Tổng quan nghiên cứu

Tổng số tiền thuế nợ toàn ngành thuế tại Việt Nam trong giai đoạn 2019–2023 có xu hướng gia tăng nhanh chóng, từ mức 83.443 tỷ đồng năm 2019 lên 169.990 tỷ đồng vào năm 2023, tương đương mức tăng hơn 103% sau 5 năm. Sự suy thoái kinh tế sau đại dịch cùng các thủ đoạn né tránh nghĩa vụ tài chính phức tạp khiến áp lực thu hồi nợ đọng tại các địa phương ngày càng gay gắt. Dù số tiền thuế nợ thu hồi được đã tăng từ 18.518 tỷ đồng năm 2019 lên 47.044 tỷ đồng năm 2023, công tác quản lý nợ tại các Cục Thuế vẫn bộc lộ nhiều sai sót và rủi ro thất thu ngân sách nhà nước.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế cấp trung ương đối với cấp địa phương, phân tích toàn diện thực trạng công tác kiểm tra của Tổng cục Thuế giai đoạn 2019–2023, nhận diện những điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện đến năm 2030. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 4 cấu phần then chốt: bộ máy, nội dung, hình thức và quy trình kiểm tra trên mạng lưới 63 Cục Thuế trực thuộc. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu lực kiểm soát nội bộ ngành thuế, phấn đấu kiểm soát tỷ lệ nợ thuế dưới 8% tổng thu ngân sách và bảo vệ nguồn lực tài chính công quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kiểm soát hành chính nhà nước, lý thuyết quản trị rủi ro tuân thủ thuế và mô hình giám sát quản lý công hiện đại. Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ giữa chủ thể kiểm tra là cơ quan thuế trung ương (Tổng cục Thuế) và đối tượng kiểm tra là hoạt động quản lý nợ thuế của các cơ quan thuế cấp tỉnh (Cục Thuế). Hoạt động này chịu sự tác động kép từ các nhân tố nội tại (chỉ đạo điều hành, nguồn dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin) và nhân tố môi trường bên ngoài (hệ thống pháp luật thuế, bối cảnh kinh tế vĩ mô, sự phối hợp liên ngành).

Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Quản lý nợ thuế: Hoạt động lập chỉ tiêu, theo dõi, phân loại, đôn đốc và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm thu hồi các khoản thuế quá hạn vào ngân sách.
  • Kiểm tra nội bộ ngành thuế: Quá trình cơ quan cấp trên xem xét, đánh giá việc chấp hành các chuẩn mực, quy chế và quy trình nghiệp vụ của cơ quan thuế cấp dưới.
  • Phân loại tiền thuế nợ: Hoạt động xác định bản chất của từng khoản nợ gồm 4 nhóm chính: nợ có khả năng thu, nợ khó thu, nợ đang xử lý và nợ đang chờ điều chỉnh.
  • Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: Hệ thống 7 biện pháp chế tài luật định từ trích tiền tài khoản, phong tỏa tài khoản, ngừng sử dụng hóa đơn cho đến thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong khung thời gian từ năm 2019 đến năm 2024:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ 49 quyết định kiểm tra và 49 kết luận kiểm tra chính thức của Tổng cục Thuế đối với 63 Cục Thuế trong giai đoạn 2019–2023, kết hợp báo cáo thống kê quản lý nợ trên hệ thống Quản lý thuế tập trung (TMS).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 8 Cục Thuế đại diện cho các vùng kinh tế và quy mô quản lý khác nhau (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Long An) trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2024. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm thu thập góc nhìn chuyên sâu từ các cán bộ quản lý trực tiếp, từ đó làm rõ những bất cập mà số liệu định lượng thuần túy chưa phản ánh hết.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp phân tích đối chiếu để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu kiểm tra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, 100% các Cục Thuế được kiểm tra trong giai đoạn 2019–2023 đều phát hiện có vi phạm hoặc sai sót trong công tác quản lý nợ thuế. Số cuộc kiểm tra thực tế hàng năm dao động từ 9 đến 18 cuộc (năm 2019 đạt 9 cuộc, năm 2020 đạt 12 cuộc, năm 2021 tạm dừng do đại dịch, năm 2022 đạt 18 cuộc và năm 2023 đạt 12 cuộc). Tuy nhiên, độ bao phủ kiểm tra chỉ đạt từ 14% đến 28% trên tổng số 63 Cục Thuế toàn quốc mỗi năm.

Thứ hai, sai phạm trong phân loại nợ thuế và thực hiện chỉ tiêu thu nợ diễn ra phổ biến. Có từ 16% đến 44% Cục Thuế không hoàn thành chỉ tiêu tổng nợ trên tổng thu ngân sách. Tỷ lệ đơn vị phân loại sai tính chất nợ khó thu chiếm từ 11% đến 44% (như trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động bình thường nhưng bị xếp vào nhóm khó thu, hoặc thiếu quyết định tuyên bố mất tích/phá sản của Tòa án). Tỷ lệ sai phạm trong việc xử lý nợ như khoanh nợ, miễn hoặc không tính tiền chậm nộp dao động từ 16% đến 44%.

Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế chưa đồng bộ. Tỷ lệ phát hiện sai phạm trong việc gửi thông báo đôn đốc nợ từ 1 đến 30 ngày chiếm 16% đến 33%. Đáng chú ý, sai phạm trong việc áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan từng đạt mức 44% vào năm 2019; chậm ban hành quyết định cưỡng chế hóa đơn hoặc để doanh nghiệp tiếp tục sử dụng hóa đơn khi đang bị cưỡng chế diễn ra tại 16% đến 25% số đơn vị được kiểm tra.

Thứ tư, hình thức kiểm tra còn đơn điệu và nhân lực kiểm tra chuyên trách còn mỏng. Trong suốt 5 năm, 100% các cuộc kiểm tra đều là kiểm tra toàn diện định kỳ (51 cuộc), hoàn toàn chưa triển khai được cuộc kiểm tra chuyên đề nào (0%) và số cuộc kiểm tra đột xuất chỉ chiếm 3 cuộc trên tổng số 51 cuộc (khoảng 5,8%). Tổng nhân lực của Cục Kiểm tra nội bộ tăng từ 34 người năm 2019 lên 71 người năm 2023, song lực lượng trực tiếp làm công tác kiểm tra nội bộ chỉ có 18 người (chiếm 25,3%).

Thảo luận kết quả

Thực trạng nợ thuế có khả năng thu tăng từ 40.778 tỷ đồng năm 2019 lên 91.785 tỷ đồng năm 2023 phản ánh áp lực lớn lên bộ máy thu hồi nợ. Việc phân loại sai trạng thái nợ khiến số liệu nợ ảo tăng cao, làm sai lệch bức tranh tài chính công. Điểm sáng là nhóm nợ khó thu đã giảm tỷ trọng từ 45,1% năm 2019 xuống 15,18% năm 2022 nhờ việc áp dụng Nghị quyết số 94/2019/QH14 và Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, giúp dừng tính tiền chậm nộp đối với các khoản nợ không còn khả năng thu hồi.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ hình cột thể hiện quy mô nợ thuế song song với số tiền thu hồi giai đoạn 2019–2023, kết hợp bảng ma trận so sánh tỷ lệ vi phạm trên 7 biện pháp cưỡng chế thuế. Nguyên nhân chính của những hạn chế nêu trên bắt nguồn từ việc ứng dụng quản lý rủi ro trên hệ thống công nghệ thông tin chưa triệt để, việc lập kế hoạch kiểm tra vẫn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm chủ quan. Hơn nữa, việc cán bộ kiểm tra quá tập trung vào cưỡng chế hóa đơn mà chưa chú trọng kiểm tra biện pháp phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản đã làm giảm tính răn đe của hoạt động quản lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ kiểm tra nội bộ. Tổng cục Thuế cần bổ sung biên chế cho Phòng Kiểm tra nội bộ từ 18 người lên ít nhất 30 người đến năm 2026; tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng phân tích dữ liệu điện tử cho 100% cán bộ kiểm tra hàng năm, đồng thời luân chuyển cán bộ có năng lực thực tiễn tại các Cục Thuế lớn về làm công tác kiểm tra trung ương.

Thứ hai, chuẩn hóa và số hóa quy trình kiểm tra dựa trên phân tích rủi ro. Cục Kiểm tra nội bộ phối hợp với Cục Công nghệ thông tin xây dựng bộ tiêu chí chấm điểm rủi ro tự động trên hệ thống TMS trước năm 2025. Cần rút ngắn thời hạn ban hành kết luận kiểm tra từ 15 ngày xuống tối đa 10 ngày làm việc sau khi kết thúc kiểm tra thực tế, chấm dứt hoàn toàn tình trạng ban hành kết luận muộn (đã xảy ra 2 trường hợp năm 2022 và 1 trường hợp năm 2023).

Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra. Tổng cục Thuế cần đưa chỉ tiêu kiểm tra chuyên đề vào kế hoạch thường niên, phấn đấu đạt tỷ lệ tối thiểu 25% đến 30% tổng số cuộc kiểm tra giai đoạn 2025–2030, tập trung sâu vào các chuyên đề phân loại nợ và cưỡng chế trích tiền từ tài khoản; nâng tỷ lệ kiểm tra đột xuất lên 10% đến 15% dựa trên dữ liệu cảnh báo từ đường dây nóng.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và chính sách quản lý nợ. Kiến nghị Bộ Tài chính làm việc với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công an nhằm thiết lập cổng kết nối tự động để phong tỏa tài khoản người nợ thuế trong vòng 24 giờ. Đồng thời, kiến nghị sửa đổi các thông tư hướng dẫn về xóa nợ, khoanh nợ đối với các doanh nghiệp đã giải thể hoặc phá sản nhưng thiếu thủ tục tư pháp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm công chức lãnh đạo và cán bộ thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế: Tài liệu cung cấp cẩm nang chi tiết về quy trình 3 giai đoạn kiểm tra, bảng tổng hợp 6 nhóm sai sót nghiệp vụ phổ biến và kỹ năng phân tích hồ sơ quản lý nợ trên hệ thống dữ liệu TMS.

