Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được xây dựng trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước qua 35 năm đạt nhiều thành tựu kinh tế - xã hội, kéo theo sự gia tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp của các tranh chấp, xung đột dân sự. Thực tiễn này đòi hỏi hệ thống pháp luật phải liên tục hoàn thiện nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trong lịch sử lập pháp tố tụng dân sự Việt Nam, các văn bản như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 đã từng bước thiết lập trình tự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, phải đến khi BLTTDS năm 2015 ra đời (được sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020), chế định "Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ" mới chính thức được luật hóa tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Dù mang ý nghĩa then chốt đối với nguyên tắc tranh tụng, các quy định hiện hành về phiên họp này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, khoảng trống pháp lý và lúng túng trong áp dụng thực tiễn tại Tòa án các cấp. Bên cạnh đó, số lượng công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và toàn diện về riêng thủ tục này còn hạn chế. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và xã hội).
- Hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành điều chỉnh phiên họp này.
- Đánh giá, đối chiếu các quan điểm khoa học pháp lý khác nhau và đưa ra quan điểm cá nhân đối với các vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành.
- Phân tích thực tiễn thực hiện quy định tại các Tòa án nhân dân, làm rõ các bất cập, vướng mắc phát sinh; đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự hiện hành điều chỉnh phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thực tiễn áp dụng các quy định này trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu phiên họp trong khuôn khổ thủ tục tố tụng dân sự thông thường ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTDS năm 2015; không đi sâu vào thủ tục rút gọn (nơi không bắt buộc mở phiên họp theo Điều 317 BLTTDS năm 2015). Về mặt lý luận, đề tài giới hạn ở phạm vi khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của phiên họp.
Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các nền tảng lý luận khoa học pháp lý, quan điểm phân chia ngành luật của Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật, các từ điển ngôn ngữ và từ điển chuyên ngành luật học (Viện Khoa học Pháp lý, Đào Duy Anh, Lê Gia, Hoàng Phê, Nguyễn Lân, Nguyễn Như Ý), cùng hệ thống giáo trình đào tạo cử nhân luật của Trường Đại học Luật Hà Nội. Đồng thời, công trình kế thừa và phản biện kết quả nghiên cứu từ các sách bình luận khoa học (do PGS.TS. Trần Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Huyền chủ biên), các luận văn thạc sĩ chuyên ngành (của các tác giả Lê Hồng Phương, Phạm Như Hoàng Hải, Nguyễn Thị Mai Phương, Nguyễn Hữu Lâm, Nông Thị Biển, Tạ Huyền Trang, Trần Phương Thảo) và các bài viết chuyên san trên Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề Luật.
Hệ thống cơ sở pháp lý trực tiếp bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 37 về bảo vệ quyền trẻ em);
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 13 về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử);
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 24, 46, 81, 95, 96, 97, 203, 204, 206, 207, 208, 209, 210, 211, 317);
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (kèm Biểu mẫu số 33-DS, Biểu mẫu số 35-DS);
- Văn bản Giải đáp nghiệp vụ số 01/2017/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao (mục 15).
Phương pháp nghiên cứu thực tế đã sử dụng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được vận dụng xuyên suốt công trình nhằm mổ xẻ từng yếu tố cấu thành phiên họp, các quy định pháp luật thực định và xâu chuỗi thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh các quy định về chuẩn bị xét xử, hòa giải và công khai chứng cứ qua các thời kỳ lập pháp (Pháp lệnh 1989, BLTTDS 2004, sửa đổi 2011 và BLTTDS 2015) để làm rõ bước tiến tiến bộ cùng các khoảng trống hiện hữu.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Thu thập, phân tích các tình huống xét xử thực tiễn cụ thể (điển hình như vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản có tài sản bảo đảm là ô tô chuyển nhượng cho người thứ ba) để minh chứng cho các vướng mắc áp dụng văn bản hướng dẫn.
- Phương pháp lịch sử: Phục vụ việc tái hiện tiến trình hình thành và phát triển của chế định chứng cứ và phiên họp tiền xét xử trong lịch sử tố tụng dân sự Việt Nam.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Khái quát hóa từ các quy phạm cụ thể thành các luận điểm lý thuyết và từ nguyên lý tranh tụng quy nạp vào từng hoạt động nghiệp vụ của Thẩm phán và Thư ký Tòa án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 1 xây dựng khung lý luận toàn diện và phân tích chi tiết kết cấu quy định pháp luật thực định từ Điều 208 đến Điều 211 BLTTDS năm 2015.
