Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) là chủ trương chiến lược được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, thể hiện xuyên suốt qua Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Quyết định phê duyệt dự án ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc "Đưa các nội dung bảo vệ MT vào hệ thống giáo dục quốc dân". Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách, tạo lập các phản xạ, thói quen và kỹ năng sống ban đầu của mỗi cá nhân đối với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh.
Hoạt động ngoài trời tại trường mầm non sở hữu ưu thế vượt trội khi cung cấp không gian mở, không khí trong lành và các tình huống thực tiễn phong phú để trẻ 5-6 tuổi được trực tiếp quan sát, tiếp xúc, trải nghiệm với thiên nhiên (cây cỏ, cát, sỏi, nước, không khí). Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả giáo dục BVMT thông qua hoạt động ngoài trời tại các trường mầm non vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế; đa số giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp và chưa biết cách phối hợp linh hoạt các biện pháp sư phạm nhằm kích thích tính tích cực của trẻ.
Từ thực tiễn nêu trên, đề tài "Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời cho trẻ ở trường mầm non" được tác giả Lê Thị Hồng Minh thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Hồ Sỹ Hùng tại Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa, tháng 5/2018).
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 nội dung trọng tâm:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục BVMT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời ở trường mầm non.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục BVMT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa.
- Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm và tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng hiệu quả tác động của các biện pháp đã đề ra.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục BVMT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua việc tổ chức hoạt động ngoài trời ở trường mầm non.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn tại 3 trường mầm non thuộc địa bàn Thành phố Thanh Hóa: Trường Mầm non 27-2 (phường Đông Vệ), Trường Mầm non Quảng Thành (phường Quảng Thành) và Trường Mầm non An Hoạch (phường An Hoạch).
- Phạm vi khách thể khảo sát: Khảo sát trên 40 giáo viên mầm non và 120 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại 3 trường nêu trên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện quốc tế và công trình nghiên cứu chuyên ngành:
- Khung khái niệm và cơ sở pháp lý: Phân tích khái niệm môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp); khái niệm bảo vệ môi trường theo Điều 6 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam; khái niệm giáo dục BVMT cho trẻ mầm non.
- Tiến trình lịch sử nghiên cứu quốc tế: Tổng thuật các mốc phát triển chính từ Hội nghị Stockholm (1972), Hội nghị Belgrade (1975) với Hiến chương về giáo dục BVMT, Hội nghị liên Chính phủ Tbilisi (1977) với 41 khuyến nghị chiến lược, Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" (WCED 1987), đến Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro (1992).
- Tổng quan nghiên cứu trong nước: Kế thừa các đề tài và dự án của Viện Khoa học Giáo dục (1996, 1998-2000), Trường Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo Trung ương 1 (1998-2003), đề tài nghiên cứu cấp Bộ của TS. Lê Thanh Vân (2003-2004), cùng các tài liệu trò chơi khám phá môi trường của TS. Hồ Lam Hồng, TS. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Bích Ngọc, Nhật Minh.
- Nội dung giáo dục BVMT cốt lõi cho trẻ 5-6 tuổi: Được tổng hợp thành 3 nhóm hành vi:
- Hành vi giữ gìn môi trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp.
- Hành vi sử dụng nguyên vật liệu, thực phẩm, năng lượng tiết kiệm, tránh lãng phí.
- Hành vi chăm sóc, bảo vệ vật nuôi và cây trồng.
Tác giả đã triển khai kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa các nguồn tài liệu lý luận trong và ngoài nước.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket): Thu thập dữ liệu từ 40 giáo viên mầm non về nhận thức, mức độ sử dụng biện pháp và khó khăn gặp phải.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát quy trình tổ chức hoạt động ngoài trời của giáo viên và biểu hiện hành vi của trẻ.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và trẻ về các vấn đề liên quan đến môi trường.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm và đối chứng tại Trường Mầm non Quảng Thành để kiểm định tính khả thi của các biện pháp.
- Phương pháp thống kê toán học: Phân tích định lượng dữ liệu thu thập qua các chỉ số: tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$) và kiểm định $t$-Student ($T$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục BVMT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ ở trường mầm non
Chương 1 hệ thống hóa các luận điểm khoa học về giáo dục BVMT ở lứa tuổi mầm non, xác định bản chất của hoạt động ngoài trời và mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục môi trường với sự phát triển toàn diện của trẻ:
- Vai trò đối với các mặt phát triển: Giáo dục BVMT trực tiếp thúc đẩy phát triển trí tuệ (hoàn thiện giác quan, mở rộng biểu tượng tự nhiên, phát triển tư duy logic), thể chất và lao động (rèn luyện kỹ năng tự phục vụ, vận động thô và tinh), tình cảm đạo đức (tình yêu thiên nhiên, tinh thần trách nhiệm), thẩm mỹ (cảm thụ cái đẹp của tự nhiên) và ngôn ngữ.
