Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế. - Chương 2: Phân tích thực trạng kiểm tra của Tổng cục Thuế đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm tra của Tổng cục Thuế đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA CỦA CƠ QUAN THUẾ TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI VIỆC QUẢN LÝ NỢ THUẾ CỦA CÁC CỤC THUẾ 1.
Quản lý nợ thuế của cục thuế 1. Khái niệm quản lý nợ thuế của cục thuế Phan Hữu Nghị và Nguyễn Thị Bất (2020) cho rằng “thuế là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc và là nguồn thu chủ yếu của NSNN”. Quốc hội (2019) quy định “thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế”; “Tiền thuế nợ là tiền thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu mà NNT chưa nộp NSNN khi hết thời hạn nộp theo quy định”. Theo Tổng cục Thuế (2022) thì quản lý nợ thuế của cục thuế là việc cục thuế xây dựng và thực hiện chỉ tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT có nghĩa vụ nộp vào NSNN.
Từ các khái niệm và quy định trên có thể định nghĩa quản lý nợ thuế của cục thuế là việc cục thuế xây dựng và thực hiện chỉ tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT có nghĩa vụ nộp vào NSNN. Quy trình quản lý nợ thuế của cục thuế Theo Tổng cục Thuế (2022), quy trình quản lý nợ thuế của cục thuế được thực hiện theo các nội dung sau: - Xây dựng chỉ tiêu nợ. - Phân công quản lý nợ. - Phân loại tiền thuế nợ.
- Đôn đốc thu tiền thuế nợ và xử lý tiền thuế nợ. - Công khai thông tin của người nộp thuế còn nợ thuế. - Lập nhật ký và sổ theo dõi tình hình tiền thuế nợ; Lưu trữ tài liệu, dữ liệu về quản lý nợ. Kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế 5 1.
Khái niệm và mục tiêu kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế 1. Khái niệm Theo Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2002), “kiểm tra là quá trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời kiểm tra góp phần phát hiện ra những sai sót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục, bảo đảm cho hoạt động thực hiện đúng hướng”. Từ khái niệm trên có thể định nghĩa, kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế là quá trình cơ quan thuế trung ương xem xét, đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật về việc quản lý nợ thuế của các cục thuế. Như vậy, chủ thể kiểm tra là cơ quan thuế trung ương và đối tượng kiểm tra là việc quản lý nợ thuế của các cục thuế.
Mục tiêu Mục tiêu kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế là nhằm: Thứ nhất, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nợ thuế của các cục thuế. Thứ hai, chống thất thu NSNN, bảo vệ lợi ích của nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế. Thứ ba, đánh giá việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý nợ thuế của các cục thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực. Thứ tư, hướng dẫn giúp đỡ, hỗ trợ các cán bộ của cục thuế nắm được quyền và nghĩa vụ của mình khi thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý nợ thuế.
Thứ năm, tham mưu hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý nợ thuế. Bộ máy kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế - Lãnh đạo cơ quan thuế trung ương: có chức năng phê duyệt kế hoạch kiểm tra; hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ về quản lý nợ thuế; Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị 6 cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý nợ thuế. - Cục kiểm tra nội bộ: có chức năng tham mưu, giúp lãnh đạo cơ quan thuế trung ương xây dựng kế hoạch hàng năm về công tác kiểm tra nội bộ đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế; Tham mưu tổ chức thực hiện kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong quản lý nợ thuế của các cục thuế, công chức, viên chức thuế; việc thực hiện các nội quy, quy chế làm việc, quy trình nghiệp vụ trong quản lý nợ thuế do cơ quan thuế trung ương ban hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan đối với tổ chức, cá nhân thuộc cục thuế theo chương trình kế hoạch, hoặc theo yêu cầu đột xuất của cấp có thẩm quyền. Theo Phan Hữu Nghị và Nguyễn Thị Bất (2020), cục kiểm tra nội bộ có thể tổ chức theo các hình thức sau: + Mô hình tổ chức theo sắc thuế: có bộ phận kiểm tra về quản lý nợ thuế GTGT/thuế TNDN/thuế TNCN, … các phòng ban riêng biệt được thành lập để kiểm tra việc quản lý nợ thuế của một sắc thuế hoặc một vài sắc thuế (ví dụ phòng kiểm tra liên quan đến thuế gián thu có chức năng kiểm tra về quản lý nợ thuế các loại thuế gián thu, phòng kiểm tra thuế trực thu có chức năng kiểm tra về quản lý nợ thuế các loại thuế trực thu,…).