1. Vấn đề lý luận:
Tác giả phân tích các khái niệm thành phần ("phiên họp", "chứng cứ", "giao nộp", "tiếp cận", "công khai chứng cứ") và đưa ra định nghĩa khoa học: Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật TTDS nhằm xem xét, đánh giá thực tế việc giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự; xác định hoặc yêu cầu thu thập, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ; tạo cơ sở cho các đương sự thực hiện quyền trao đổi, tiếp cận, sao chụp tài liệu, trình bày ý kiến về quan hệ tranh chấp và xác nhận những vấn đề đã thống nhất.
Đặc điểm của phiên họp được xác định gồm hai yếu tố cốt lõi:
- Được tổ chức dưới hình thức phiên họp có sự tham gia của Tòa án với tư cách bên thứ ba trung gian, điều phối theo trình tự luật định, phân biệt rõ với phiên "xem xét" hay phiên "xét xử".
- Quyền và nghĩa vụ của đương sự tại phiên họp mang tính kế thừa và tương đương với quyền, nghĩa vụ sau thời điểm thụ lý vụ án và trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Ý nghĩa của phiên họp được thể hiện ở việc hiện thực hóa nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 24 BLTTDS năm 2015), bảo đảm quyền được biết và phản biện chứng cứ của đương sự; đồng thời là công cụ tiền xét xử quan trọng tạo tiền đề cho hoạt động hòa giải thành, giúp duy trì và củng cố sự bền vững trong các quan hệ xã hội thông qua quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.
2. Phân tích thực định quy định pháp luật:
- Về thông báo phiên họp (Điều 208): Thẩm phán phải thông báo trước cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về thời gian, địa điểm, nội dung phiên họp. Tác giả chỉ ra tính độc lập giữa phiên họp kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải theo khoản 2 Điều 208 (vẫn mở phiên họp kiểm tra chứng cứ trong các vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được theo Điều 206, Điều 207). Đối với án hôn nhân gia đình liên quan đến người chưa thành niên, Thẩm phán phải thu thập tài liệu làm rõ nguyên nhân mâu thuẫn trước khi mở phiên họp và bắt buộc lấy ý kiến con từ đủ 7 tuổi trở lên trong môi trường thân thiện, bảo mật, có sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em theo Điều 37 Hiến pháp năm 2013 và Luật HN&GĐ năm 2014.
- Về thành phần tham gia và hoãn phiên họp (Điều 209): Thành phần gồm Thẩm phán chủ trì, Thư ký Tòa án ghi biên bản, đương sự/đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người phiên dịch (Điều 81); mở rộng thêm đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động (trong tranh chấp lao động khi người lao động yêu cầu), cơ quan quản lý gia đình/trẻ em, Hội Phụ nữ. Về việc hoãn phiên họp (khoản 3 Điều 209, Biểu mẫu 33-DS Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP), căn cứ hoãn chủ yếu gắn liền với yêu cầu hoãn phiên hòa giải khi các đương sự vắng mặt; trường hợp vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không ảnh hưởng quyền lợi của họ thì vẫn tiến hành kiểm tra chứng cứ theo Mục 15 Giải đáp 01/2017/GĐ-TANDTC.
- Về trình tự phiên họp (Điều 210): Quy trình gồm 3 bước:
- Thủ tục bắt đầu (Thư ký báo cáo sự có mặt, Thẩm phán kiểm tra căn cước và phổ biến quyền, nghĩa vụ);
- Nội dung phiên họp (Thẩm phán công bố tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và tiến hành hỏi đương sự về 4 nhóm nội dung: yêu cầu khởi kiện/phản tố/độc lập và các vấn đề đã/chưa thống nhất; việc giao nộp và sao gửi chứng cứ cho bên kia theo khoản 5 Điều 96; việc bổ sung chứng cứ, yêu cầu Tòa án thu thập hoặc triệu tập người tham gia tố tụng khác; các vấn đề khác đương sự thấy cần thiết);
- Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu và thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt.
- Về nội dung biên bản phiên họp (Điều 211 và Biểu mẫu 35-DS): Thư ký lập biên bản gồm 6 nội dung: thời gian; địa điểm; thành phần; ý kiến đương sự; quyết định của Tòa án về việc chấp nhận/không chấp nhận các yêu cầu; các nội dung khác.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự
Chương 2 tập trung phản ánh thực tiễn áp dụng, chỉ ra các xung đột quy phạm và đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện.
