CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU.15 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Đối tượng nghiên cứu:. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:. Thiết kế nghiên cứu:.
Phương pháp chọn mẫu:. Phương pháp thu thập số liệu:. Xử lý và phân tích số liệu:. Các biến số nghiên cứu:.
Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.49 CHƯƠNG 3: KÉT QUẢ NGHIÊN cứu.50 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN.85 CHƯƠNG 5: KÉT LUẬN.98 CHƯƠNG 6: KHUYÊN NGHỊ.101 TÀI LIỆU THAM KHẢO.103 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Một số kết quả nghiên cứu mô tả và phân tích Phụ lục 2: Phiếu điều tra Phụ lục 3: Ke hoạch nghiên cứu và dự trù kinh phí phục vụ nghiên cứu. Phụ lục 4: Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu. Phụ lục 5: Sơ đồ chăm sóc trước sinh DANH MỤC BẢNG, BIẺU ĐỒ Trang Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.50 Bảng 2: Kiến thức của nam giới về chăm sóc trước sinh.52 Biểu đồ 1: Hiểu biết của nam giới về các biện pháp chăm sóc PNMT.52 Bảng 3: Kiến thức của nam giới về cho con bú sớm.
33 Biểu đồ 2: Hiểu biết của nam giới về lợi ích của việc cho bú sớm đối với trẻ.53 Bảng 4: Kiến thức của nam giới về NCBSM hoàn toàn.54 Biểu đồ 3: Hiểu biết của nam giới về lợi ích của việc NCBSM HT.55 Biểu đồ 4: Hiểu biết của nam giới về cách duy trì nguồn sữa mẹ.55 Bảng 5: Kiến thức của nam giới về việc cho trẻ bú tiếp tục.56 Biểu đồ 5: Phân bố tổng điểm kiến thức về NCBSM của nam giới.57 Biểu đồ 6: Thái độ của nam giới với một số quan niệm về chăm sóc PNMT.58 Bảng 6: Thái độ của nam giới với việc chăm sóc người vợ khi mang thai.58 Biểu đồ 7: Thái độ của nam giới với một số quan niệm về việc cho con bú sớm.59 Bảng 7: Thái độ của nam giới với việc cho trẻ bú sớm sau sinh.60 Bảng 8: Thái độ của nam giới với việc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu.61 Biểu đồ 8: Thái độ của nam giới với một số quan niệm về NCBSMHT.62 Bảng 9: Thái độ với việc hỗ trợ của người cha trong việc NCBSM và chăm sóc trẻ.62 Bảng 10: Thái độ với một số tác động bên ngoài đến NCBSM.63 Biểu đồ 9: Phân bố tổng điểm thái độ về NCBSM của nam giới.65 Bảng 11: Vai trò của người chồng trong việc hỗ trợ vợ đi khám thai.66 Biểu đồ 10: Những nội dung nam giới được tư vấn khi đưa vợ đi khám thai.67 Bảng 12: Vai trò của người chồng trong việc chăm sóc người vợ mang thai tại GĐ.67 Biểu đồ 11: Phân bố tổng điểm thực hành chăm sóc PNMT tại hộ GĐ.69 Biểu đồ 12: Sự tiếp cận các nguồn thông tin về NCBSM của nam giới.70 Biểu đồ 13: Tỷ lệ điểm KT trên TB theo TĐ học vấn, nghề nghiệp và nơi cư trú.71 Bảng 13: Mối liên quan giữa một số yếu tố với kiến thức về NCBSM của nam giới.71 Biểu đồ 14: Mối liên quan giữa sự tiếp cận thông tin và KT về NCBSM.73 Bảng 14: Một số yếu tố liên quan với thái độ về NCBSM của nam giới.74 Biểu đồ 15: Sự tiếp cận thông tin và TĐ về NCBSM của nam giới.75 Bảng 15: Một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc PNMT tại hộ GĐ.76 Biểu đồ 16: Mối liên quan giữa KT, TĐ về NCBSM và TH cs PNMT tại hộ GĐ.78 Bảng 16: Các yếu tố liên.quan đến kiến thức về NCBSM của nam giới 80 Bảng 17: Các yểu tố liên.quan đến thái độ về NCBSM của nam giới. 81 Bảng 18: Các yếu tố liên quan đến sự tham gia vào chăm sóc PNMT của nam giới. 83 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CBYT Cán bộ y tể ĐTV Điều tra viên GSV Giám sát viên KAP Kiến thức, thái độ, thực hành (Knowledge - Attitude - Practice) NC Nghiên cứu NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ NCBSMHT Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn PV Phỏng vấn PVV Phỏng vấn viên PNMT Phụ nữ mang thai SDD Suy dinh dưỡng SM Sữa mẹ THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông. TT Truyền thông UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (United Nations Children’s Found) WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization) TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là một biện pháp tự nhiên, tiện lợi, an toàn, kinh tế và hiệu quả để bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em.
Tuy nhiên, theo kêt quả điều tra, tỷ lệ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh ở nước ta là 58%, và chỉ có khoảng 17% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh các mối liển quan giữa vai trò của người cha trong gia đình và thực hành NCBSM cũng như tình trạng phát triển của trẻ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ và sự tham gia vào chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ mang thai tại • CHILILAB” với mục tiêu mô tả thực trạng và xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về NCBSM và sự tham gia trong việc chăm sóc trước sinh của nam giới có vợ đang mang thai, từ đó đánh giá được vai trò tiềm năng của họ trong việc hỗ trợ NCBSM và chăm sóc trẻ. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2010.
