CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍNH MINH BẠCH TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI QUỐC TẾ 1. Khái quát chung về trọng tài quốc tế 1. Khái niệm trọng tài quốc tế Trọng tài là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, trọng tài được coi là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến và hiệu quả nhất.10 Trong khoa học pháp lý, khái niệm trọng tài được nghiên cứu và tiếp cận dưới nhiều bình diện khác nhau11.
Theo giáo sư Okezie Chukwumerije, “trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên”12. Khái niệm “trọng tài”, theo đó, được hiểu theo nghĩa rộng là phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh ngoài khuôn khổ toà án được tiến hành theo sự thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể phát sinh trong tương lai. Các bên theo thoả thuận sẽ đưa tranh chấp của họ tới một chủ thể mà hai bên tin tưởng để giải quyết. Mặt khác, với cách tiếp cận trọng tài là một thủ tục, Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (American Arbitration Association - AAA) cho rằng trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét, giải quyết và đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành13.
Theo đó, khái niệm của AAA đã đề cập đến một trong các đặc điểm cơ bản của trọng tài là tính tài phán, thể hiện qua việc quyết định của trọng tài là chung thẩm và có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Dưới góc độ trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại, Luật trọng tài thương mại Việt Nam đưa ra khái niệm:“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”14, đồng thời quy định “phán quyết trọng tài là chung thẩm”15. Cách tiếp cận này đã chỉ rõ bản chất của trọng tài chứa đựng cả hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Trọng tài bắt nguồn từ sự thoả thuận của các bên, do đó, chỉ giải quyết tranh chấp trên cơ sở có thoả thuận trọng tài và yêu cầu của các bên.
Tuy nhiên, khác với các phương 10 https://www.vn/thu-tuc-trong-tai/li-do-nen-chon-trong-tai-a51.html, truy cập ngày 19/3/2022. 11 Okezie Chukwumerije (1994), Choice of law in international commercial arbitration, Quorum Books westport, connecticut law, tr. 12 Okezie Chukwumerije (1994), Choice of law in international commercial arbitration, Quorum Books westport, connecticut law, tr. 13 Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2013), Đặc san tuyên truyền pháp luật: Trọng tài thương mại và Pháp luật về Trọng tài thương mại, (07).
14 Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010. 15 Khoản 5 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010. 7 thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án khác, trọng tài không chỉ là bên thứ ba trung lập hoà giải và đưa ra khuyến nghị với các bên mà còn là người được ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành. Như vậy, mặc dù khái niệm trọng tài được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, song nhìn chung trọng tài có một số đặc điểm cơ bản như sau: quá trình trọng tài diễn ra trên cơ sở thoả thuận trọng tài được các bên tranh chấp xây dựng; thành phần của hội đồng trọng tài và thủ tục trọng tài được xác định bởi các bên; và quyết định của trọng tài về vụ tranh chấp có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.
Trọng tài quốc tế với vai trò là một phương thức giải quyết tranh chấp luôn mang những đặc điểm cơ bản của trọng tài nói chung, tuy nhiên, trọng tài sẽ chỉ được coi là trọng tài quốc tế khi chứa đựng yếu tố “quốc tế”. Thuật ngữ “quốc tế” thường được dùng để thể hiện sự khác biệt giữa trọng tài giải quyết các tranh chấp thuần túy quốc gia hay trong nước với trọng tài giải quyết các tranh chấp quốc tế hoặc có yếu tố nước ngoài. Tại Việt Nam, khái niệm “trọng tài quốc tế” đến nay đã được sử dụng rất phổ biến tuy nhiên không được ghi nhận chính thức trong bất kỳ văn bản pháp luật nào.16 Trên thế giới, để xác định tính “quốc tế” của trọng tài, các nhà lập pháp chủ yếu xem xét, hoặc riêng biệt, hoặc kết hợp hai tiêu chí: bản chất của vụ tranh chấp và chủ thể tham gia tranh chấp. Thứ nhất, bản chất của vụ tranh chấp Vào năm 1923, Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) đã thành lập Toà Trọng tài ICC tại Paris17 để giải quyết những tranh chấp thương mại có tính quốc tế.18 Theo đó, ICC đã coi bản chất của tranh chấp là tiêu chí để xác định tính “quốc tế” của trọng tài.
Trước đây, ICC cho rằng một tranh chấp chỉ được xem là “quốc tế” nếu hai bên của tranh chấp có quốc tịch khác nhau19. Tuy nhiên, đến năm 1927, ICC đã thay đổi phạm vi áp dụng quy tắc trọng tài của mình, điều chỉnh tất cả các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, kể cả khi hai bên tranh chấp là công dân của cùng một nước20. Cụ thể, ICC cho rằng bản chất quốc tế của trọng tài không có nghĩa là các bên phải khác quốc tịch với nhau mà phụ thuộc vào đối tượng của mình, một hợp đồng có thể mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia. Ví dụ như khi một hợp đồng được giao kết giữa hai công dân của cùng một quốc gia nhưng việc thực hiện hợp đồng đó lại diễn ra ở một quốc gia khác, hoặc khi hợp đồng được giao kết giữa một nhà nước với công ty 16 Trường đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Nxb.
