Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa đột quỵ não Đột quỵ não là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với những triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24h hoặc tử vong, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não [3]. Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được - Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền. - Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau: + Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1).
+ Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng. + Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ. Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn. + Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em là thấp nhất.
Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được - Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động. - Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp; sau đó, là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác. Phân loại [15] Có 2 dạng đột quỵ thường gặp hiện nay: - Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc cục máu đông có thể hình thành trong các mạch máu của não hoặc trong mạch máu dẫn đến não hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỷ lệ cao trên 80% các ca đột quỵ do thiếu máu cục bộ. - Đột quỵ do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông.
Hình 1: Các dạng đột quỵ - Tùy thuộc vào sự tổn thương của mạch máu não, có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não làm ngưng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc, hoặc do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong mô não gây phá hủy và chèn ép mô não. Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được dẫn đến phần cơ thể vùng não đó chỉ huy cũng không thể hoạt động được. Không giống như nhiều bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái 6 khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não. Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng.
- Khi đột quỵ xảy ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại. Hậu quả của đột quỵ. - Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp. Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh.
Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ mang tàn tật vĩnh viễn. Người bệnh đột quỵ thuộc loại đa tàn tật vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác [20]. Chăm sóc người bệnh đột quỵ. Nhận định - Người bệnh bị đột quỵ thường là một bệnh cấp tính, diễn biến kéo dài, có thể ngày càng nặng dần tuỳ theo nguyên nhân và mức độ tổn thương, nhiều biến chứng rất nguy hiểm có thể đe doạ tính mạng người bệnh nếu chúng ta không điều trị và chăm sóc chu đáo.
Vì vậy, người điều dưỡng khi tiếp xúc với người bệnh cần phải nhẹ nhàng, ân cần và biết thông cảm. * Hỏi bệnh: + Trạng thái tinh thần của người bệnh: lo lắng, sợ hãi. + Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp? + Có đi lại được không? + Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp như thế nào? + Các bệnh tim mạch đã mắc? + Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chưa? 7 + Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không? + Gần đây nhất có dùng thuốc gì không? + Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không? + Khả năng nói của người bệnh? + Có bị bệnh thận trước đây không? + Có hay bị sang chấn gì không? + Tình trạng đi tiểu: số lượng và màu sắc? * Đánh giá bằng quan sát: + Tình trạng tinh thần của người bệnh: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê. + Quan sát vận động tay chân của người bệnh.
+ Quan sát các tổn thương trên da. + Tình trạng miệng và mặt có bị méo không? + Tuổi trẻ hay lớn tuổi? + Tự đi lại được hay phải giúp đỡ? + Người bệnh mập hay gầy? + Có bị phù không? + Tình trạng đại và tiểu tiện của người bệnh. + Các dấu hiệu khác. * Thăm khám người bệnh: + Quan trọng là đo dấu hiệu sống, trong đó huyết áp là dấu hiệu quan trọng nhất.
Phải chú ý đến cả huyết áp tối đa và tối thiểu. + Khám các dấu hiệu thần kinh khu trú. + Khám dấu cơ lực và trương lực của người bệnh. Khám mắt và các thương tổn khác.
+ Ngoài ra cần chú ý các dấu chứng khác như: tình trạng tim mạch, các dấu ngoại biên, số lượng nước tiểu, tình trạng phù. * Tham khảo hồ sơ bệnh án + Kiểm tra các xét nghiệm, các thuốc và cách sử dụng các thuốc nếu có. + Thu thập thông tin qua gia đình, hồ sơ bệnh án. Chẩn đoán điều dưỡng + Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở người bệnh bị đột quỵ: + Nhức đầu do tăng huyết áp.
+ Mất khả năng vận động do liệt. + Khả năng giao tiếp bằng lời giảm do đột quỵ. + Nguy cơ loét ép do chăm sóc không tốt. + Nguy cơ nhiễm trùng hô hấp do nằm lâu.
Lập kế hoạch chăm sóc Qua khai thác các dấu chứng trên giúp cho người điều dưỡng có được các chẩn đoán điều dưỡng. Người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác định nhu cầu cần thiết của người bệnh, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc cụ thể. Khi lập kế hoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng người bệnh, đề xuất vấn đề ưu tiên, vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau tuỳ từng trường hợp cụ thể. * Chăm sóc cơ bản: + Để người bệnh nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao, nằm nghiêng về một bên.
+ Giải thích cho người bệnh và gia đình về tình trạng bệnh tật. + Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi. + Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày. + Hướng dẫn gia đình tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, biểu hiện bất thường.
* Thực hiện các y lệnh: + Cho người bệnh uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định. + Làm các xét nghiệm cơ bản. * Theo dõi: + Tình trạng đột quỵ: tinh thần, vận động. + Theo dõi các nguyên nhân gây đột quỵ.
+ Theo dõi một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt. 9 + Theo dõi tác dụng phụ của thuốc. + Theo dõi các biến chứng. + Giáo dục sức khoẻ: + Người bệnh và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi gây đột quỵ cũng như cách phát hiện các hiệu dấu đột quỵ, cách phòng, điều trị và theo dõi người bệnh đột quỵ.
Thực hiện kế hoạch chăm sóc Đặc điểm của người bệnh đột quỵ là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần. Bệnh để lại di chứng rất nặng nề nếu không được điều trị và chăm sóc một cách đúng đắn. Người bệnh có thể tử vong do những biến chứng của bệnh, hoặc do tai biến điều trị. * Thực hiện chăm sóc cơ bản: + Đặt người bệnh nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên.
+ Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ. + Vận động và xoa bóp tay chân. + Thay đổi tư thế 2 giờ lần. + Động viên, trấn an người bệnh để người bệnh an tâm điều trị.
+ Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp. + Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để theo dõi có thể từ 15 phút cho đến 2 giờ đo một lần. + Hút đờm dãi khi có ứ đọng đờm dãi. + Luôn giữ ấm cơ thể người bệnh.
+ Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g/ngày, hạn chế mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc. Đặt sonde dạ dày nuôi dưỡng nếu người bệnh không có khả năng nuốt. + Tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh. + Vệ sinh sạch sẽ: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho người bệnh: áo quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ.
10 + Chăm sóc chống loét bằng đệm hơi hoặc đệm nước, xoay trở người mỗi 2 giờ kèm xoa bóp, tránh viêm phổi (ứ đọng đờm dễ gây viêm phổi) bằng vỗ rung ngực. Chống nhiễm trùng hô hấp hoặc đường tiểu do sonde tiểu. * Thực hiện các y lệnh: + Thuốc dùng: thực hiện đầy đủ các y lệnh khi dùng thuốc, như: các thuốc tiêm, thuốc uống. Trong quá trình dùng thuốc nếu có bất thường phải báo bác sĩ biết.