Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “Hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ 4 – 5 tuổi thông qua các hoạt động lao động” Chương 2. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động lao động Chương 3. Thực nghiệm một số biện pháp hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động lao động 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG HỢP TÁC CỦA TRẺ 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu việc hình thành kỹ năng hợp tác của trẻ thông qua hoạt động lao động Kỹ năng hợp tác là một trong những kỹ năng sống quan trọng. Kỹ năng hợp tác giúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, đặc biệt là kỹ năng hợp tác trong lao động. Kỹ năng này cần được rèn luyện ngay từ tuổi mầm non. Bởi trong lao động hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức như: tinh thần tập thể, kiên trì, trách nhiệm, ý thức… Chính vì thế, việc hình thành kỹ năng hợp tác của con người trong lao động đã được rất nhiều nhà Tâm lý - Giáo dục nghiên cứu và quan tâm.
Những nghiên cứu trên thế giới: 1. Nghiên cứu về dạy học hợp tác và việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ MN a. Nghiên cứu về dạy học hợp tác: - George Bernard Shaw, nhà soạn kịch nổi tiếng người anh, từng đoạt giải nobel văn học đã nói: “Bạn có một quả táo, tôi có một quả táo, chúng ta trao đổi với nhau thì bạn và tôi mỗi người có một quả táo. Nhưng nếu bạn có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng và chúng ta trao đổi ý tưởng cho nhau, thì tôi và bạn mỗi người có hai ý tưởng”.
Phát triển tư tưởng của Bernard Shaw, dạy học hợp tác đã và đang là một trong những xu hướng phát triển mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáo dục thế kỹ XXI. Dạy học họp tác góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nó không chỉ giúp cho người học nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực giao tiếp và khả năng hợp tác – một trong những phẩm chất cần thiết quan trọng của con người mới trong giai đoạn hiện nay. 7 Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu. Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amôt Komenxki (1592 - 1670) tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình.
Các nhà giáo dục tiên tiến đều đã nói đến lợi tích của việc học HTHT, HS học với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập thuận lợi. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ, họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt. Ý tưởng HTHT được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch.
Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục học sinh một cách dân chủ. Dạy học hợp tác được áp dụng ở các nước Phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Bel và các thầy giáo đã đưa ra hình thức dạy học tương trợ. Với hình thức dạy học này, người học được chia ra thành từng nhóm hoạt động, giáo viên tạo điều kiện cho người học được cùng nhau trò chuyện, đàm thoại, hợp tác chia sẻ, giúp đỡ nhau tìm hiểu, khám phá đối tượng nhận thức nhằm hình thành và phát triển kỹ năng hợp tác cho người học đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học.
John Dewey, nhà giáo dục theo xu hướng thực dụng mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế dạy học hợp tác và đầu những năm 1900. Nếu như trước đây người ta quan niệm giáo dục là quad trình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, hoặc một quá trình khai sáng giúp con người sử dụng có hiệu quả vốn kiến thức của mình; thì John Dewey lại có một quan niệm khá 8 độc đáo: Gióa dục là chính bản than cuộc sống của mỗi người (Education is life itself). Ông luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục và coi giáo dục như là một phương tiện dạy cho con người cách sống hợp tác trong một xã hội dân chủ J. Dewey cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường.
Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [98, tr. Elliot aronson (Mỹ) với mô ình lớp học Jigsawđầu tiên (1978) đã có những đóng góp lớn trong việc hoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác. Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho thấy rằng, thành tích cá nhân cũng như tập thể luôn cao hơn khi mọi người hợp tác với nhau thay vì ganh đua. Bởi vì kết quả cạnh tranh khiến cho một người thành công trên thất bại của người khác và đương nhiên điều đó sẽ làm giảm hiệu quả làm việc; Mặc khác môi trường cạnh tranh chú trọng vào việc thúc đẩy người ta làm việc xuất sắc hơn người khác, chứ không phải là cùng nhau làm việc tốt Theo Alfie Koln , nguyên nhân khiến cho hợp tác luôn đem lại kết quả cao hơn so với cạnh tranh, là vì tư tưởng cạnh tranh (chỉ có được hoặc mất) sẽ làm cho người ta căng thẳng và lo lắng hơn trong cuộc đua còn trong môi trường hợp tác, mọi người đều muốn làm việc và giúp đỡ lẫn nhau để cùng đạt được mục đích.