1. Những kết quả đạt được và bất cập, hạn chế trong thực tiễn:
- Về địa điểm tổ chức: BLTTDS năm 2015 chưa quy định bắt buộc phiên họp phải diễn ra tại trụ sở Tòa án hay được tổ chức ngoài trụ sở. Tác giả lập luận rằng trong trường hợp đương sự ốm nặng, bất khả kháng có xác nhận y tế, việc cho phép mở phiên họp tại nơi cư trú hoặc cơ sở y tế (tương tự thủ tục lấy lời khai có người làm chứng hoặc chính quyền UBND/Công an chứng kiến) là cần thiết để bảo vệ quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự mà không làm đình trệ tố tụng.
- Về thời hạn giao nộp chứng cứ và số lần mở phiên họp: Điều 96 khoản 4 quy định thời hạn giao nộp chứng cứ do Thẩm phán ấn định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, luật không khống chế số lần mở phiên họp kiểm tra chứng cứ. Thực tiễn nảy sinh hai trường hợp phức tạp:
- Trường hợp 1: Phiên họp cuối cùng tiến hành trong thời hạn giao nộp chứng cứ. Sau khi kết thúc phiên họp, đương sự nộp thêm chứng cứ mới thì Tòa án có chấp nhận hay không? Đa số Tòa án chấp nhận để giải quyết triệt để vụ án, nhưng việc này buộc phải mở thêm phiên họp khác để công khai, làm kéo dài thời gian.
- Trường hợp 2: Phiên họp cuối cùng tiến hành sau khi hết thời hạn giao nộp chứng cứ ấn định. Đương sự giao nộp chứng cứ mới tại phiên họp theo khoản 2 Điều 210 thì áp dụng khoản 4 Điều 96 yêu cầu "lý do chính đáng". Tuy nhiên, khái niệm "lý do chính đáng" hoàn toàn bị bỏ ngỏ, dẫn đến sự suy diễn chủ quan tùy tiện giữa các Thẩm phán.
- Về phạm vi tài liệu công bố trong hồ sơ vụ án: Khoản 1 Điều 204 quy định hồ sơ vụ án gồm 3 nhóm tài liệu (do đương sự nộp; do Tòa án thu thập; văn bản tố tụng do Tòa án/VKS ban hành). Tác giả chỉ ra việc công bố toàn bộ cả các giấy tờ thủ tục (giấy triệu tập, biên bản tống đạt) là không cần thiết, làm loãng nội dung; Điều 210 chỉ nên giải thích là công bố 2 nhóm tài liệu đầu mang bản chất chứng minh nội dung vụ án.
- Về câu hỏi xác minh nguồn gốc chứng cứ nghe nhìn: Khoản 2 Điều 95 yêu cầu chứng cứ nghe được, nhìn được phải kèm văn bản trình bày xuất xứ hoặc xác nhận nguồn gốc. Tuy nhiên, nội dung hỏi tại khoản 2 Điều 210 lại thiếu sót khi không quy định nghĩa vụ của Thẩm phán phải hỏi về xuất xứ của tài liệu này để các bên thực hiện quyền yêu cầu giám định.
- Về xung đột thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện tại phiên họp: Khoản 3 Điều 210 quy định Thẩm phán "xem xét, giải quyết các yêu cầu khởi kiện...". Tác giả phân tích đây là sai sót kỹ thuật lập pháp dễ gây ngộ nhận Thẩm phán có quyền phán quyết nội dung tranh chấp ngay tại phiên họp, xâm phạm thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm tại phiên tòa. Tương tự, mục (v) khoản 2 Điều 211 về "quyết định của Tòa án chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự" chỉ được hiểu là các yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng (thu thập chứng cứ, trưng cầu giám định, triệu tập người làm chứng), tuyệt đối không bao gồm yêu cầu giải quyết nội dung tranh chấp.
- Về thủ tục mở lại phiên họp và quyền phản tố, yêu cầu độc lập: Luật chưa có quy định cụ thể về điều kiện, thời hạn thông báo mở lại phiên họp sau khi hoãn; chưa làm rõ thời điểm chấm dứt quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong trường hợp phiên họp bị hoãn nhiều lần.
