CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN TO TUNG CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU’ 1. KHAI NIEM, Y NGHIA CUA QUYEN TO TUNG CUA DUONG SU’ 1. Khái niệm quyền tố tung của đương sự Xét ở góc độ thuật ngữ thì “Quyền” là một khái niệm pháp lý dùng dé chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tô chức dé theo đó mà cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế [39, tr. Theo một góc độ khác, “Quyền” được hiểu là quyền năng mà pháp luật thực định quy định cho mỗi chủ thể pháp luật, cho phép các chủ thé đó làm một việc gì đó, yêu cầu hoặc ngăn cản người khác làm một việc gì đó vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích người khác [20, tr.
Qua các khái niệm nêu trên, có thể nhận thấy quyền là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của cá nhân, quyên là phạm trù trung tâm trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và trong đời sống xã hội. Các dấu hiệu đặc trưng của quyền là được ghi nhận về mặt pháp lý và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thé cá nhân, được thé hiện cụ thể trong thực tế đời sông thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Đối với cá nhân, các quyền cơ bản phát sinh và ghi nhận khi cá nhân phát trién đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định {[40, tr. Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “Tố tụng” là việc thưa kiện, còn “tố tụng pháp lý” là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tô tụng [1, tr.
Trong sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, giải thích rõ ràng hơn “tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công dé phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội, chữ “tụng” là thưa kiện ở cửa công dé xin phân phải trái” [14, tr. Nhu vậy, có thé hiểu “tố tụng” là việc thưa kiện ở Tòa án và được Tòa án chấp nhận việc thưa kiện đó dé giải quyết. “Tố tụng dân sự” là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự. Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức va lợi ích của Nhà nước [40, tr.
Một định nghĩa tương tự đã được TS. Nguyễn Công Bình khẳng định tại trang 10 của Gido trình Luật T tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dan năm 2012. Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa hep thì trình tự tố tụng là việc thực hiện các hành vi tố tụng trước Tòa án, từ khi bắt đầu có yêu cầu 7 khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng về vụ việc. Khi các quyền dân sự của cá nhân bị xâm phạm, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là đánh dấu việc bắt đầu tham gia một quan hệ tố tụng.
Chủ thé tham gia quan hệ pháp luật tô tụng dân sự có thé bao gồm người tiến hành tô tụng và người tham gia tố tụng. Người tham gia tố tụng đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự và người yêu cau, người bị yêu cầu và người liên quan trong việc dân sự - còn được gọi là đương sự. Đối với nhóm chủ thê tiến hành tố tụng thì các quyền tố tụng của họ có tính chất đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước. Nguyễn Công Bình thì xét dưới góc độ cụ thé thì nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Theo đó, “Quyên t6 tung dân sự là cách xử sự mà pháp luật t6 tụng dân sự quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật to tụng dân sự được thực hiện. Tùy theo mục dich, tinh chất tham gia to tung cua các chu thé ma pháp luật tô tung dân sự quy định cho mỗi chủ thé các quyên tô tụng dân sự nhất định ” và “Nghĩa vụ tổ tụng dân sự là cách xử sự bắt buộc mà pháp luật tô tụng dân sự quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tổ tụng dan sw” (2, tr. Đương sự khi tham gia tô tụng được pháp luật ghi nhận cho những quyền tố tụng mang những đặc điểm riêng, toàn bộ hệ thống quyền tố tụng của đương sự khi được sử dụng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Giữa quyền, lợi ích hợp pháp và quyền tố tụng của đương sự có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất.
Tùy thuộc vào quyền và lợi ich của đương sự bị xâm phạm, tùy thuộc vào dia vi tố tụng của đương sự và giai đoạn tố tụng đương sự tham gia mà pháp luật quy định cho họ những quyền năng tố tụng nhất định dé bảo vệ hiệu quả nhất quyền tố tụng của đương sự của mình. Tương ứng với quyền tố tụng của đương sự là trách nhiệm bảo đảm thực hiện của Tòa án. Ngoài các quyền tố tụng được pháp luật ghi nhận thi đương sự phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc của Tòa án được nhanh chóng và chính xác. Xét ở góc độ quyền con người, khi xuất hiện bất công thì công lý là cách thê hiện cơ bản của quyền con người một cách tự nhiên.
Trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc đã tuyên bố rằng “Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyén. Ở bat kì một quốc gia nào trên thế giới, quyền con người đều được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đối với lĩnh vực đời sông dân sự thì các quyền dân sự (theo nghĩa rộng) đều được các quốc gia ghi nhận trong các văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Tuy nhiên, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền dân sự cho cá nhân không thôi thì chưa thực sự có ý nghĩa mà còn phải bảo đảm thực hiện nó trên thực tế.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đầu đã có nhận xét “Mộ quyền lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không đủ đảm bảo cho người có chủ quyên hưởng dụng: quyên lợi có thé bị phủ nhận, bị xâm phạm ” [13, tr36]. Do vậy, đặt ra van đề cần bảo vệ các quyền dân sự khi con người cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Để bảo vệ các quyền dân sự này, pháp luật cần trao cho các chủ thể các quyền năng trước Tòa án dé có thể được phán xử một cách công bằng. Các quyền năng này được trao cho đương sự nhằm chống lại sự lạm quyền, thiên vị hay sai sót của hệ thống Tòa án hoặc tạo điều kiện cho các bên đương sự có cơ hội như nhau trong việc chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, có phương tiện dé chống lại sự thiếu trung thực, gian lận hay thiếu thiện chí của bên đối phương.
Các quyền năng của đương sự được pháp luật trao cho khi tham gia tố tụng trước Tòa án được gọi là quyền tố tụng của đương sự. Vấn đề cốt lõi của việc ghi nhận quyền dân sự là tạo điều kiện để mỗi người được sông trong sự tôn trọng, được bảo vệ trước mọi hành vi vi phạm quyền con người. Mọi chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp hoặc cần ghi nhận các quyền hay tình trạng pháp lý đều được pháp luật trao cho quyền cầu viện hay yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc. Tòa án - cơ quan bảo vệ công lý muốn bảo vệ quyền, lợi ích đó cho các bên thì phải thực hiện theo một trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Trong trình tự té tụng đó có nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau và tùy theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng mà pháp luật cần phải trang bị cho đương sự các quyền năng cụ thé để đương sự có thé sử dụng dé bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Các quyền tố tụng của đương sự được pháp luật ghi nhận có nguồn gốc từ quyền dân sự, đồng thời các quyền tố tụng này lại chính là công cụ hữu hiệu dé bảo đảm thực hiện quyền dân sự trong cuộc sống. Do đó, có thê khang định các quyền tố tụng đối với mỗi đương sự là rất quan trọng và cần thiết cho việc bảo vệ quyền dân sự của mình. Các quyền năng này có thể bao gồm nhóm quyền gắn với sự định đoạt của đương sự như quyền đưa ra yêu cầu tố tụng trước Tòa án (có thé là yêu cầu hay khởi kiện làm phát sinh vụ việc, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập) và quyền thay đổi, bé sung, rút các yêu cầu tố tụng đó; quyền tự hòa giải, tham gia hòa giải; quyền kháng cáo phúc thâm, quyền đề nghị người có thâm quyền kháng nghị giám đốc, tái thâm; khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của Tòa án; nhóm quyền gắn với hoạt động chứng minh, bảo vệ quyền lợi như quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh bảo vệ quyền lợi, quyền yêu cầu chủ thể liên quan cung cấp chứng cứ đề giao nộp cho Tòa 9 án, đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ, quyền được biết, ghi chép, sao chụp chứng cứ, tài liệu của đối phương; nhóm quyền về sự tham gia tố tụng của đương sự như quyền bình dang khi tham gia tố tụng, quyền tham gia phiên tòa, quyền được nhận thông báo tố tụng: quyền tự bảo vệ hay nhờ người khác bảo vệ quyền lợi, quyền có người đại điện tham gia tố tụng; quyền đưa ra câu hỏi, đề xuất với Toa án những vân đề cần hỏi người khác; quyền được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng: quyền tranh luận tại phiên toà; nhóm các quyền về tố tụng khác như yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; yêu cầu Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT; quyền được cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án; đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án.