- Đặc điểm hoạt động ngoài trời: Là phương tiện thỏa mãn nhu cầu vận động, giải tỏa năng lượng và mở rộng khả năng giao lưu xã hội. Trẻ được tiếp xúc trực tiếp với các hiện tượng thiên nhiên, quan sát sự biến đổi của môi trường sống, từ đó chuyển hóa tri thức cảm tính thành ý thức tự giác.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích 3 nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả giáo dục BVMT gồm: đặc điểm tâm sinh lý và năng lực nhận thức của trẻ; trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và tính gương mẫu của giáo viên; sự phối hợp và môi trường giáo dục từ phía gia đình.
Chương 2: Thực trạng giáo dục BVMT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hằng ngày ở trường MN
Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại 3 trường mầm non (MN 27-2, MN Quảng Thành, MN An Hoạch) với mẫu 40 giáo viên (37,5% trình độ Đại học, 50% Cao đẳng, 12,5% Trung cấp; thâm niên từ 3 đến 20 năm) và khảo sát thực tế trên trẻ 5-6 tuổi:
- Nhận thức của giáo viên: 100% giáo viên khẳng định giáo dục BVMT qua hoạt động ngoài trời là cần thiết (trong đó 75% đánh giá "Rất cần thiết", 25% đánh giá "Cần thiết", 0% đánh giá "Không cần thiết").
| STT |
Biện pháp giáo dục BVMT |
Mức độ Thường xuyên (SL / %) |
Mức độ Thỉnh thoảng (SL / %) |
Mức độ Hiếm khi (SL / %) |
| 1 |
Sử dụng tranh ảnh |
20 (50,0%) |
20 (50,0%) |
0 (0,0%) |
| 2 |
Sử dụng mẫu hành vi thực |
13 (32,5%) |
27 (67,5%) |
0 (0,0%) |
| 3 |
Đàm thoại |
30 (75,0%) |
10 (25,0%) |
0 (0,0%) |
| 4 |
Sử dụng thơ truyện, bài hát, câu đố |
9 (22,5%) |
31 (77,5%) |
0 (0,0%) |
| 5 |
Làm thí nghiệm đơn giản |
7 (17,5%) |
21 (52,5%) |
12 (30,0%) |
| 6 |
Sử dụng trò chơi |
22 (55,0%) |
15 (37,5%) |
3 (7,5%) |
| 7 |
Đánh giá |
30 (75,0%) |
10 (25,0%) |
0 (0,0%) |
- Khó khăn của giáo viên: Khó khăn lớn nhất là tìm kiếm các biện pháp giáo dục BVMT hiệu quả (70,0%), tiếp theo là áp lực về hạn chế thời gian (50,0%), thiếu thốn điều kiện cơ sở vật chất (35,0%), sự bất cập trong phối hợp với phụ huynh (27,5%) và thiếu kinh nghiệm tổ chức (20,0%).
- Thực trạng hành vi BVMT của trẻ: Khảo sát trên 40 trẻ theo thang điểm 15 (3 tiêu chí: nhận biết vấn đề MT, đề xuất biện pháp, thực hiện hành vi) cho thấy: Giỏi chiếm 17,5% (7 trẻ); Khá chiếm 27,5% (11 trẻ); Trung bình chiếm 32,5% (13 trẻ); Yếu chiếm 22,5% (9 trẻ). Hành vi giữ vệ sinh ngăn nắp và chăm sóc cây xanh đạt mức độ tốt cao hơn (lần lượt 27,5% và 25,0%), trong khi hành vi phản ứng với các việc làm xấu gây hại môi trường đạt mức tốt rất thấp (7,5%), đa số ở mức trung bình (45,0%) và yếu (30,0%).
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp và thực nghiệm để kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp đã đề ra
Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm dựa trên 3 nguyên tắc chỉ đạo: (1) Giáo dục BVMT phải xuất phát từ cuộc sống thực của trẻ và sử dụng chính cuộc sống thực để giáo dục; (2) Thực hiện theo quan điểm tích hợp; (3) Thực hiện theo quan điểm hoạt động.
