Trong số 7 thành viên này, chỉ có 3 thành viên được xét xử trong các vụ việc cụ thể.
Khi có yêu cầu phúc thẩm, AB thành lập Nhóm làm việc (Working groups) gồm 3 thành viên. Các thành viên này được lựa chọn luân phiên theo từng vụ việc. Nhiệm vụ của AB là chỉ xem xét những vấn đề về mặt pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm, chứ không giải quyết lại nội dung vụ việc. Điều đó cũng có nghĩa là khi có Báo cáo của Ban hội thẩm, các bên tranh chấp chỉ được quyền kháng cáo lên AB khi thấy rằng Báo cáo này có những vấn đề về mặt pháp lý chưa đúng, hoặc chưa giải thích đúng các quy định của các hiệp định có liên quan của Ban hội thẩm.
Kết quả của công việc này là một Báo cáo. Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc làm thay đổi các khuyến nghị ở trong Báo cáo của Ban hội thẩm. Cơ chế ra quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong WTO Quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ định (Điều 2.4, và ghi chú 1 DSU). Với nguyên tắc đồng thuận phủ định này, DSB đã khắc phục được hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp trước đó của GATT 1947.
Trước đây, các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT 1947 luôn có nguy cơ không được thông qua do cơ chế thông qua quyết định được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận 244 khẳng định. Theo đó, việc thành lập Ban hội thẩm hay thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm chỉ có thể được thông qua khi không có sự phản đối chính thức từ bất kỳ bên tham gia nào của GATT 1947. Đây chính là điểm yếu của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947. Do các quyết định thành lập Ban hội thẩm hay thông qua báo cáo đều có thể bị bên bị khiếu kiện cản trở.
Dù trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947 không luôn trong tình trạng như vậy. Các bên ký kết là bị đơn thường không ngăn cản các quyết định đồng thuận và cho phép tiến hành giải quyết các tranh chấp với sự tham gia của họ, ngay cả khi quyết định đó sẽ có hại cho họ. Họ làm như vậy vì những lợi ích lâu dài của mình vì biết rằng việc sử dụng thái quá quyền phủ quyết sẽ bị các bên khác trả đũa lại tương tự. Vì vậy, các Ban hội thẩm cũng đã được thành lập và các báo cáo của họ thường được thông qua mặc dù cũng bị trì hoãn.
Tuy nhiên, cơ chế thông qua quyết định này của GATT 1947 đã làm cản trở các bên đưa tranh chấp ra giải quyết. Thực tế cho thấy có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa ra trước GATT vì bên khiếu kiện lo ngại rằng bên bị khiếu kiện sẽ dùng quyền phủ quyết. Nguy cơ của việc dùng quyền phủ quyết cũng đã làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT. Ngoài ra, việc sử dụng quyền phủ quyết đã diễn ra trong thực tiễn, đặc biệt là trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc quan trọng về kinh tế, như chống bán phá giá.
Hệ quả là vào những năm 1980, hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã suy yếu dần, do các bên ký kết, đặc biệt là Cộng đồng châu Âu, Mỹ, thường cản trở việc thành lập Ban hội thẩm và việc thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm. Việc các báo cáo của Ban hội thẩm có nguy cơ bị cản trở, không thông qua cũng làm ảnh hưởng tới nội dung các phán quyết của Ban hội thẩm. Ban hội thẩm biết trước rằng báo cáo của họ cũng phải được bên thua kiện chấp thuận thì mới được thông qua. Vì vậy, động cơ đưa ra phán quyết không chỉ dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của vụ kiện, mà còn phải tính đến một giải pháp mang “tính ngoại giao” bằng việc đưa ra một thoả hiệp mà cả hai bên (bên khiếu nại và bên bị khiếu nại) đều có thể chấp nhận được.
245 Những yếu kém về mặt cơ cấu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT là rất đáng kể, dù cuối cùng nhiều tranh chấp cũng đã được giải quyết. Trước thực trạng trên, WTO đã thay đổi lại cơ chế thông qua quyết định giải quyết tranh chấp của DSB. Trong Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU), quyền của các bên, nhất là bên có biện pháp bị kiện, trong việc ngăn cản việc thành lập Ban hội thẩm hoặc thông qua báo cáo đã bị loại bỏ. Hiện nay, Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) tự động thành lập Ban hội thẩm và thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, trừ khi có sự đồng thuận không nhất trí làm như vậy.
Đây được gọi là quy tắc “đồng thuận nghịch” hay “đồng thuận phủ định”. Quy tắc này giúp cho các báo cáo của Ban hội thẩm hay của Cơ quan phúc thẩm sẽ luôn được thông qua trừ trường hợp có sự đồng thuận phản đối Báo cáo.