2. Định hướng giải pháp và kiến nghị:
Chương 2 đề xuất 2 nhóm giải pháp lớn: Nhóm kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTDS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các Điều 95, 96, 208, 209, 210, 211 và ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC) và Nhóm kiến nghị nâng cao năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong việc điều hành, kiểm tra chứng cứ và bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam. Tác giả đã chỉ rõ các lỗ hổng kỹ thuật lập pháp trong BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện lập pháp cụ thể.
Bảng tổng hợp bất cập quy định pháp luật và kiến nghị hoàn thiện của tác giả
| Điều luật BLTTDS 2015 |
Vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn |
Kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện của tác giả |
| Điều 208 (Thông báo phiên họp) |
- Chưa quy định thời hạn thông báo trước ngày mở phiên họp. - Bỏ ngỏ quy định về địa điểm mở phiên họp ngoài trụ sở Tòa án khi đương sự bất khả kháng. |
- Bổ sung thời hạn gửi thông báo tối thiểu trước ngày mở phiên họp. - Quy định cho phép mở phiên họp ngoài trụ sở Tòa án (nhà riêng, bệnh viện) có chính quyền địa phương/người làm chứng chứng kiến. |
| Điều 209 (Thành phần, hoãn phiên họp) |
- Quy định hoãn phiên họp bị đồng nhất hóa với hoãn phiên hòa giải (khoản 3). - Chưa có quy định rõ ràng về thủ tục và thời hạn mở lại phiên họp sau khi hoãn. |
- Tách biệt độc lập căn cứ hoãn phiên họp kiểm tra chứng cứ với căn cứ hoãn hòa giải. - Quy định cụ thể thời hạn mở lại phiên họp và giới hạn quyền phản tố/yêu cầu độc lập khi hoãn. |
| Điều 95 & Điều 210 (Tài liệu nghe nhìn & Nội dung hỏi) |
Khoản 2 Điều 210 thiếu nội dung Thẩm phán hỏi về xuất xứ, nguồn gốc tài liệu nghe được, nhìn được theo khoản 2 Điều 95. |
Bổ sung vào khoản 2 Điều 210 nội dung bắt buộc Thẩm phán phải hỏi và kiểm tra xuất xứ tài liệu nghe nhìn để đương sự kịp thời yêu cầu giám định. |
| Điều 96 & Điều 210 (Thời hạn nộp chứng cứ & Số lần mở) |
- Quy định "lý do chính đáng" tại khoản 4 Điều 96 mang tính định tính, chưa có tiêu chí hướng dẫn. - Lúng túng về số lần mở phiên họp khi đương sự nộp chứng cứ bổ sung. |
- Ban hành hướng dẫn chi tiết các trường hợp được coi là "lý do chính đáng". - Quy định phiên họp kiểm tra chứng cứ cuối cùng là mốc chốt quyền cung cấp chứng cứ tại cấp sơ thẩm (trừ bất khả kháng). |
| Điều 210 & Điều 211 (Xem xét yêu cầu & Biên bản) |
- Quy định Thẩm phán "giải quyết yêu cầu khởi kiện" (khoản 3 Điều 210) gây nhầm lẫn với thẩm quyền của HĐXX sơ thẩm. - Cụm từ "quyết định chấp nhận/không chấp nhận yêu cầu của đương sự" (khoản 2 Điều 211) dễ bị hiểu sai sang nội dung tranh chấp. |
- Sửa đổi khoản 3 Điều 210 thành: Thẩm phán xem xét, ghi nhận và xử lý các yêu cầu về mặt thủ tục, thu thập chứng cứ. - Sửa đổi Điều 211 làm rõ quyết định của Tòa án trong biên bản chỉ giới hạn ở các yêu cầu về tố tụng/chứng cứ. |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thủ tục giải quyết vụ án dân sự thông thường tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo quy định pháp luật Việt Nam; chưa đi sâu nghiên cứu phiên họp trong các thủ tục đặc thù như thủ tục rút gọn (Điều 317 BLTTDS 2015), thủ tục giải quyết việc dân sự, hoặc so sánh chuyên sâu với các mô hình tố tụng tiền xét xử (Pre-trial conference / Discovery) của các hệ thống thông luật (Common Law) và dân luật (Civil Law) trên thế giới. Bên cạnh đó, các số liệu và tình huống thực tiễn được trích dẫn chủ yếu dựa trên các bản án, bài báo khoa học và báo cáo nghiệp vụ đã được công bố.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá thực tiễn thi hành thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại TAND các cấp qua điều tra xã hội học và số liệu thống kê xét xử nhiều năm; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cơ chế trao đổi chứng cứ tiền xét xử để đề xuất hoàn thiện mô hình tố tụng dân sự Việt Nam theo hướng tăng cường tính tranh tụng toàn diện.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự và Tư pháp: Cung cấp hệ thống lý luận chặt chẽ, luận giải khoa học về các khái niệm thành phần của chế định chứng cứ và phiên họp tiền xét xử.