Nội dung các biện pháp sư phạm cụ thể:
- Tích hợp các nội dung giáo dục BVMT thông qua các chủ đề: Lồng ghép kiến thức và hành vi BVMT vào các chủ đề quen thuộc như: Trường mầm non thân yêu của bé (thu dọn đồ chơi, không bẻ cành), Bản thân bé (vệ sinh cá nhân, tiết kiệm nước khi rửa tay), Gia đình thân yêu của bé (tắt điện khi ra khỏi phòng, giữ sạch nhà cửa), Thế giới thực vật (gieo hạt trong vỏ hộp sữa chua, tưới cây, bảo vệ rừng), Thế giới động vật (quan sát cá sống trong bình nước sạch - nước bẩn), Phương tiện giao thông (đeo khẩu trang, nhận biết khói bụi gây ô nhiễm), Một số hiện tượng tự nhiên (phân biệt nước sạch - nước bẩn, thí nghiệm sự kỳ diệu của không khí).
- Xây dựng môi trường thuận lợi, hấp dẫn kích thích trẻ tích cực hướng vào mẫu hành vi BVMT: Quy trình triển khai 2 bước gồm:
- Bước 1: Khảo sát môi trường và điều chỉnh bố trí đồ dùng, thùng rác, xô chậu, xẻng, góc thiên nhiên phù hợp tầm vóc của trẻ.
- Bước 2: Thiết kế và sử dụng các phương tiện trực quan (tranh ảnh, video, mô hình tái chế từ phế liệu) dán/treo tại các vị trí sinh hoạt tương ứng như cửa ra vào, khu vực rửa tay, góc thiên nhiên.
- Tạo tình huống cho trẻ tích cực luyện tập nội dung BVMT trong hoạt động ngoài trời: Đưa trẻ vào các tình huống thực tiễn như nhặt lá khô làm đồ chơi, phát hiện vòi nước rò rỉ, tưới cây ở góc thiên nhiên, phân loại rác sân trường.
- Hình thành ý thức BVMT cho trẻ thông qua việc đánh giá và tự đánh giá cuối hoạt động: Tạo điều kiện cho trẻ nhận xét hành vi của mình và của bạn, củng cố các hành vi đúng và điều chỉnh hành vi sai.
Chương này cũng xác định quy trình thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Quảng Thành nhằm so sánh định lượng kết quả trước và sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp cụ thể thực trạng nhận thức, kỹ năng thực hành BVMT của trẻ 5-6 tuổi và hệ thống hóa nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao:
| Khó khăn giáo viên gặp phải |
Tỷ lệ (%) |
Thực trạng hành vi của trẻ theo nội dung |
Tỷ lệ loại Tốt (%) |
Tỷ lệ loại Yếu (%) |
| Tìm kiếm biện pháp GD BVMT |
70,0% |
Hành vi tiết kiệm điện, nước |
10,0% |
22,5% |
| Hạn chế về quỹ thời gian |
50,0% |
Hành vi bảo vệ nguồn nước |
22,5% |
20,0% |
| Cơ sở vật chất thiếu thốn |
35,0% |
Hành vi giữ vệ sinh công cộng |
12,5% |
- |
| Khó khăn phối hợp phụ huynh |
27,5% |
Hành vi giữ vệ sinh gọn gàng, ngăn nắp |
27,5% |
- |
| Thiếu kinh nghiệm tổ chức |
20,0% |
Hành vi bảo vệ cây xanh |
25,0% |
12,5% |
| Nhận thức của trẻ còn hạn chế |
10,0% |
Phản ứng với việc làm xấu đối với MT |
7,5% |
30,0% |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các khía cạnh:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa và các nguyên tắc sư phạm cốt lõi khi tổ chức giáo dục BVMT cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) thông qua hình thức hoạt động ngoài trời.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ tiêu chí đánh giá hành vi BVMT gồm 3 chỉ báo rõ ràng (nhận biết, đề xuất giải pháp, thực hiện hành vi); thiết kế quy trình tổ chức chi tiết các hoạt động giáo dục BVMT tích hợp theo 7 chủ đề giáo dục mầm non, có tính ứng dụng trực tiếp cho giáo viên đứng lớp.
- Kiến nghị sư phạm: Đề xuất Ban giám hiệu các trường mầm non tăng cường bồi dưỡng chuyên môn về giáo dục môi trường cho đội ngũ giáo viên; đầu tư trang thiết bị, phương tiện trực quan ngoài trời; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và cha mẹ học sinh để thống nhất hành vi BVMT của trẻ tại gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi điều tra thực trạng và tiến hành thực nghiệm mới chỉ thực hiện tại 3 trường mầm non công lập thuộc khu vực đô thị (Thành phố Thanh Hóa); việc tổ chức hoạt động ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện thời tiết; quy mô mẫu khảo sát giáo viên ($n = 40$) chưa bao quát được các loại hình trường mầm non ngoài công lập hoặc khu vực nông thôn, miền núi.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu ứng dụng hệ thống biện pháp giáo dục BVMT cho các độ tuổi nhỏ hơn (trẻ 3-4 tuổi và 4-5 tuổi); xây dựng bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự duy trì thói quen BVMT của trẻ khi bước vào lớp 1 trường tiểu học.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực tiễn, phương pháp xây dựng phiếu hỏi an-két, hệ thống tiêu chí đánh giá hành vi và cách thức xử lý số liệu thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non.