Tư Pháp, Hà Nội, tr.org/about-us/who-we-are/dispute-resolution/, truy cập ngày 19/3/2022.1 Quy tắc Trọng tài ICC 2012. 19 Nigel Blackaby, Constantine Partasides, Alan Redfern, Martin Hunter (2015), Trọng tài quốc tế, Oxford University Press, tr. 20 Nigel Blackaby, Constantine Partasides, Alan Redfern, Martin Hunter (2015), Trọng tài quốc tế, Oxford University Press, tr. 8 con của một công ty nước ngoài kinh doanh tại quốc gia đó.
Như vậy, có thể thấy ICC đã giải thích tính “quốc tế” theo nghĩa rộng, một tranh chấp sẽ được coi là có tính quốc tế nếu liên quan tới bất kỳ yếu tố nước ngoài nào ví dụ như có nơi giao kết hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng ở nước ngoài, hay các bên tham gia hợp đồng có quốc tịch khác nhau. Thứ hai, chủ thể tham gia tranh chấp Tính chất quốc tế của chủ thể tham gia thường được xác định dựa vào hai dấu hiệu chính là: (i) quốc tịch của chủ thể và (ii) trụ sở thương mại hay nơi thường trú của chủ thể. Cách tiếp cận này được ghi nhận tại Điều I.1(a) Công ước Châu Âu năm 1961 về Trọng tài thương mại quốc tế (European Convention on International Commercial Arbitration of 1961) như sau: “Công ước này sẽ được áp dụng với: (a) Thoả thuận trọng tài được ký kết với mục đích giải quyết tranh chấp phát sinh từ thương mại quốc tế giữa các cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú thường xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau…”. Ngoài ra, tiêu chí quốc tịch của các bên cũng được Thuỵ Sĩ sử dụng để quyết định đó có phải là một vụ kiện trọng tài “quốc tế” hay không.
Cụ thể, theo pháp luật Thuỵ Sĩ, một kiện trọng tài sẽ được coi là “quốc tế” nếu vào thời điểm thoả thuận trọng tài được ký kết, có ít nhất một trong các bên không cư trú hoặc thường trú tại Thuỵ Sĩ.21 Bên cạnh việc xem xét riêng lẻ từng tiêu chí bản chất của tranh chấp và đặc điểm của chủ thể, Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài quốc tế (UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration – Luật Mẫu) đã sử dụng kết hợp cả hai tiêu chí này để xác định tính “quốc tế” của trọng tài. Cụ thể, Luật Mẫu quy định một vụ kiện trọng tài là quốc tế nếu: (i) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh tại các nước khác nhau22; hoặc (ii) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia23. Ngoài hai trường hợp này, các bên còn có quyền tự do thỏa thuận với nhau rằng vấn đề chính của thỏa thuận trọng tài là “quốc tế”24. Như vậy, tính “quốc tế” trong trọng tài có thể được xác định dựa trên bản chất của vụ tranh chấp và chủ thể tham gia tranh chấp.
Trong phạm vi khoá luận, trọng tài sẽ được coi là có tính “quốc tế” nếu tranh chấp được giải quyết có yếu tố nước ngoài, bao gồm trường hợp bên có quốc tịch khác nhau; địa điểm trọng tài, địa điểm thực hiện các nghĩa vụ chính của bên trong tranh chấp nằm ngoài lãnh thổ quốc gia nơi các bên có địa điểm kinh doanh. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Trọng tài quốc tế là một phương 21 Mark Huleatt-James & Nicholas Gould (1996), International Commercial Arbitration: A hand book, LLP London - New York - Hong Kong, tr. 9 thức giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài với sự tham gia của một bên thứ ba trung lập theo thỏa thuận của các bên và quyết định của bên thứ ba này có tính ràng buộc với các bên tranh chấp. Các nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế Mặc dù hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về trọng tài quốc tế, tuy nhiên có thể chỉ ra một số nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quốc tế như sau: Thứ nhất, nguyên tắc thỏa thuận Nguyên tắc thỏa thuận được coi là nguyên tắc cơ bản và nền tảng để xác định thẩm quyền của trọng tài và được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế về trọng tài cũng như hệ thống pháp luật của các quốc gia.
Nội dung chính của nguyên tắc thỏa thuận là việc quá trình trọng tài phải diễn ra phù hợp với thỏa thuận của các bên tranh chấp. Trọng tài là tổ chức phi quyền lực nhà nước nên không có thẩm quyền đương nhiên để tiến hành tố tụng và ra phán quyết. Chỉ khi các bên tự nguyện và có thoả thuận hợp pháp thì trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.