- Người nghiên cứu pháp luật: Đóng vai trò tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng, quyền tiếp cận chứng cứ và cải cách tư pháp.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Phần phân tích thực tiễn tại Chương 2 và hệ thống bảng biểu đối chiếu tại công trình giúp làm rõ các thao tác nghiệp vụ khi xử lý tình huống vắng mặt đương sự, kiểm tra tài liệu nghe nhìn, xác định thời điểm chốt chứng cứ và lập biên bản phiên họp theo đúng Biểu mẫu 35-DS.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định tại Điều 208 BLTTDS năm 2015, Tòa án có bắt buộc phải tiến hành phiên hòa giải đi kèm cùng phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không?
Trả lời: Không bắt buộc trong mọi trường hợp. Khoản 2 Điều 208 quy định rõ Thẩm phán vẫn tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ độc lập mà không tiến hành hòa giải trong 02 trường hợp: vụ án dân sự không được hòa giải (Điều 206) hoặc vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được (Điều 207).
2. Trường hợp vụ án có đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt thì Thẩm phán xử lý phiên họp như thế nào?
Trả lời: Căn cứ theo Mục 15 Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC và khoản 2 Điều 208 BLTTDS năm 2015, nếu việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của họ và các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không hoãn phiên họp, đồng thời không tiến hành hòa giải.
3. Tài liệu nào trong hồ sơ vụ án theo Điều 204 BLTTDS năm 2015 bắt buộc phải được Thẩm phán công bố tại phiên họp theo Điều 210?
Trả lời: Dưới góc độ khoa học pháp lý, Thẩm phán chỉ cần công bố các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập phục vụ chứng minh nội dung tranh chấp. Các văn bản tố tụng mang tính thủ tục hành chính tư pháp do Tòa án phát hành (như biên bản tống đạt, giấy triệu tập, thông báo) không cần thiết phải công bố tại phiên họp nhằm tránh lãng phí thời gian và làm loãng nội dung tiếp cận chứng cứ.
4. Cụm từ "quyết định của Tòa án về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận các yêu cầu của đương sự" trong biên bản phiên họp (Điều 211) được hiểu như thế nào cho đúng?
Trả lời: Cụm từ này chỉ được hiểu là các quyết định xử lý đối với những yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng của đương sự phát sinh tại phiên họp (như yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, yêu cầu trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu triệu tập người làm chứng). Quyết định này tuyệt đối không bao gồm việc chấp nhận hay bác bỏ các yêu cầu giải quyết nội dung quan hệ tranh chấp (yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố), bởi việc phán quyết nội dung tranh chấp thuộc thẩm quyền duy nhất của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm.
5. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, BLTTDS năm 2015 quy định thủ tục lấy ý kiến con chưa thành niên tại giai đoạn chuẩn bị phiên họp như thế nào?
Trả lời: Căn cứ Điều 208 BLTTDS năm 2015 và Luật HN&GĐ năm 2014, Thẩm phán bắt buộc phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi trở lên. Việc lấy ý kiến phải được tiến hành trong điều kiện thân thiện, bảo đảm bí mật, phù hợp với tâm sinh lý và mức độ nhận thức của trẻ; có sự tham gia, chứng kiến của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình hoặc trẻ em nhằm hạn chế tối đa tổn thương tâm lý cho trẻ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Khánh là công trình nghiên cứu chuyên khảo, có hệ thống và chuyên sâu về chế định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Bằng việc phân tích đa chiều từ cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp đến thực tiễn xét xử, tác giả đã làm nổi bật vai trò trung tâm của phiên họp trong việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Các phát hiện về bất cập kỹ thuật lập pháp và hệ thống kiến nghị hoàn thiện các Điều 95, 96, 208, 209, 210, 211 BLTTDS năm 2015 là những đóng góp khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn xét xử dân sự hiện nay.