Thiết kế NC cắt ngang phân tích được sử dụng với sự tham gia của 251 đối tượng nam giới là chồng của phụ nữ mang thai từ tuần 9 đến 28. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu kết hợp phỏng vấn và phát phiếu tự điền với bộ câu hỏi có cấu trúc. Kết quả cho thấy các đối tượng có tuổi trung bình là 28, thấp nhất là 19 và cao nhất là 46, 91,2% có học vấn từ cấp II trở lên, 55,4% đang sống chung với bố mẹ hoặc người thân, 62,5% cư trú tại khu vực nông thôn, 72% là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, 60,6 % có vợ đang mang thai lần đầu, 56,2 % có vợ mang thai 3 tháng giữa tại thời điểm NC. Kiến thức của nam giới về các vấn đề liên quan đến chăm sóc PNMT và NCBSM là khá hạn chế.
Đặc biệt là sự hiểu biết liên quan đến số lần cần đi khám thai và các biện pháp chăm sóc cần thiết cho PNMT, lợi ích của việc cho con bú sớm và NCBSM hoàn toàn trong các tháng đầu. 76,1% nam giới có tổng điểm kiến thức nhỏ hơn hoặc bằng 50% ngưỡng điểm tối đa có thể đạt được. Nhìn chung thái độ của nam giới đối với việc chăm sóc trước sinh và NCBSM là tương đối tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 20%-30% nam giới ủng hộ một số quan điểm lạc hậu về vấn đề mang thai và NCBSM.
Bên cạnh đó có gần 60% đối tượng nam giới thể hiện sự thiếu tin tưởng vào việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu và khoảng 30% trong số họ không tôn trọng sự cần thiết phải hỗ trợ phụ nữ trong thời kỳ cho con bú. Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ nam giới đưa vợ đi khám thai là khá cao, tuy nhiên sự tham gia thực sự của họ vào quá trình này là còn hạn chế, tỷ lệ nam giới được cán bộ y tế tư vấn trong quá trình đưa vợ đi khám thai và tỷ lệ nắm được các nội dung mà người vợ được tư vấn khi đi khám thai là rất thấp. Nam giới cho thấy họ tham gia khá tích cực vào quá trình chăm sóc PNMT tại hộ GĐ, đặc biệt là chăm sóc về dinh dưỡng, tinh thần, thể chất và đỡ đần việc nhà. Gần 70 % nam giới nhận thông tin về NCBSM qua các kênh thông tin đại chúng, tuy nhiên chỉ khoảng 10,4% nhận qua cán bộ y tế và 10 % qua các các kênh địa phương.
Phân tích hồi quy đa biến cho thấy sau khi hiệu chỉnh cho các yếu tố cá nhân người chồng và hộ GĐ, nam giới sẽ có kiến thức về NCBSM tốt hơn nếu được tiếp cận thông tin liên quan qua các kênh đại chúng (OR=0,139,302, 95% CI: 0,064- 0,302, P<0,001) hoặc qua cán bộ y tế (OR=0,322, 95% CI: 0,114-0,911, P-0,033) hoặc đã đưa vợ đi khám thai ở lần mang thai hiện tại (OR=0,429, 95% CI: 0,198- 0,931, P=0,033). Kiến thức về NCBSM có mối liên quan dương tính với thái độ về NCBSM (OR=3,194, 95% CI: 1,727-5,907, p< 0,001) và sự tham gia vào chăm sóc PNMT tại HGĐ (OR-2,703, 95% CI: 1,541-4,742, P-0,001) của năm giới. Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị với các chiến lược can thiệp giáo dục và truyền thông đơn giản ít tốn kém, lồng ghép vào hệ thống dịch vụ sẵn có trên các kênh thong tin đại chúng và mạng lưới chăm sóc y tế nhằm giúp tăng cường kiến thức về NCBSM của nam giới, từ đó tác động tích cực đến thực hành NCBSM và chăm sóc trẻ tại các hộ GĐ. - 8- ĐẶT VẤN ĐÈ • Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt của trẻ.
Sữa mẹ cung cấp cho trẻ những chất dinh dưỡng cần thiết, những kháng thể chống bệnh tật giúp trẻ khoẻ mạnh [5],[57]. Trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ sẽ chóng lớn, phát triển đầy đủ về thể lực cũng như trí tuệ [14]. Đối với người mẹ, việc cho con bú giúp nhanh co hồi tử cung, giảm nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng sau đẻ đồng thời làm chậm quá trình mang thai trở lại trong giai đoạn cho con bú [5],[57]. Theo khuyến cáo của WHO, các bà mẹ nên cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh, nuôi trẻ bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung họp lý và bú mẹ kéo dài tới 24 tháng hoặc lâu hơn [58],[59].
Lợi ích của việc NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, gia đình và xã hội đã được thừa nhận. Đã có rất nhiều nhiều bằng chứng cho thấy vai trò của nuôi con bằng sữa mẹ trong việc ngăn ngừa các bệnh tật và giảm tỷ lệ tử vong của trẻ nhỏ [55],[40],[61]. UNICEF ước tính hàng năm việc cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có thể phòng tránh được khoảng 1,3 triệu ca tử vong trong nhóm trẻ dưới năm tuổi [55]. Bên cạnh những lợi ích về mặt y tế, việc nuôi con bằng sữa mẹ còn đem lại lợi ích về kinh tế cho cả gia đình và hệ thống y tế, NCBSM ít tốn kém thời gian, tiền bạc hơn so với nuôi con bằng sữa nhân tạo [5].