+ Mô hình tổ chức theo địa bàn: các phòng ban được thành lập để kiểm tra một vài cục thuế nhất định (ví dụ có các phòng kiểm tra nội bộ 1 có chức năng kiểm tra các cục thuế trong khu vực miền bắc, phòng kiểm tra nội bộ 2 có chức năng kiểm tra các cục thuế trong khu vực miền nam,…). Những nhân lực trong bộ máy này đòi hỏi phải có năng lực phù hợp, về kiến thức cần có hiểu biết về tài chính, về kế toán, nắm vững các quy định của pháp luật, chế độ chính sách liên quan đến lĩnh vực tài chính, thuế và quy trình nghiệp vụ quản lý có liên quan đến phần công việc được giao; về kỹ năng cần có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiểm tra cơ bản; về thái độ, phẩm chất cần tận tụy, trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan, công tâm; có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chuẩn mực trong giao tiếp, làm việc. Khi tiến hành kiểm tra, cơ quan thuế trung ương thường thành lập các đoàn kiểm tra và thường được lấy nhân lực từ cục kiểm tra nội bộ. Nội dung kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế Kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế thường tập trung vào các nội dung sau: - Kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu thu nợ và xử lý tiền thuế nợ: cơ quan thuế trung ương kiểm tra cục thuế có hoàn thành chỉ tiêu thu nợ đã được giao từ đầu năm hay không.
- Kiểm tra việc thực hiện phân loại nợ thuế: cơ quan thuế trung ương kiểm tra cục thuế có phân loại tính chất khoản nợ thuế theo trạng thái hoạt động của người nộp thuế có đúng theo quy định không. - Kiểm tra việc thực hiện đôn đốc thu nộp nợ thuế: cơ quan thuế trung ương kiểm tra cục thuế đã thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ đối với từng khoản nợ theo quy định không; đồng thời kiểm tra việc áp dụng cưỡng chế để đôn đốc thu nộp nợ thuế. - Kiểm tra việc thực hiện công khai thông tin đối với người nộp thuế có nợ thuế: cơ quan thuế trung ương kiểm tra cục thuế hằng tháng có rà soát, lập danh sách với đối tượng có nợ thuế phải công bố theo quy định không. - Kiểm tra việc báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ; việc lưu trữ tài liệu, dữ liệu về quản lý nợ: cơ quan thuế trung ương kiểm tra cục thuế định kỳ hằng tháng, hằng năm có lập báo cáo gửi cơ quan thuế trung ương không; Kiểm tra cục thuế có lưu trữ hồ sơ quản lý nợ theo quy định không.
Hình thức kiểm tra của cơ quan thuế trung ương đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế - Theo tần suất kiểm tra: có hai hình thức là kiểm tra định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất + Kiểm tra định kỳ theo kế hoạch: là việc cơ quan thuế trung ương kiểm tra đối với việc quản lý nợ thuế của các cục thuế thuộc kế hoạch kiểm tra, thường là một năm lập kế hoạch một lần. Cơ quan thuế trung ương căn cứ vào thông tin về tình hình quản lý thuế trên địa bàn (như tình hình nợ thuế, xóa nợ thuế) và cơ sở dữ liệu khai thác từ hệ thống của ngành và áp dụng tiêu chí đánh giá rủi ro của các cục thuế, sau đó tính điểm các chỉ tiêu rủi ro và lựa chọn những cục thuế có điểm, chỉ tiêu rủi ro cao và đưa vào kế hoạch kiểm tra định kỳ của cơ quan thuế trung ương. 8 + Kiểm tra đột xuất: là việc cơ quan thuế trung ương đưa vào kiểm tra đột xuất với những trường hợp cục thuế có rủi ro và cần thiết phải kiểm tra chấn chỉnh theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền hoặc dựa trên thông tin thu thập từ báo đài, đường dây nóng,. - Theo phạm vi kiểm tra: có hai hình thức là kiểm tra toàn diện và kiểm tra chuyên đề + Kiểm tra toàn diện: là việc cơ quan thuế trung ương kiểm tra tất cả các nội dung liên quan đến quản lý nợ thuế.
+ Kiểm tra chuyên đề: là việc cơ quan thuế trung ương chỉ kiểm tra tập trung vào một số nội dung liên quan đến quản lý nợ thuế.