Với rất nhiều công trình nghiên cứu từ năm 1981đến năm 1989 về giáo dục hợp tác, D.Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng giáo dục hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thức giáo dục khác (Từ tiểu học đến phổ thong trung học). Đến năm 1996, lần đầu tiên phương pháp dạy học hợp tác được đưa vào chương trình học chính thức hằng năm của một số trường đại học ở Mỹ Khởi đầu các công trình nghiên cứu của mình về học hợp tác, từ năm 1975-1991 hai tác giả D. Johnson đã cho xuất bản cuốn “Học 9 cùng nhau và học độc lập”. Các tác giả đã chỉ ra và phân tích những yếu tố cơ bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt, sự có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các kỹ năng nhóm nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm.
Các tác giả cũng phân tích được vai trò và mối quan hệ trong ba mô hình học tập: hợp tác, tranh đua và cá nhân [18]. Họ cho rằng: sự hợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm. Sự hợp tác phụ thuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm. Mỗi người chỉ có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành công.
Cooper, và các tác giả khác (1990) cho rằng: học tập hợp tác là một chiến lược học tập có cấu trúc, có chỉ dẫn một cách hệ thống, được thực hiện cùng nhau trong các nhóm nhỏ, nhằm đạt được nhiệm vụ chung Theo D.Johnson & Holubec (1988): Học tập hợp tác là những hoạt động học tập mà học sinh thực hiện cùng nhau trong các nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học. Có 5 đặc điểm quan trọng nhất mà mỗi giờ học hợp tác phải đảm bảo được: Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân; sự tác động tương hỗ; các năng lực xã hội; đánh giá trong các nhóm; đánh giá trong các nhóm. Những năm gần đây, David W.Johnson và Roger T.Johnson thuộc trường đại học Minnesota, Robert Slavin thuộc viện Johns Hopkins cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển giáo dục hợp tác thành một trong những phương pháp dạy học hiện đại nhất hiện nay b. Nghiên cứu về hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ MN: Vào những năm 30 của thế kỷ XX, trường phái Tâm lý học Xô Viết, đi đầu là các nhà Tâm lý học như: L.
Leonchep… các nhà Tâm lý học này đã đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội về trò chơi trẻ em và bắt đầu đề cập đến tính hợp tác trong trò chơi. Vưgotxky cho rằng: mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn là những đặc điểm quan trọng của sự phát triển. Xuất phát từ quan điểm này, ông đã nhấn mạnh sự cần thiết của sự thỏa thuận và hợp tác với bạn bè trong trò chơi. Ông cho rằng chính sự hợp tác này đã “đẩy” sự hiểu biết và nhận biết của trẻ vượt ra ngoài phạm vi chức năng phát triển bình thường [43, 281-305].
Trong quyển “Tâm lý học trò chơi” của tập thể các nhà Tâm lý - Giáo dục Xô viết, tác giả D. Enconhin đã tổng hợp các thành tựu cơ bản nghiên cứu về trò chơi. Trong trò chơi - thực hành việc phối hợp các hoạt động chơi mang tính tập thể… dần hình thành tính hợp tác với bạn bè trong khi chơi Trong quyển “Tâm lý học trẻ em” của tác giả Anna Lyulin Skaja, bà khẳng định “Trong dạng thức phát triển nhất của nó, chơi là một hoạt động tập thể, những trẻ tham gia trò chơi gắn bó với nhau trong quan hệ hợp tác” [44, 151]. Như vậy, vấn đề nghiên cứu, về việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ là vấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục mầm non.
Những nghiên cứu về lao động và vai trò của nó đối với việc hình thành KNHT Những tư tưởng của L.S Vưgôtxki (1986 – 1934) có ý nghĩa đối với sự phát triển tâm lý học trẻ em xô viết. Lý luận về sự phát triển chức năng tâm lý bậc cao của ông là một cống hiến quan trọng. Nó được hình thành trong những năm 20 – 30. Vưgôtxki đã nêu lên tư tưởng cho rằng, lao động, hoạt động có công cụ làm biến đổi kiểu hành vi của con người, khiến cho con người khác với động vật.