Nhóm chuyên gia hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế: Luận văn cung cấp chuỗi dữ liệu thực chứng 5 năm (2019–2023) với hơn 15 bảng biểu định lượng, là cơ sở thực tiễn để sửa đổi quy trình kiểm tra nội bộ và xây dựng Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp kết hợp phân tích thứ cấp và phỏng vấn sâu 8 địa bàn, giúp phát triển các đề tài nghiên cứu về kiểm soát tài chính công và quản trị thuế.

Nhóm giám đốc tài chính, kế toán trưởng và chuyên viên tư vấn thuế tại các doanh nghiệp: Giúp nắm bắt tường tận quy trình giám sát, các tiêu chí phân loại nợ thuế và 7 chế tài cưỡng chế của cơ quan thuế, từ đó chủ động quản trị rủi ro pháp lý và tuân thủ tốt nghĩa vụ nộp thuế.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu chính của hoạt động kiểm tra quản lý nợ thuế là gì? Hoạt động này nhằm đánh giá tính tuân thủ pháp luật của các Cục Thuế, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách nhà nước, phát hiện các sai sót trong phân loại nợ và đôn đốc cưỡng chế. Đồng thời, qua kiểm tra giúp tháo gỡ vướng mắc cho cán bộ địa phương và đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý nợ thuế.

Tại sao 100% Cục Thuế được kiểm tra giai đoạn 2019–2023 đều có sai phạm? Nguyên nhân chủ yếu do khối lượng công việc quản lý nợ quá lớn trong bối cảnh tổng nợ tăng lên 169.990 tỷ đồng, hệ thống dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn và một số quy định về xử lý nợ phức tạp. Ngoài ra, năng lực chuyên môn không đồng đều giữa các địa bàn cũng dẫn đến sai sót nghiệp vụ.

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã tạo ra chuyển biến gì trong cơ cấu nợ thuế? Luật số 38 đã cho phép khoanh nợ và dừng tính tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách. Quy định này giúp tỷ trọng tiền nợ khó thu giảm mạnh từ mức 45,1% năm 2019 (37.637 tỷ đồng) xuống còn 15,18% năm 2022 (22.521 tỷ đồng), giúp dữ liệu nợ phản ánh thực chất hơn.

Vì sao hình thức kiểm tra chuyên đề chưa được triển khai trong giai đoạn 2019–2023? Trong 5 năm qua, Tổng cục Thuế thực hiện 100% các cuộc kiểm tra toàn diện do ưu tiên bao quát toàn bộ quy trình quản lý nợ tại các đơn vị có rủi ro cao. Tuy nhiên, điều này làm phân tán nguồn lực cán bộ và hạn chế khả năng đào sâu vào các vấn đề phức tạp như phân loại nợ chờ điều chỉnh.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao chất lượng kiểm tra nợ thuế đến năm 2030? Giải pháp đột phá là tự động hóa khâu tiền kiểm tra thông qua ứng dụng công nghệ phân tích rủi ro trên hệ thống TMS. Việc số hóa toàn diện tiêu chí rủi ro giúp chọn lọc chính xác các Cục Thuế có dấu hiệu sai phạm, nâng tỷ trọng kiểm tra chuyên đề lên 30% và tối ưu hóa nguồn nhân lực.

Kết luận

  • Luận văn phân tích toàn diện thực trạng kiểm tra quản lý nợ thuế của Tổng cục Thuế giai đoạn 2019–2023, làm rõ bối cảnh tổng nợ thuế tăng từ 83.443 tỷ đồng lên 169.990 tỷ đồng.
  • Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ phát hiện vi phạm đạt 100% tại các đơn vị được kiểm tra, với các sai sót tập trung ở khâu phân loại nợ (11%–44%) và áp dụng biện pháp cưỡng chế thuế (5%–44%).
  • Nhận diện những nút thắt cốt lõi gồm: độ bao phủ kiểm tra thấp (14%–28% Cục Thuế/năm), thiếu vắng hình thức kiểm tra chuyên đề (0%) và đội ngũ kiểm tra chuyên trách còn mỏng (18 người).
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kiện toàn nhân sự, số hóa quy trình quản lý rủi ro và tăng cường phối hợp liên ngành với mục tiêu thực thi đến năm 2030.
  • Đây là công trình tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến công tác quản trị và kiểm soát tài chính công tại Việt Nam.