- Giáo viên mầm non: Vận dụng trực tiếp các kịch bản tích hợp nội dung BVMT theo từng chủ đề bài học, phương pháp làm đồ dùng đồ chơi trực quan từ nguyên vật liệu tái chế và cách thức tổ chức các tình huống luyện tập ngoài trời.
- Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Sử dụng làm căn cứ tham khảo để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ giáo dục BVMT cho giáo viên các trường mầm non.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xác định nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi gồm những nhóm hành vi nào?
Nội dung giáo dục BVMT trong khóa luận được cấu thành từ 3 nhóm hành vi: (1) Hành vi giữ gìn môi trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp (vứt rác đúng nơi quy định, cất đồ chơi gọn gàng, lau chùi quét dọn); (2) Hành vi sử dụng nguyên vật liệu, thực phẩm tiết kiệm, tránh lãng phí (tiết kiệm điện, nước, đồ dùng sinh hoạt); (3) Hành vi chăm sóc, bảo vệ vật nuôi và cây trồng (tưới cây, nhổ cỏ, không bẻ cành hái hoa).
2. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên mầm non gặp phải khi giáo dục BVMT cho trẻ là gì?
Theo kết quả khảo sát 40 giáo viên tại Bảng 1.4, khó khăn lớn nhất là việc tìm kiếm các biện pháp giáo dục BVMT phù hợp (chiếm 70,0%), tiếp theo là hạn chế về quỹ thời gian tổ chức hoạt động (50,0%) và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường (35,0%).
3. Thang điểm và tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện hành vi BVMT của trẻ được xây dựng như thế nào?
Tác giả xây dựng thang điểm tối đa là 15 điểm, dựa trên 3 tiêu chí (mỗi tiêu chí tối đa 5 điểm): (1) Trẻ nhận biết các vấn đề về môi trường và hiểu được hành vi bảo vệ môi trường; (2) Trẻ tự đề xuất biện pháp BVMT phù hợp; (3) Trẻ thực hiện hành vi BVMT có hiệu quả. Kết quả phân loại gồm: Giỏi (12-15 điểm), Khá (10-12 điểm), Trung bình (8-10 điểm) và Yếu (< 6 điểm).
4. Khảo sát thực trạng cho thấy hành vi BVMT nào của trẻ đạt tỷ lệ tốt cao nhất và thấp nhất?
Theo Bảng 1.6, hành vi đạt tỷ lệ loại tốt cao nhất là giữ gìn vệ sinh gọn gàng, ngăn nắp (27,5%) và bảo vệ cây xanh (25,0%) do được rèn luyện thường xuyên trên lớp. Hành vi có tỷ lệ loại tốt thấp nhất là phản ứng với những việc làm xấu đối với môi trường (chỉ đạt 7,5%), phần lớn trẻ chỉ đạt mức trung bình (45,0%) và yếu (30,0%) do sự nhút nhát và tâm lý chưa dám bày tỏ chính kiến.
5. Các biện pháp sư phạm được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nào?
Khóa luận xác lập 3 nguyên tắc sư phạm bắt buộc: (1) Giáo dục BVMT phải xuất phát từ cuộc sống thực của trẻ và sử dụng chính cuộc sống thực để giáo dục; (2) Giáo dục BVMT phải được thực hiện theo quan điểm tích hợp (lồng ghép đan cài vào các môn học và hoạt động sinh hoạt); (3) Giáo dục BVMT phải được thực hiện theo quan điểm hoạt động (trẻ phải trực tiếp hành động để lĩnh hội tri thức và hình thành thói quen).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hồng Minh đã giải quyết trọn vẹn cả về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại trường mầm non. Thông qua dữ liệu điều tra thực trạng tại 3 trường mầm non trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa, công trình đã chỉ rõ những khó khăn của giáo viên cũng như mức độ hình thành các kỹ năng môi trường ở trẻ. Hệ thống 4 nhóm biện pháp sư phạm mang tính tích hợp, hoạt động và gắn liền với thực tiễn đời sống được đề xuất là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phát triển toàn diện.